Thực tiễn

Phát triển ngành xuất bản Việt Nam theo hướng trở thành một ngành công nghiệp văn hóa hiện đại

27/05/2026 15:21

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.7282
Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển ngành xuất bản trong tổng thể chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa; đánh giá thực trạng phát triển của ngành xuất bản Việt Nam hiện nay; từ đó nhận diện những vấn đề đặt ra và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy ngành xuất bản phát triển theo hướng trở thành một ngành công nghiệp văn hóa hiện đại, đáp ứng yêu cầu của bối cảnh mới.

ThS NGUYỄN BÍCH HẠNH
Học viện Hành chính Quản trị công

tapchicongsan.org.vn-documents-20182-430086401-vna_potal_dak_lak_khai_mac_ngay_sach_va_van_hoa_doc_viet_nam_nam_2021_5398038.jpg-_9ed5feb4-6480-4ce6-ba95-93a9cfce3105.jpg
Học sinh tìm hiểu, đọc sách tại Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam_Ảnh: TTXVN.

1. Mở đầu

Xuất bản là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa Việt Nam, đồng thời giữ vai trò đặc biệt trong công tác tư tưởng của Đảng. Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng với sự vận hành của cơ chế thị trường, ngành xuất bản Việt Nam không chỉ thực hiện chức năng chính trị - văn hóa mà còn tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành thị trường sản phẩm văn hóa, góp phần đáp ứng nhu cầu xã hội và tạo ra giá trị kinh tế. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi từ một lĩnh vực mang tính hành chính sang vận hành như một ngành công nghiệp văn hóa của xuất bản Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, thách thức, như các vấn đề về thể chế, chính sách, chất lượng xuất bản phẩm, khả năng thích ứng với môi trường số và thị trường tiêu thụ…

2. Nội dung

2.1. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển ngành xuất bản

Ngay từ thời dựng Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã những ngày đầu thành lập, Đảng đã sử dụng hoạt động xuất bản làm công cụ truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối cách mạng của Đảng và cổ vũ tinh thần yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc của quần chúng nhân dân, với sự ra đời của hàng loạt ấn phẩm báo, tạp chí cách mạng tiểu biểu giai đoạn này: Tranh Đấu (1930), Tạp chí Đỏ, Tạp chí Cộng sản (1930), Tạp chí Bônsơvíc (1934), Tin Tức (1938), Dân Chúng (1938-1939), Việt Nam Độc lập (1941-1945), Cờ Giải Phóng (1942-1945), Cứu Quốc (1942)… và các ấn phẩm sách tiểu biểu như: như các tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trước năm 1945 như: cuốn Lịch sử nước ta (1942); tập thơ Nhật kí trong tù (1943)… Bên cạnh đó, Đảng còn chỉ đạo xuất bản ấn phẩm như: Ngày quốc tế đỏ mồng một tháng Tám (1930) do Ban cổ động và tuyên truyền của Đảng Cộng sản ấn hành (1930); ký sự Ba năm ở Nga Xôviết của Trần Đình Long; truyện ngắn Tình trong tù của Nguyễn Yến (1938); Ngục Kon Tum của Lê Văn Hiến (1938); Vượt ngục của Cựu Kim Sơn (1939); Tự chỉ trích của Nguyễn Văn Cừ (1939)...

Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và đến trước thập niên 1990, hoạt động xuất bản được tổ chức theo hệ thống thống nhất và đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, luôn gắn chặt với nhiệm vụ chính trị - tư tưởng của Đảng chủ yếu thực hiện chức năng tuyên truyền - giáo dục, lấy hiệu quả chính trị - xã hội làm thước đo chủ yếu cho sự phát triển. Các nhà xuất bản cũng lần lượt được thành lập như nhà xuất bản Lao Động (1945), nhà xuất bản Sự thật (1945); nhà xuất bản Văn hóa Cứu quốc… Các ấn phẩm như báo chí cách mạng, tài liệu tuyên truyền, sách lý luận và văn học kháng chiến… được xuất bản không chỉ làm nhiệm vụ phổ biến tri thức mà còn trực tiếp tham gia định hướng nhận thức, cổ vũ tinh thần đấu tranh và huy động sức mạnh toàn dân tộc, phục vụ cho mục tiêu giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Cùng với đường lối đổi mới toàn diện đất nước mở đầu từ Đại hội VI (năm 1986), nhận thức của Đảng về vị trí, chức năng và cơ chế vận hành của hoạt động xuất bản từng bước được điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh mới. Xuất bản từ chủ yếu được nhìn nhận như một công cụ chính trị - tư tưởng, thì trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xuất bản được yêu cầu phải đồng thời thực hiện cả chức năng tư tưởng và chức năng kinh tế.

Sự thay đổi trong nhận thức đó được thể chế hóa bằng việc phân định tương đối rõ giữa báo chí và xuất bản thông qua Luật Báo chí năm 1989 và Luật Xuất bản năm 1993. Đây không chỉ là sự tách biệt về mặt pháp lý giữa hai loại hình thông tin mà còn phản ánh bước chuyển trong tư duy quản lý: từ cơ chế quản lý tập trung, thống nhất sang cơ chế quản lý chuyên biệt theo đặc thù từng lĩnh vực. Theo đó, báo chí tiếp tục giữ vai trò là phương tiện thông tin thời sự, trực tiếp phục vụ công tác tuyên truyền, trong khi xuất bản sách và tài liệu được xác lập là một lĩnh vực vừa mang tính văn hóa - tư tưởng, vừa có tính chất sản xuất, kinh doanh.

Luật Xuất bản năm 1993 lần đầu tiên ghi nhận hoạt động xuất bản như một hoạt động kinh doanh bên cạnh vai trò là công cụ chính trị - tư tưởng và đề cập đến những vấn đề về kinh doanh xuất bản phẩm của nhà xuất bản, các tổ chức và cá nhân, yêu cầu các chủ thể tham gia phải từng bước vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước.

Xu hướng này tiếp tục được khẳng định và hoàn thiện qua các lần sửa đổi Luật Xuất bản năm 2004 và năm 2012, phản ánh quá trình điều chỉnh chính sách nhằm thích ứng với thực tiễn phát triển của ngành xuất bản và yêu cầu hội nhập quốc tế.

Định hướng xây dựng ngành xuất bản chuyên nghiệp, mang tính chất công nghiệp được đánh dấu bằng Chỉ thị số 42 - CT/TW ngày 25/8/2004 của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản. Đây là một dấu mốc quan trọng trong quá trình định vị xuất bản như một ngành công nghiệp với yêu cầu phát triển xuất bản theo hướng vừa thực hiện chức năng tư tưởng, vừa thực hiện chức năng kinh doanh của một ngành kinh tế - công nghệ. Chỉ thị không chỉ nhấn mạnh chức năng “kép” của hoạt động xuất bản, mà còn thể hiện sự chuyển dịch trong tư duy quản lý: từ chỗ coi xuất bản chủ yếu là công cụ phục vụ nhiệm vụ chính trị sang tiếp cận như một lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị kinh tế trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đặc biệt, việc Chỉ thị nhấn mạnh yêu cầu “thực hiện tốt nhiệm vụ kinh doanh, xây dựng ngành xuất bản thành một ngành kinh tế - công nghệ phát triển toàn diện, vững chắc” (Ban Bí thư, 2004) đã cho thấy sự phát triển trong nhận thức của Đảng không chỉ thừa nhận yếu tố kinh tế như một thuộc tính bổ trợ, mà bắt đầu coi đây là một cấu phần nội tại của sự phát triển ngành. Điều này đặt nền tảng cho việc chuyển đổi từ mô hình xuất bản mang tính hành chính - bao cấp sang mô hình có tính tự chủ cao hơn, gắn với hiệu quả và sức cạnh tranh.

Chỉ thị cũng chỉ rõ nhiệm vụ: “xây dựng các mô hình và cơ cấu mới phù hợp với sự phát triển của công nghiệp xuất bản hiện đại: thí điểm xây dựng các tập đoàn xuất bản, tổ hợp xuất bản - báo chí, nghiên cứu hoàn chỉnh mô hình doanh nghiệp làm nhiệm vụ xuất bản” (Ban Bí thư, 2004) . Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy quản lý theo đơn vị hành chính sang tư duy tổ chức theo chuỗi giá trị, nơi các khâu biên tập -in ấn - phát hành được liên kết chặt chẽ nhằm tối ưu hóa hiệu quả hoạt động. Đồng thời, việc thí điểm các mô hình này cũng cho thấy nỗ lực tìm kiếm một cấu trúc tổ chức phù hợp để ngành xuất bản có thể thích ứng bối cảnh thị trường cạnh tranh và tiến trình hội nhập.

Tiếp theo, xuất bản được xác định là một trong các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam ưu tiên phát triển: Nghị quyết số 33 - NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã đặt ra mục tiêu: “đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa” (Ban Chấp hành Trung ương, 2014) nhằm khai thác, phát huy tiềm năng, thế mạnh và những giá trị đặc sắc của kho tàng văn hóa dân tộc, đồng thời “tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam” thông qua xuất khẩu các sản phẩm văn hóa. Xuất bản được coi là một trong 12 ngành công nghiệp văn hóa mà Việt Nam ưu tiên phát triển trong giai đoạn 2016 -2025 (Thủ tướng Chính phủ, 2016). và là một trong 10 ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam ưu tiên phát triển trong giai đoạn hiện nay (Thủ tướng Chính phủ, 2025). Khi xuất bản được định vị là một ngành công nghiệp văn hóa - “những ngành tạo ra các sản phẩm kết hợp yếu tố văn hóa, sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ văn hóa của người dân và phù hợp với mục tiêu hội nhập quốc tế, phát triển bền vững đất nước” (Thủ tướng Chính phủ, 2025). đã tiếp tục khẳng định xuất bản không chỉ là một hoạt động của công tác tư tưởng mà còn là một ngành kinh tế có sự kết hợp giữa các yếu tố văn hóa, sáng tạo với khoa học công nghệ và được vận hành theo quy trình một ngành công nghiệp từ sáng tạo - sản xuất - phân phối/phát hành. Sự phát triển của ngành xuất bản phụ thuộc vào cơ chế thị trường; sự đổi mới, ứng dụng khoa học công nghệ và nhu cầu của độc giả - người tiêu dùng sản phẩm.

Như vậy, từ chỗ là lĩnh vực chủ yếu phục vụ nhiệm vụ chính trị - tư tưởng hoạt động theo mô hình hành chính - bao cấp, xuất bản đã được bổ sung định hướng phát triển trở thành một ngành công nghiệp văn hóa hiện đại, giàu bản sắc nhằm phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, gắn với chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, vừa đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân vừa đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, chủ trương này triển khai trong thực tiễn vẫn còn nhiều hạn chế, thách thức.

2.2. Thực trạng và một số vấn đề đặt ra trong phát triển ngành xuất bản Việt Nam

Từ khi Chỉ thị 42 ra đời đến nay, ngành xuất bản Việt Nam có bước phát triển toàn diện: Số lượng nhà xuất bản được giữ vững, hoạt động tương đối ổn định: Năm 2005, cả nước có 52 nhà xuất bản, năm 2023, tăng lên 57 nhà xuất bản. Trong đó, nhiều nhà xuất bản hoạt động kinh doanh hiệu quả, đạt doanh thu hàng trăm tỷ đồng/năm, như Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Nhà xuất bản Kim Đồng, Nhà xuất bản Tài nguyên - Môi trường và Bản đồ Việt Nam, Nhà xuất bản Trẻ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật… Quy mô sản xuất và doanh thu của ngành xuất bản có sự tăng trưởng qua các năm:

Bảng: Quy mô sản xuất và doanh thu toàn ngành xuất bản

NămSố đầu sáchSố bản inDoanh thu
(Đơn vị: Tỷ đồng)
201831.766390.161.4462.506,39
201933.000400.000.0002.600
202337.487536.179.1314.105,350
202451.443597.182.8614.500

Nguồn: Kết quả tổng hợp của tác giả (Tần Tần, 2020; Phạm Văn Phê, 2026; Hồ Lam, 2025).

Hoạt động xuất nhập khẩu sách và hợp tác quốc tế về xuất bản được chú trọng và có sự phát triển. Thị trường sách được mở rộng ra nhiều quốc gia như: Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore… Đóng góp của ngành xuất bản vào ngân sách nhà nước cũng có sự gia tăng: năm 2019 là 165.412 tỷ đồng; năm 2023 tăng lên 383,484 tỷ đồng (Phạm Văn Phê, 2026).

Quá trình ứng dụng công nghệ hiện đại và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trong tất cả các khâu của ngành xuất bản: tính đến 31/12/2023, có 24/57 nhà xuất bản được xác nhận tham gia xuất bản xuất bản phẩm điện tử (tăng 26,3% so với cùng kỳ năm trước), tỷ lệ xuất bản phẩm điện tử trong tổng số xuất bản phẩm là 15,3% (Phạm Văn Phê, 2026).

Các nhà xuất bản đã xây dựng được 4 nền tảng xuất bản điện tử dùng chung như: Ebook365.vn, Book365.vn, sachdientu.vn…, bên cạnh đó còn có những nền tảng riêng của các nhà xuất bản. Công nghệ trí tuệ nhân tạo AI và Big data đã bước đầu được ứng dụng để phân tích hành vi đọc của độc giả, cá nhân hóa gợi ý sách và ứng dụng vào công tác biên tập và dịch thuật. Các loại ấn phẩm điện tử xuất hiện ngày càng đa dạng như ebook, audiobook, sách đa phương tiện, học liệu trực tuyến, sách giáo khoa trực tuyến… với nhiều nền tảng phân phối, phát hành sách điện tử hiện đại, chuyên nghiệp xuất hiện, như Waka, Fonos, Vbooks… Số lượng ấn phẩm điện tử và doanh thu xuất bản điện tử tăng dần qua các năm. Thói quen đọc sách điện tử, nghe sách nói và khai thác học liệu trực tuyến đã trở nên phổ biến trong xã hội Việt Nam, nhất là trong giới trẻ.

Tình hình trên cho thấy, ngành xuất bản Việt Nam hiện nay đang phát triển theo hướng mở rộng quy mô, tăng trưởng nhanh về doanh thu và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, từng bước hình thành thị trường xuất bản mang tính công nghiệp. Tuy nhiên, quy mô phát triển của ngành xuất bản Việt Nam được đánh giá vẫn còn khá khiêm tốn, doanh thu của cả ngành hiện nay chưa bằng doanh thu của một doanh nghiệp quy mô tầm trung của cả nước chứ chưa nói đến tầm cỡ khu vực và thế giới (Nguyễn Mạnh Hùng, 2024); doanh thu của toàn ngành xuất bản Việt Nam còn khá khiêm tốn so với các nước trong khu vực Đông Nam Á và châu Á, doanh thu bán sách của Việt Nam chỉ bằng 1/4 của Malaixia, bằng 1/5 của Thái Lan và chỉ bằng 1/52 của Hàn Quốc (Trinh Nguyễn, 2023). Doanh thu ngành xuất bản chủ yếu tập trung vào sách giáo khoa và sách tham khảo, chiếm hơn một nửa tổng doanh thu toàn ngành, trong khi các dòng sách văn hóa, khoa học và học thuật vẫn phát triển chậm. Doanh thu xuất bản phẩm điện tử còn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng doanh thu ngành. Chất lượng xuất bản phẩm còn hạn chế, chưa có nhiều tác phẩm gây ấn tượng, các sách bán chạy thường là mua bản quyền sách best seller của nước ngoài… Bên cạnh đó, hoạt động của ngành xuất bản hiện nay đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như:

Thể chế, chính sách xuất bản còn hạn chế: khung pháp lý hiện hành, điển hình là Luật Xuất bản năm 2012 được xây dựng trong bối cảnh xuất bản in còn giữ vai trò chủ đạo nên chưa theo kịp sự vận động nhanh chóng của xuất bản trong môi trường số với sự xuất hiện của các mô hình mới, như nền tảng đọc thuê bao, sách nói trực tuyến, tự xuất bản hay phát hành xuyên biên giới, sự xuất hiện của các doanh nghiệp tham gia sản xuất nội dung nhưng không phải đơn vị xuất bản… đã làm nảy sinh những khoảng trống pháp lý, đặc biệt trong quản lý nội dung, trách nhiệm biên tập và kiểm soát chất lượng. Đồng thời, tình trạng vi phạm bản quyền trong môi trường số diễn ra phổ biến nhưng chưa có chế tài đủ mạnh để xử lý, làm suy giảm động lực sáng tạo và đầu tư nội dung.

Hạ tầng kỹ thuật công nghệ và mức độ chuyển đổi số còn thấp và thiếu đồng bộ, ngành xuất bản chưa hình thành được một hệ sinh thái số hoàn chỉnh, chưa có cơ sở dữ liệu ngành thống nhất, chưa hình thành kho dữ liệu nội dung số quốc gia và khả năng liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị xuất bản. Các nền tảng phát hành điện tử còn phân tán, quy mô nhỏ lẻ, trong khi quy trình sản xuất nội dung số ở nhiều nhà xuất bản vẫn mang tính thủ công, chưa chuyển sang tư duy “digital-first”. Tỷ lệ xuất bản phẩm điện tử vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng xuất bản phẩm. Việc ứng dụng công nghệ mới, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo trong quy trình xuất bản còn hạn chế; đồng thời, thiếu hụt nguồn nhân lực công nghệ và hạ tầng bảo vệ bản quyền số đang làm giảm hiệu quả khai thác tài nguyên nội dung và năng lực cạnh tranh của toàn ngành.

Chất lượng xuất bản phẩm còn hạn chế: mặc dù đã có cải thiện những năm gần đây, nhưng chất lượng xuất bản phẩm của ngành xuất bản Việt Nam vẫn bị đánh giá là còn hạn chế: Số lượng đầu sách xuất bản tăng mạnh nhưng chất lượng còn hạn chế, không có nhiều tựa sách để lại dấu ấn trong lòng bạn đọc, “Không phải chúng ta thiếu những giá trị đỉnh cao mà ta đã tạo ra quá nhiều thứ vô bổ”, chưa có nhiều sách có giá trị tư tưởng lan tỏa; sự phát triển xuất bản phẩm giữa các lĩnh vực chưa đồng đều, còn thiếu các sách học thuật, sách khoa học, sách công nghệ... (Hồ Lam, 2025). Bên cạnh đó, xu hướng chạy theo thị hiếu thị trường, thiên về giải trí đơn giản, hiện tượng trùng lặp đề tài, khai thác nội dung cũ vẫn phổ biến và tình trạng sai sót trong sách dịch và hạn chế, sai sót trong công tác biên tập… đã ảnh hưởng đến uy tín và chất lượng chung của ngành. Có những xuất bản phẩm có nội dung vi phạm đến mức bị nhắc nhở, xử lý về mặt quản lý hành chính nhà nước, năm 2023, Cục Xuất bản, In, Phát hành đã xử lý 25 xuất bản phẩm vi phạm, trong đó, 21 xuất bản phẩm có vi phạm về nội dung (Vũ Thùy Dương, 2025). Đáng chú ý, bản sắc văn hóa và tri thức Việt Nam chưa được khai thác tương xứng, khiến xuất bản phẩm chưa thực sự trở thành phương tiện quan trọng để lan tỏa giá trị văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa, các đầu sách thu hút được độc giả thường là các sách dịch về đề tài phát triển bản thân, kỹ năng sống…

Văn hóa đọc ở Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: Thói quen đọc sách chưa trở thành nhu cầu thường xuyên của đông đảo người dân. Việc đọc chủ yếu tập trung vào nhóm học sinh, sinh viên, tầng lớp trí thức với mục đích phục vụ học tập, thi cử và công việc trong khi hoạt động đọc tự nguyện của người trưởng thành còn hạn chế. Theo Nop World Culture Score index, thời gian đọc sách của người Việt trung bình chỉ 1 giờ/1 người/1 tuần, rất thấp so với Trung Quốc - quốc gia đứng vị trí thứ 3 về tốc độ phát triển văn hóa đọc với trung bình 8 giờ/1 người/1 tuần và Ấn Độ - quốc gia có văn hóa đọc phát triển với tốc độ cao nhất với trung bình là 11 giờ/ 1 người/ 1 tuần. Tỷ lệ đọc sách của người Việt Nam ở mức thấp, chỉ 30% người đọc sách thường xuyên, 44% thi thoảng đọc sách, có tới 26% người dân hoàn toàn không đọc sách (Bùi Minh Cường, 2025). Mức chi tiêu của các gia đình cho sách còn thấp. Bên cạnh đó, sự chênh lệch về điều kiện tiếp cận sách giữa các vùng miền và nhóm xã hội vẫn còn rõ nét, cho thấy văn hóa đọc chưa phát triển đồng đều và bền vững. Đây không chỉ là thách thức của riêng ngành xuất bản mà còn là vấn đề mang tính xã hội, ảnh hưởng lâu dài đến việc hình thành một nền tảng tri thức và năng lực sáng tạo quốc gia.

2.3. Một số giải pháp phát triển ngành công nghiệp xuất bản Việt Nam

Để hiện thực hóa định hướng phát triển xuất bản trở thành ngành công nghiệp văn hóa hiện đại cần tập trung thực hiện một số vấn đề sau:

Thứ nhất, xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý và mô hình quản lý xuất bản hiện đại, cần tập trung trước hết như: sửa đổi, bổ sung Luật Xuất bản 2012 theo hướng làm rõ phạm vi điều chỉnh đối với xuất bản điện tử, bản quyền số và liên kết xuyên biên giới. Đồng thời, cần xây dựng chiến lược phát triển ngành xuất bản đến năm 2030, tầm nhìn 2045, từng bước hình thành mô hình kép, gồm các nhà xuất bản thực hiện nhiệm vụ chính trị và các tập đoàn xuất bản - truyền thông có năng lực cạnh tranh quốc tế. Bên cạnh đó, xây dựng, triển khai các chính sách ưu đãi về thuế, khuyến khích các nhà xuất bản ứng dụng công nghệ và mở rộng thị trường quốc tế. Có thể tham khảo kinh nghiệm xây dựng thể chế của các quốc gia có nền xuất bản phát triển như Pháp, Anh, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc…

Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng kỹ thuật công nghệ hiện đại và chuyển đổi số trong lĩnh vực xuất bản

Xuất bản số đang được xem là “mỏ vàng” của thị trường toàn cầu với doanh thu ước khoảng 120 tỷ USD/năm. Ở Việt Nam, với quy mô dân số hơn 100 triệu người là dư địa để ngành xuất bản có thể đạt khoảng 20.000 tỷ đồng/năm, nhưng doanh thu năm 2024 mới chỉ hơn 4.500 tỷ đồng. Khoảng chênh lệch này cho thấy tiềm năng phát triển vẫn còn rất lớn và chưa được khai thác tương xứng. Bên cạnh đó, Việt Nam là nước có tỷ lệ người dùng internet cao thứ 12 thế giới, xếp thứ 6/35 quốc gia châu Á, tỷ lệ kết nối di động ở Việt Nam năm 2024 là 168,5 triệu kết nối…(Trần Chí Đạt, 2025). Đây là những điều kiện rất thuận lợi về thị trường cho xuất bản số Việt Nam phát triển.

Để bắt kịp với trình độ khoa học công nghệ của nền xuất bản thế giới trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, xuất bản Việt Nam cần từng bước tiếp thu và làm chủ những kỹ thuật công nghệ xuất bản hiện đại như: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo trong xuất bản để biên tập tự động, gợi ý nội dung, cá nhân hóa trải nghiệm đọc, dịch thuật tự động và phân tích thị trường. Ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn (Big Data) và phân tích hành vi người đọc. Các nền tảng xuất bản quốc tế sử dụng dữ liệu để dự đoán xu hướng, tối ưu nội dung, thiết kế sách theo nhu cầu thị trường. Đẩy mạnh sử dụng công nghệ DRM và blockchain bảo vệ bản quyền số. Công nghệ này giúp kiểm soát phân phối nội dung, chống sao chép trái phép, bảo đảm doanh thu cho nhà xuất bản. Tại Mỹ, các nền tảng xuất bản điện tử đã sử dụng công nghệ DRM để bảo vệ bản quyền giúp giảm khoảng 80% các hành vi vi phạm bản quyền. Việt Nam cần xây dựng các nền tảng phân phối ấn phẩm điện tử toàn cầu tương tự như các hệ sinh thái Kindle, Kobo, Apple Book…

Đặc biệt là cần đổi mới tư duy phát triển xuất bản, chuyển từ xuất bản truyền thống sang xuất bản số không chỉ là đổi mới kỹ thuật mà còn là thay đổi căn bản tư duy nghề nghiệp: từ sản xuất ấn phẩm sang phát triển nội dung; từ truyền thông một chiều sang tương tác đa chiều giữa nhà xuất bản, tác giả và độc giả. Trong quá trình đó, công nghệ giữ vai trò động lực, con người là trung tâm, còn tri thức và bản lĩnh chính trị là nền tảng. Vì vậy, cần đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực công nghệ xuất bản hiện đại, có khả năng làm chủ, kiến tạo hệ sinh thái xuất bản số hiện đại của Việt Nam, hội nhập cùng thế giới.

Thứ ba, nâng cao chất lượng xuất bản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của độc giả: để xây dựng ngành xuất bản trở thành một ngành công nghiệp nội dung hiện đại, xuất bản Việt Nam cần tiếp biến các nội dung, các giá trị của văn hóa nhân loại, đồng thời cần phát huy giá trị, bản sắc, các yếu tố nội sinh để tạo ra hệ thống xuất bản phẩm có chất lượng cao, hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế. Để làm được điều đó, ngành xuất bản Việt Nam cần chú ý một số vấn đề như: Cần đổi mới tư duy làm xuất bản theo hướng lấy chất lượng nội dung xuất bản phẩm là giá trị cốt lõi, là những giá trị trung tâm, cung cấp tri thức khoa học cho nhiều lĩnh vực. Lựa chọn đề tài cần gắn với nhu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh hiện đại. Mỗi nhà xuất bản cần đóng vai trò là bộ lọc để lựa chọn ra những bản thảo có giá trị đích thực, loại bỏ những “thứ vô bổ”, không phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, không có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Bên cạnh việc mua bản quyền sách nước ngoài, cần phát triển đội ngũ sáng tạo nội dung trong nước có chất lượng cao. Đồng thời, cần khuyến khích, ưu tiên xuất bản những công trình nghiên cứu chuyên sâu, tác phẩm có giá trị học thuật và tư tưởng. Tăng cường liên kết giữa nhà xuất bản với các viện nghiên cứu, trường đại học, nhà văn, chuyên gia. Khuyến khích tác giả trẻ khai thác đề tài văn hóa Việt Nam từ góc nhìn mới. Đồng thời, xây dựng cơ chế hỗ trợ xuất bản các công trình có giá trị lâu dài, không chỉ dựa trên lợi nhuận ngắn hạn. Tuân thủ, thực hiện nghiêm túc các bước trong quy trình xuất bản, đặc biệt là nâng cao chất lượng biên tập và thẩm định bản thảo. Xây dựng quy trình biên tập chặt chẽ, áp dụng công nghệ hỗ trợ biên tập nội dung bảo đảm bản thảo sau khi biên tập, gia công, sửa chữa trở thành một tác phẩm hoàn thiện về nội dung và hình thức, không còn những sai sót, nhất là những sai sót về tư tưởng, chính trị.

Thứ tư, đẩy mạnh phát triển văn hóa đọc trong nhân dân: Gắn phát triển ngành công nghiệp xuất bản với phát triển văn hóa đọc trong xã hội nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng xã hội tri thức, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Cần khắc phục tình trạng đọc mang tính phong trào, từng bước hình thành thói quen đọc bền vững thông qua sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc tạo dựng môi trường văn hóa đọc. Nâng cao chất lượng nội dung xuất bản phẩm theo hướng đáp ứng nhu cầu đa dạng của công chúng nhưng vẫn bảo đảm giá trị tri thức, tránh xu hướng chạy theo thị hiếu ngắn hạn làm suy giảm chất lượng văn hóa đọc. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh phát triển hạ tầng đọc, đặc biệt là hệ thống thư viện và hạ tầng số với các nền tảng đọc trực tuyến, thiết bị đọc chuyên dụng, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận của người đọc. Đồng thời, tăng cường liên kết giữa giáo dục và văn hóa đọc, khuyến khích đọc tự do, sáng tạo, phát triển các cộng đồng đọc sách cả trực tiếp và trực tuyến, đa dạng hóa các hình thức tổ chức “Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam” nhằm lan tỏa thói quen đọc trong không gian số và đời sống xã hội.

3. Kết luận

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, việc phát triển ngành xuất bản theo hướng công nghiệp văn hóa đã trở thành một yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng nhu cầu tiếp nhận tri thức, hưởng thụ văn hóa ngày càng đa dạng và đòi hỏi chất lượng cao của công chúng. Để phát triển xuất bản trở thành ngành kinh tế - công nghệ, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp và huy động nhiều nguồn lực, trong đó cần tập trung giải quyết những vấn đề hạn chế, thách thức về thể chế, chính sách, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số, nâng cao chất lượng xuất bản phẩm và xây dựng văn hóa đọc trong công chúng.

_________________

Ngày nhận 4/5/2026; Ngày bình duyệt: 8/5/2026; Ngày quyết định đăng: 11/5/2026. Email tác giả: nbhanhdhnv@gmail.com

Ban Bí Thư (2004). Chỉ thị số 42 - CT/TW ngày 25/8/2004 về nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản.

Ban Chấp hành Trung ương (2014). Nghị quyết số 33 - NQ/TW ngày 09/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Bùi Minh Cường (2025). Chất lượng xuất bản sách khoa học - kỹ thuật và những thách thức mới, Kỷ yếu hội thảo “Nâng cao chất lượng toàn diện xuất bản phẩm trong tình hình mới”. Nxb Thông tin và Truyền thông.

Hồ Lam (22/04/2025). Hơn 50.000 tựa sách xuất bản trong năm 2024 nhưng ít cuốn ghi dấu ấn với độc giả. https://tuoitre.vn.

Nguyễn Mạnh Hùng (22/3/2024). Tổng quan thị trường xuất bản toàn cầu 5 năm qua. https://znews.vn.

Phạm Văn Phê (2026). Ngành Xuất bản Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập, chuyển đổi số: Cơ hội và thách thức. Tạp chí Văn hóa nghệ thuật. số 633, tháng 2-2026

Thủ tướng Chính phủ (2016). Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 08/09/2016 về phê duyệt chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

Thủ tướng chính phủ (2025). Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 về phê duyệt chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 về phê duyệt chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Tần Tần (3/1/2020). Năm 2019, xuất bản 400 triệu bản sách, doanh thu 2.600 tỷ đồng. https://znews.vn.

Trần Chí Đạt (2025). Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến chất lượng xuất bản phẩm ở Việt Nam. Kỷ yếu hội thảo “Nâng cao chất lượng toàn diện xuát bản phẩm trong tình hình mới, Nxb. Thông tin và Truyền thông.

Trinh Nguyễn (13/07/2023). Phát triển xuất bản theo hướng công nghiệp văn hóa. https://thanhnien.vn.

Vũ Thùy Dương (2025). Thương mại hóa trong nội dung xuất bản phẩm ở Việt Nam hiện nay và vấn đề đặt ra. Kỷ yếu hội thảo “Nâng cao chất lượng toàn diện xuát bản phẩm trong tình hình mới. Nxb Thông tin và Truyền thông.