Bảo đảm quyền của viên chức trong hoạt động nghề nghiệp và kinh doanh - bước chuyển trong tư duy xây dựng pháp luật
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5652
Tóm tắt: Luật Viên chức năm 2025 quy định quyền và nghĩa vụ của viên chức trong thực hiện hoạt động nghề nghiệp và hoạt động kinh doanh. Việc mở rộng quyền tự do trong nghề nghiệp thể hiện sự chuyển dịch quan trọng trong tư duy pháp luật về quản trị nguồn nhân lực khu vực công từ mô hình quản lý mang tính hạn chế sang mô hình quản trị dựa trên nguyên tắc bảo đảm quyền và phát huy năng lực sáng tạo của chủ thể. Bài viết phân tích điểm mới của Luật Viên chức năm 2025 về quyền của viên chức trong hoạt động nghề nghiệp, kinh doanh, từ đó đề xuất một số kiến nghị góp phần thúc đẩy việc triển khai Luật trong thực tiễn.
ThS ĐẶNG QUỲNH TRANG
Học viện Hành chính và Quản trị công

1. Mở đầu
Thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, việc ban hành Luật Viên chức năm 2025 đã đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong chính sách, pháp luật đối với đội ngũ viên chức. So với Luật Viên chức năm 2010, Luật Viên chức năm 2025 thể hiện sự chuyển biến rõ nét trong tư duy lập pháp theo hướng mở rộng không gian pháp lý để viên chức thực hiện quyền hoạt động nghề nghiệp và tham gia các hoạt động kinh doanh hợp pháp, đồng thời bảo đảm cơ chế kiểm soát chặt chẽ để “không xung đột lợi ích theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, không trái với thỏa thuận làm việc và không vi phạm đạo đức nghề nghiệp” (Quốc hội, 2025).
Trong bối cảnh hệ thống pháp luật Việt Nam đang tiếp tục được đổi mới và hoàn thiện, việc nghiên cứu một cách hệ thống các quy định pháp luật về bảo đảm quyền thực hiện hoạt động nghề nghiệp và hoạt động kinh doanh của viên chức trở thành yêu cầu có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Việc làm rõ nội hàm các quyền cũng như bảo đảm kiểm soát phù hợp trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chuyển đổi số khu vực công có ý nghĩa quan trọng nhằm tìm ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về viên chức. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị nhân lực trong các đơn vị sự nghiệp công lập, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
2. Nội dung
2.1. Thực trạng nguồn nhân lực viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập
Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập, giữ vai trò nòng cốt bảo đảm cung ứng các dịch vụ công thiết yếu trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế, khoa học - công nghệ, văn hóa và an sinh xã hội. Theo Quyết định số 71-QĐ/TW ngày 18/7/2022 của Bộ chính trị về tổng biên chế của hệ thống chính trị giai đoạn 2022 - 2026, tổng số biến chế đến hết năm 2026 là 2.234.720 người (không bao gồm lực lượng công an, quân đội và người hoạt động chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố), trong đó có 1.680.677 viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Ban Chấp hành Trung ương, 2022). Như vậy, đội ngũ viên chức chiếm khoảng 75,2% tổng số biên chế hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong hệ thống chính trị, cho thấy vị trí đặc biệt quan trọng của lực lượng này.
Tuy nhiên, nguồn nhân lực viên chức những năm gần đây có xu hướng biến động theo chiều hướng gia tăng dịch chuyển sang khu vực ngoài công lập. Tính đến ngày 15/7/2025 có 85.447 cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị nghỉ việc theo chính sách hỗ trợ do sắp xếp tổ chức bộ máy theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP ngày 31/12/2024 của Chính phủ về chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 67/2025/NĐ-CP ngày 15/3/2025) (Nguyễn Thảo & Đức Minh, 2025). Đến ngày 30/6/2025, có 43.207 trường hợp đã nghỉ việc trong diện cơ cấu lại tổ chức (Ngân Anh, 2025). Những số liệu trên phản ánh rõ tác động của quá trình tinh gọn bộ máy, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị, đồng thời cho thấy biến động nhân sự khu vực sự nghiệp công lập hiện nay chủ yếu xuất phát từ yêu cầu tinh gọn bộ máy và cơ cấu lại đội ngũ viên chức, thay vì xu hướng nghỉ việc tự nguyện như giai đoạn 2020 - 2022.
Ở phạm vi địa phương, sự biến động nhân lực cũng diễn ra tương đối rõ nét tại các đô thị lớn. Trong các năm 2020 - 2023, Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận 9.470 cán bộ, công chức, viên chức nghỉ việc (Hồ Văn, 2025). Số lượng viên chức nghỉ việc lớn, một trong những nguyên nhân chủ yếu là do thu nhập không tương xứng với sức lao động, công việc áp lực, môi trường làm việc và cơ hội phát triển nghề nghiệp ít… Biến động nhân lực viên chức còn chịu tác động đáng kể từ quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và đổi mới cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập. Việc triển khai các nghị quyết về tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị đã dẫn đến việc cơ cấu lại đội ngũ viên chức theo hướng giảm số lượng, nâng cao chất lượng, đồng thời từng bước chuyển một bộ phận viên chức sang cơ chế hợp đồng hoặc ra khỏi khu vực hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Như vậy, một bộ phận viên chức nghỉ việc không hoàn toàn xuất phát từ yếu tố cá nhân mà gắn với quá trình tái cấu trúc khu vực sự nghiệp công lập, đặc biệt tại các đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ tài chính hoặc sáp nhập, tổ chức lại theo mô hình mới. Điều này cho thấy, biến động nguồn nhân lực viên chức hiện nay không chỉ là hiện tượng dịch chuyển lao động đơn thuần, mà còn phản ánh xu hướng chuyển đổi mô hình quản trị khu vực sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn, hiệu quả và phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật về quyền hoạt động nghề nghiệp của viên chức có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo lập cơ chế để phát huy hiệu quả nguồn nhân lực khu vực sự nghiệp công lập.
2.2. Một số điểm mới của Luật Viên chức năm 2025 về quyền của viên chức trong hoạt động nghề nghiệp và kinh doanh
Luật Viên chức năm 2025 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 thay thế Luật Viên chức năm 2010 với những thay đổi đột phá tập trung vào việc mở rộng quyền kinh doanh, cho phép viên chức được ký hợp đồng lao động với đơn vị khác nếu pháp luật về ngành, lĩnh vực không cấm, bảo đảm không xung đột lợi ích, đổi mới tuyển dụng và số hóa hồ sơ. Luật Viên chức năm 2025 tập trung phát triển đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, trách nhiệm cao và tăng tính chủ động cho viên chức.
Thứ nhất, về khái niệm viên chức, phạm vi hoạt động và nguồn thu nhập
Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” (Quốc hội, 2010); Điều 1 Luật viên chức năm 2025 quy định: “Viên chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập và từ các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật” (Quốc hội, 2025).
Sự thay đổi này cho thấy, khái niệm viên chức năm 2025 đã mở rộng nguồn thu nhập của viên chức, từ chỗ chỉ giới hạn trong quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập sang phạm vi rộng hơn là quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập “và từ các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật”. Điều chỉnh này phản ánh thay đổi trong tư duy pháp luật, tăng cường quyền tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời tạo cơ sở pháp lý linh hoạt trong việc đa dạng hóa nguồn thu nhập của viên chức trong bối cảnh thực hiện đổi mới hoạt động của khu vực sự nghiệp công lập hiện nay. Khái niệm mới không chỉ góp phần nâng cao tính chủ động của đơn vị sự nghiệp công lập trong quản trị nhân lực, mà còn tạo điều kiện để viên chức mở rộng phạm vi tham gia các hoạt động nghề nghiệp hợp pháp phù hợp với chuyên môn, năng lực và nhu cầu của xã hội, qua đó từng bước tiệm cận với mô hình quản trị nhân lực công hiện đại theo hướng hiệu quả và cạnh tranh hơn.
Thứ hai, về quyền của viên chức
Luật Viên chức năm 2025 mở rộng đáng kể phạm vi quyền hoạt động nghề nghiệp của viên chức ngoài đơn vị sự nghiệp công lập. Khoản 1 Điều 13 cho phép viên chức được ký hợp đồng lao động hoặc hợp đồng dịch vụ với cơ quan, tổ chức, đơn vị khác nếu pháp luật về ngành hay lĩnh vực không cấm, bảo đảm không xung đột lợi ích theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Ngoài ra, viên chức còn được hành nghề với tư cách cá nhân, không chỉ được góp vốn mà còn được tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã, bệnh viện, cơ sở giáo dục, tổ chức nghiên cứu khoa học ngoài công lập v.v… trong điều kiện phải tuân thủ pháp luật (Quốc hội, 2025).
Đây là điểm đột phá trong Luật Viên chức năm 2025, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường tính linh hoạt trong quản trị nhân lực khu vực sự nghiệp công lập. Quy định mới góp phần tạo điều kiện để viên chức chủ động nâng cao thu nhập hợp pháp, phát triển năng lực chuyên môn, đồng thời thúc đẩy sự giao thoa kinh nghiệm giữa khu vực công và khu vực tư, qua đó nâng cao chất lượng dịch vụ công trong bối cảnh hiện nay.
Từ quy định này, bác sĩ là viên chức tại bệnh viện công lập có thể tham gia điều hành phòng khám tư nhân nếu không vi phạm quy định về xung đột lợi ích theo pháp luật hiện hành. Tương tự, trong lĩnh vực giáo dục đại học, giảng viên là viên chức tại các trường công lập có thể tham gia điều hành doanh nghiệp về giáo dục hay tổ chức nghiên cứu khoa học ngoài công lập v.v.. Những cơ hội này trước đây đều bị hạn chế trong khuôn khổ pháp lý của Luật Viên chức năm 2010. Tuy nhiên, việc mở rộng quyền hoạt động nghề nghiệp của viên chức cũng đặt ra yêu cầu hoàn thiện đồng bộ các quy định về kiểm soát xung đột lợi ích, trách nhiệm giải trình và việc quản lý hoạt động ngoài đơn vị sự nghiệp công lập nhằm bảo đảm sự minh bạch và hiệu quả trong quản trị đội ngũ viên chức trong giai đoạn hiện nay.
Thứ ba, về tiêu chí đánh giá viên chức
Luật Viên chức năm 2025 bổ sung những nội dung mới trong đánh giá viên chức theo hướng chú trọng năng lực đổi mới, sáng tạo, tinh thần dám nghĩ, dám làm và trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ. Khoản 3 Điều 25 đưa các tiêu chí về năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng thích ứng với yêu cầu phát triển mới và tinh thần chủ động trong thực hiện nhiệm vụ vào nội dung đánh giá viên chức (Quốc hội, 2025). Đây là điểm mới quan trọng so với Luật Viên chức năm 2010 vốn chỉ tập trung vào mức độ hoàn thành nhiệm vụ và chấp hành kỷ luật công vụ. Việc bổ sung các tiêu chí này thể hiện sự tiếp cận mới trong tư duy lập pháp về quản trị nhân lực khu vực sự nghiệp công lập, phù hợp với định hướng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung” theo tinh thần của Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29/9/2023 của Chính phủ quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung (Chính phủ, 2023). Qua đó, góp phần chuyển đổi mô hình đánh giá viên chức từ cách tiếp cận thiên về quản lý hành chính sang cách tiếp cận dựa trên năng lực, hiệu quả và giá trị sáng tạo trong thực thi nhiệm vụ.
2.3. Ý nghĩa, giá trị của các quy định về quyền của viên chức trong hoạt động nghề nghiệp, kinh doanh
Thứ nhất, đổi mới tư duy lập pháp
Việc ban hành Luật Viên chức năm 2025 phản ánh bước chuyển quan trọng về tư duy lập pháp và quản lý nhà nước, từ mô hình quản lý hành chính thuần túy sang mô hình quản trị quốc gia hiện đại, kiến tạo phát triển và phục vụ nhân dân.
Điểm nhấn quan trọng của quá trình đổi mới này là sự thay đổi căn bản trong cách tiếp cận xây dựng pháp luật. Nếu như trước đây, tư duy “không quản được thì cấm” tồn tại ở một số lĩnh vực, dẫn đến tình trạng pháp luật mang nặng tính kiểm soát, hạn chế quyền chủ động của các chủ thể, đã chuyển sang tư duy kiến tạo phát triển (Văn phòng Chính phủ, 2026). Pháp luật không chỉ là công cụ quản lý mà còn trở thành động lực thúc đẩy sáng tạo, khơi thông nguồn lực và tạo lập môi trường thuận lợi cho các chủ thể phát triển. Bước chuyển tư duy này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra sâu rộng, khi yếu tố sáng tạo, tri thức và nguồn lực con người ngày càng trở thành nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia.
Luật Viên chức năm 2025 có bước đột phá quan trọng khi mở rộng quyền hoạt động nghề nghiệp của viên chức theo hướng rõ ràng, minh bạch và phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế. Việc ghi nhận và bảo đảm quyền nghề nghiệp của viên chức góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ này, đồng thời tạo điều kiện để viên chức chủ động thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của môi trường kinh tế - xã hội, phát huy tối đa năng lực chuyên môn, tinh thần đổi mới sáng tạo và khả năng đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Thứ hai, mở rộng không gian tự do sáng tạo gắn với kiểm soát xung đột lợi ích
Luật Viên chức năm 2025 ghi nhận viên chức được hưởng thu nhập từ các “nguồn thu hợp pháp khác” ngoài quỹ tiền lương theo vị trí việc làm quy định tại khoản 1 Điều 1 Luật Viên chức năm 2025 (Quốc hội, 2025). Quy định này thể hiện sự thay đổi căn bản trong cách nhìn nhận vai trò của đội ngũ viên chức, từ chỗ bị giới hạn trong khuôn khổ hành chính sang chủ thể có năng lực sáng tạo, có quyền chủ động khai thác giá trị lao động chuyên môn của mình trong khuôn khổ pháp luật.
Pháp luật đã mở rộng đáng kể không gian hoạt động nghề nghiệp của viên chức, cho phép họ được hành nghề cá nhân, ký kết hợp đồng cung ứng dịch vụ chuyên môn với các tổ chức, cá nhân khác; đồng thời, được góp vốn, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, cơ sở giáo dục, y tế ngoài công lập theo quy định. Đây là bước tiến quan trọng trong việc thể chế hóa chủ trương của Đảng về phát triển thị trường lao động hiện đại, thúc đẩy sự liên thông, dịch chuyển và phân bổ hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao giữa khu vực công và khu vực tư. Qua đó, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực xã hội, tạo động lực mạnh mẽ để viên chức nâng cao trình độ chuyên môn, thích ứng với yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới.
Tuy nhiên, mở rộng quyền tự do hoạt động nghề nghiệp không đồng nghĩa với việc nới lỏng kỷ luật, kỷ cương hay buông lỏng quản lý nhà nước. Luật Viên chức năm 2025 quy định tại khoản 1 Điều 13 “bảo đảm không xung đột lợi ích theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, không trái với thỏa thuận làm việc và không vi phạm đạo đức nghề nghiệp” (Quốc hội, 2025). Theo đó, mọi hoạt động làm thêm, tham gia kinh doanh hoặc hợp tác chuyên môn của viên chức đều phải bảo đảm nguyên tắc không được gây ra xung đột lợi ích theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, đồng thời không được làm ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ công vụ, không vi phạm chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp. Đối với những hoạt động nghề nghiệp chưa được xác định rõ trong hợp đồng làm việc hoặc có khả năng phát sinh rủi ro về xung đột lợi ích, viên chức phải báo cáo và được sự chấp thuận bằng văn bản của người đứng đầu đơn vị quản lý. Cơ chế này không chỉ bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình mà còn góp phần xây dựng “hàng rào pháp lý mềm” nhưng hiệu quả, giúp kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa nguy cơ lợi dụng vị trí công tác để trục lợi cá nhân.
Việc kết hợp hài hòa giữa mở rộng không gian tự do sáng tạo và thiết lập cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích đã thể hiện rõ tư duy lập pháp hiện đại, vừa khuyến khích phát triển, vừa bảo đảm kỷ cương. Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, liêm chính, năng động và thích ứng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền hành chính phục vụ.
Thứ ba, dùng kết quả công việc để đánh giá
Việc đánh giá viên chức được quy định tại Điều 41 Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) tập trung vào mức độ hoàn thành công việc, đạo đức nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm. Tại Điều 25 khoản 3 Luật Viên chức năm 2025 về thực hiện đánh giá viên chức, đã bổ sung tiêu chí “năng lực đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong thực hiện nhiệm vụ” (Quốc hội, 2025). Điều này thể hiện rõ định hướng xây dựng đội ngũ viên chức năng động, thích ứng và có khả năng dẫn dắt sự phát triển. Việc đưa các yếu tố này vào tiêu chí đánh giá là yêu cầu bắt buộc trong bối cảnh đổi mới mô hình quản trị quốc gia, khi hiệu quả công việc và giá trị tạo ra ngày càng được coi trọng hơn so với yếu tố thâm niên.
Pháp luật cũng thiết lập cơ chế xử lý rõ ràng đối với các trường hợp không đáp ứng yêu cầu công vụ. Nếu việc mở rộng quyền tự do hoạt động nghề nghiệp dẫn đến tình trạng viên chức lơ là nhiệm vụ, không hoàn thành công việc hoặc không đáp ứng tiêu chuẩn của vị trí việc làm, đơn vị sử dụng có quyền áp dụng các biện pháp phù hợp như bố trí vào vị trí việc làm khác hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định (Luật Viên chức năm 2025, Điều 26 khoản 2 và Điều 22 khoản 4). Quy định này thể hiện nguyên tắc nhất quán: quyền phải đi đôi với trách nhiệm, mở rộng quyền nhưng đồng thời siết chặt kỷ luật, kỷ cương.
Tại Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV ngày 24/10/2025, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã phát biểu “Dứt khoát từ bỏ tư duy không quản được thì cấm. Các quy định của luật phải mang tính ổn định, có giá trị lâu dài; luật chỉ quy định những vấn đề khung, những vấn đề có tính nguyên tắc”. Luật Viên chức năm 2025 đã mạnh dạn phá bỏ một số rào cản hành chính cứng nhắc, trao quyền tự do kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp để giải phóng triệt để sức sáng tạo và năng lực cống hiến của đội ngũ trí thức trong khu vực công. Như vậy, việc lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ làm thước đo đánh giá không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực sự nghiệp công lập mà còn tạo ra áp lực tích cực buộc mỗi viên chức phải không ngừng hoàn thiện năng lực, nâng cao chất lượng công việc và ý thức trách nhiệm. Đây là cơ chế quan trọng bảo đảm cho các chính sách mở rộng quyền tự do nghề nghiệp được vận hành đúng hướng, không làm suy giảm chất lượng công vụ.
Việc thừa nhận và bảo đảm quyền nghề nghiệp của viên chức, đồng thời thiết lập các cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý vừa cởi mở, linh hoạt, vừa chặt chẽ, kỷ cương. Trong khuôn khổ đó, mỗi viên chức không chỉ được trao thêm không gian để sáng tạo, cống hiến mà còn phải chịu trách nhiệm cao hơn đối với kết quả thực hiện nhiệm vụ và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp. Sự kết hợp hài hòa giữa “mở” và “kiểm soát”, giữa “quyền” và “trách nhiệm” tạo nền tảng vững chắc cho việc xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, liêm chính, năng động và thích ứng với yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới.
3. Kết luận và khuyến nghị
Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo lập một cấu trúc hiện đại, khoa học, “làm tiền đề để xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, tinh gọn, thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế” (Ban Chấp hành Trung ương, 2026), là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Đích đến cuối cùng là thúc đẩy kiến tạo phát triển và đưa pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh của quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Sự ra đời của Luật Viên chức năm 2025 là bước đột phá trong việc thể chế hóa quan điểm của Đảng về quản trị nguồn nhân lực chất lượng cao. Luật Viên chức năm 2025 đã triển khai theo đúng tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, đồng thời đáp ứng yêu cầu của Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam theo hướng đồng bộ, thống nhất và khả thi.
Việc mở rộng không gian tự do nghề nghiệp, cho phép viên chức tham gia các hoạt động kinh tế ngoài công vụ là minh chứng cho tư duy quản trị kiến tạo, phá bỏ những rào cản hành chính đã lỗi thời để giải phóng sức sản xuất của đội ngũ trí thức. Sự cởi trói này luôn song hành với yêu cầu về kiểm soát xung đột lợi ích và giữ gìn đạo đức công vụ liêm chính. Đây là nền tảng cốt lõi để xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, năng động, có đủ tâm và tầm, sẵn sàng phụng sự và đóng góp vào mục tiêu đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc. Một hệ thống pháp luật viên chức đồng bộ và minh bạch không chỉ là công cụ quản lý, mà còn là động lực quan trọng để khẳng định vị thế và khát vọng phát triển của Việt Nam.
Khuyến nghị
Một là, cần sớm ban hành nghị định hướng dẫn thi hành Luật Viên chức năm 2025 nhằm cụ thể hóa các quy định về phạm vi hoạt động nghề nghiệp của viên chức ngoài đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng bảo đảm phát huy tính chủ động, sáng tạo của đội ngũ viên chức, đồng thời tăng cường cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Hai là, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung của Luật Viên chức năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm nâng cao nhận thức pháp lý của đội ngũ viên chức và người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập trong quá trình tổ chức thực hiện.
Ba là, cần tiếp tục hoàn thiện hoạt động quản lý viên chức theo vị trí việc làm gắn với yêu cầu chuyển đổi số trong quản trị nguồn nhân lực khu vực công triển khai đúng theo tinh thần Nghị quyết 105/NQ-CP về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy.
Ngày nhận bài: 18/5/2026; Ngày bình duyệt: 28/5/2026; Ngày quyết định đăng: 6/6/2026.
Email tác giả: trangquynh.dq@gmail.com
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương (2022). Quyết định số 71-QĐ/TW ngày 18/7/2022 về tổng biên chế của hệ thống chính trị giai đoạn 2022 - 2026.
Ban Chấp hành Trung ương (2026). Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Chính phủ (2023). Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29/9/2023 quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Hồ Văn (2025). Lương thấp, gần 9500 công chức, viên chức TP.HCM bỏ việc. Báo Vietnamnet. https://vietnamnet.vn.
Ngân Anh (2025). Sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị: Hơn 43.000 người đã nghỉ việc. Báo Nhân dân điện tử. https://nhandan.vn.
Nguyễn Thảo & Đức Minh (2025). 85.477 cán bộ, viên chức có quyết định nghỉ việc theo nghị định 178. Báo điện tử Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh. https://plo.vn.
Quốc hội (2010). Luật Viên chức năm 2010, Luật số 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010.
Quốc hội (2025). Luật Viên chức năm 2025, Luật số 129/2025/QH15 ngày 10/12/2025.
Văn phòng Chính phủ (2026). Thông báo số 44/TB-VPCP ngày 26/01/2026 về Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Phiên họp lần thứ bảy về rà soát và tổ chức thực hiện việc xử lý vướng mắc trong hệ thống pháp luật.
2