Quyết định thay đổi chiến lược của Hội nghị Trung ương tháng 5-1941 và giá trị chỉ dẫn trong kỷ nguyên mới
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.7137
Tóm tắt: Trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, Hội nghị Trung ương 8 tháng 5-1941 là một dấu mốc quan trọng, đánh dấu bước hoàn chỉnh chiến lược cách mạng trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc. Dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị đã đưa ra những quyết sách mang tính lịch sử, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, xác định phương pháp đấu tranh phù hợp, xây dựng mặt trận đoàn kết toàn dân tộc và chuẩn bị lực lượng cho tổng khởi nghĩa. Những quyết sách ấy phản ánh tư duy chính trị nhạy bén, tầm nhìn chiến lược của Đảng và Hồ Chí Minh trước những biến động lớn của tình hình thế giới và trong nước; trực tiếp mở đường cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
TS TRẦN THỊ MỸ HƯỜNG
Viện Lịch sử Đảng,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) mang tầm vóc đặc biệt, không chỉ hoàn chỉnh chuyển hướng chiến lược cách mạng đã được đặt ra từ Hội nghị Trung ương 6 (11/1939), mà còn mở ra bước ngoặt quyết định đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, trực tiếp dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Điểm nổi bật của Hội nghị là Đảng ta đã phân tích chính xác tình hình quốc tế và trong nước, đưa ra “quyết sách thay đổi chiến lược” mang tính lịch sử. Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới, với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, việc nghiên cứu giá trị lịch sử và bài học từ Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Bài viết tập trung làm rõ bối cảnh lịch sử; nội dung “thay đổi chiến lược”, thể hiện tầm nhìn, tư duy sáng tạo, nhạy bén của Đảng tại Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) và bài học đối với sự nghiệp phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới của dân tộc, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
2. Nội dung
2.1. Bối cảnh lịch sử
Tháng 9/1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan, mở đầu Chiến tranh thế giới thứ hai, làm thay đổi sâu sắc cục diện chính trị toàn cầu. Đầu những năm 1940, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn quyết liệt. Chủ nghĩa phát xít mở rộng chiến tranh xâm lược trên phạm vi toàn cầu. Tháng 6/1940, nước Pháp thất thủ trước phát xít Đức; chính quyền Vichy (Pháp) ra đời và thực hiện chính sách đầu hàng, hợp tác với phát xít Đức, đã tước đi vị thế của thực dân Pháp tại các thuộc địa.
Chiến tranh thế giới thứ hai đã làm rung chuyển hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, tạo ra những điều kiện khách quan thuận lợi cho cách mạng ở các nước thuộc địa. Sự suy yếu của các đế quốc thực dân, sự phát triển của phong trào chống phát xít, sự lớn mạnh của Liên Xô đã làm thay đổi tương quan lực lượng quốc tế theo hướng có lợi hơn cho phong trào giải phóng dân tộc, tác động lớn đối với cách mạng Đông Dương.
Tại Đông Dương, sau thất bại của Pháp trước phát xít Đức năm 1940, chính quyền thực dân ở Đông Dương suy yếu nghiêm trọng và rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc, vừa suy yếu về thực lực, vừa mất tính chính danh chính trị. Thực dân Pháp ra sức đàn áp phong trào cách mạng, vừa thỏa hiệp với phát xít Nhật để duy trì quyền thống trị. Tháng 9/1940, quân đội phát xít Nhật tiến vào Đông Dương. Nhật - Pháp câu kết thống trị Đông Dương, áp bức bóc lột nhân dân ngày càng nặng nề, nhân dân Việt Nam rơi vào tình cảnh “một cổ hai tròng”. Mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với phát xít Nhật và thực dân Pháp trở nên gay gắt. Các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (tháng 9/1940), Nam Kỳ (tháng 11/1940) và binh biến Đô Lương (tháng 1/1941) nổ ra đã thể hiện tinh thần đấu tranh quyết liệt của nhân dân.
Trước yêu cầu mới của tình hình cách mạng, ngày 28/01/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã về nước trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng. Với kinh nghiệm hoạt động quốc tế phong phú và tầm nhìn chiến lược, Nguyễn Ái Quốc chọn Cao Bằng làm nơi xây dựng căn cứ địa cách mạng và triệu tập Hội nghị Trung ương để giải quyết những vấn đề chiến lược cấp bách của cách mạng Đông Dương.
2.2. Quyết định thay đổi chiến lược - tư duy sáng tạo, nhạy bén của Đảng
Sau một thời gian chuẩn bị, từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương tại Khuổi Nặm, làng Pác Pó (Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng). Dự hội nghị có các đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Trường Chinh, Hạ Bá Cang, Hoàng Văn Thụ, Vũ Anh, Bùi San, Hồ Xuân Lưu, Phùng Chí Kiên…(Viện Lịch sử Đảng, 2018, tr.516).
Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới, khu vực và trong nước, Hội nghị quyết định “cần phải thay đổi chiến lược… Đảng ta phải thay đổi chính sách cách mạng Đông Dương cho hợp với nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân Đông Dương (ĐCSVN, 2000, tr.118). Quyết định thay đổi chiến lược cách mạng đã thể hiện tư duy sáng tạo, nhạy bén của Đảng:
Một là, hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu
Đây là điểm cốt lõi trong quyết sách chiến lược của Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) khi xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ trung tâm, cấp bách nhất của cách mạng Việt Nam. Hội nghị nhấn mạnh “nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta và của cách mạng Đông Dương” (ĐCSVN, 2000, tr.118-119). Phân tích tình hình trong nước, quốc tế, Hội nghị khẳng định, phát xít Nhật - Pháp không chỉ là kẻ thù chung của công - nông mà là kẻ thù chung của cả dân tộc Việt Nam và các dân tộc Đông Dương. Nhiệm vụ của Đảng Cộng sản Đông Dương lúc này là phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách thống trị của Pháp - Nhật, đó là nhiệm vụ hàng đầu, cấp thiết, vì “trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” (ĐCSVN, 2000, tr.113).
Quan điểm này cho thấy tầm nhìn, tư duy nhạy bén, sáng tạo của Đảng khi nhận định, đánh giá và dự báo chính xác tình hình cũng như xu hướng vận động, để có sự “thay đổi chiến lược” cách mạng phù hợp với thực tiễn. Đó không chỉ là sự điều chỉnh chiến lược mang tính tình thế, mà là bước phát triển về nhận thức lý luận, thể hiện tính độc lập, tự chủ và sáng tạo trong hoạch định đường lối cách mạng của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Hai là, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp
Trên cơ sở phân tích, dự báo chính xác những chuyển biến của tình hình thế giới và trong nước, Đảng đã chủ động, sáng tạo trong việc giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và giai cấp. Hội nghị quyết định tiếp tục tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày”, thay bằng các chủ trương phù hợp hơn như giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công, tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo. Đảng xác định đúng thứ tự ưu tiên của nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử, đặt lợi ích giai cấp dưới lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc. Từ mục tiêu đồng thời giải quyết hai nhiệm vụ phản đế và điền địa, thì trong điều kiện mới, Đảng xác định tập trung ưu tiên giải quyết vấn đề dân tộc trước tiên. Đảng khẳng định: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc” (ĐCSVN, 2000, tr.113). Chính sự linh hoạt trong sách lược nhưng nhất quán về chiến lược đã mở rộng khả năng tập hợp lực lượng yêu nước vào mặt trận dân tộc thống nhất, hình thành sức mạnh toàn dân tộc cho cuộc đấu tranh giành độc lập.
Ba là, giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương
Trong điều kiện mâu thuẫn dân tộc trở nên gay gắt, việc xây dựng một mặt trận thống nhất rộng rãi ở mỗi nước là điều kiện tiên quyết để tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, mở rộng phạm vi tập hợp lực lượng trên cơ sở lợi ích tối cao của dân tộc. Hội nghị nêu rõ chủ trương của Đảng là vận dụng các phương pháp hiệu triệu, đánh thức tinh thần dân tộc trong nhân dân. Chính vì vậy, Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương phải “đổi ra cái tên khác cho có tính chất dân tộc hơn, cho có mãnh lực và dễ hiệu triệu hơn và nhất là có thể thực hiện được” (Trần Thị Thu Hương, 2006, tr.133).
Theo sáng kiến của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị đã quyết định thành lập Ai Lao độc lập đồng minh (ở Lào); Cao Miên độc lập đồng minh (ở Campuchia). Ở Việt Nam, Hội nghị quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) để thống nhất hành động chống kẻ thù chung là phát xít Nhật và đế quốc Pháp. Trong Mặt trận này, các tổ chức quần chúng mang tên chung là các “Hội cứu quốc”, bao gồm: Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc…, nhằm tập hợp mọi tầng lớp nhân dân tham gia đấu tranh giải phóng dân tộc.
Đây là một sáng tạo đặc sắc của Đảng và Nguyễn Ái Quốc, một bước phát triển mới về sách lược mặt trận của Đảng. Qua đó, “liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn” (ĐCSVN, 2000, tr.461), lấy đại đoàn kết dân tộc làm nền tảng. Vấn đề đoàn kết dân tộc được đặt ra một cách toàn diện, vượt lên trên những giới hạn về giai cấp, tôn giáo, khuynh hướng chính trị để tập hợp và phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng, đánh dấu sự phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng. Mặt trận Việt Minh không chỉ là hình thức tổ chức chính trị phù hợp với yêu cầu lịch sử mà còn là biểu tượng của tư tưởng đại đoàn kết dân tộc. Đó là một trong những nhân tố quyết định tạo nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Bốn là, chủ động chuẩn bị khởi nghĩa và nắm bắt thời cơ cách mạng
Căn cứ thực tế cách mạng Việt Nam, đặc biệt sau khởi nghĩa vũ trang ở Bắc Sơn, Nam Kỳ và binh biến Đô Lương, Hội nghị đã xác định phương pháp cách mạng và hình thái khởi nghĩa ở nước ta là từ khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa. Hội nghị dự kiến điều kiện cho cuộc khởi nghĩa nổ ra và thắng lợi, đồng thời nhấn mạnh “chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân trong giai đoạn hiện thời” (Trần Thị Thu Hương, 2006, tr.134). Nghị quyết Hội nghị nêu rõ: “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng cuộc khởi nghĩa võ trang. Muốn cuộc khởi nghĩa võ trang thắng lợi phải có đủ các điều kiện khách quan và chủ quan, phải chọn đúng thời cơ cách mạng” (Viện Lịch sử Đảng, 2018, tr.520). Toàn Đảng, toàn dân phải chuẩn bị khởi nghĩa một cách chủ động, lâu dài để khi thời cơ đến, “với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành thắng lợi mà mở đường cho cuộc tổng khởi nghĩa to lớn” (ĐCSVN, 2000, tr.131-132).
Như vậy, Hội nghị đã xác định rõ hình thái khởi nghĩa ở Việt Nam là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa. Đây là biểu hiện điển hình của tư duy chiến lược chủ động và tầm nhìn của Đảng, không nóng vội phát động tổng khởi nghĩa khi điều kiện chưa chín muồi, mà chủ trương chuẩn bị lâu dài, từng bước xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng và thế trận quần chúng. Điều này cho thấy, khả năng dự báo chính xác của Đảng trước những biến động của tình hình thế giới và thời cơ cách mạng đang đến gần.
Hội nghị chủ trương xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng chính trị, vũ trang; xác định việc xây dựng căn cứ địa cách mạng (trước hết là căn cứ Cao Bằng và căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai) chính là “hạt nhân” để phát triển lực lượng và mở rộng phong trào cách mạng. Đồng thời, tích cực xây dựng lực lượng vũ trang, chuẩn bị lực lượng đón thời cơ khởi nghĩa, là những quyết sách quan trọng, đưa toàn thể dân tộc ta tiến lên giành thắng lợi trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập, tự do.
Năm là, Hội nghị chủ trương thành lập nước Việt Nam dân chủ mới sau khi đánh đuổi được Nhật - Pháp. Trong đó, chính quyền của nước dân chủ mới ấy không phải là chính quyền riêng của một giai cấp nào mà là của cả chung toàn dân tộc, trừ bọn tay sai đế quốc Pháp và phát xít Nhật, bọn phản quốc. Chủ trương này góp phần định hình nền tảng Nhà nước cách mạng và thể chế chính trị, thể hiện tầm nhìn xa của Đảng không chỉ trong giành chính quyền mà còn trong tổ chức quyền lực sau khi Cách mạng tháng Tám thành công.
Như vậy, Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) đánh dấu sự hoàn chỉnh về đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng. Những quyết sách của Hội nghị thể hiện tầm nhìn chiến lược, tư duy sáng tạo và bản lĩnh chính trị của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Đảng về nghệ thuật lãnh đạo cách mạng.
2. 3. Bài học đối với sự nghiệp phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) có ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng đối với tiến trình cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Quyết sách “thay đổi chiến lược” của Hội nghị không chỉ phản ánh tư duy nhạy bén, sáng tạo và bản lĩnh chính trị của Đảng, góp phần quyết định thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, mà còn tiếp tục soi sáng trong hành trình 40 năm đổi mới đất nước (1986-2026) với những thành quả quan trọng, có ý nghĩa lịch sử mà Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định: “Cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên (…) Vai trò, nội dung, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ngày càng được đổi mới và nâng cao; nền tảng tư tưởng, lý luận được bổ sung và phát triển toàn diện (…) Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam này càng hoàn thiện (...) Cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị cùng với những quyết sách chiến lược (…) đang mở ra cơ hội lịch sử, bước ngoặt cho sự phát triển mạnh mẽ của đất nước trong kỷ nguyên mới” (ĐCSVN, 2026, tr.79).
Hiện nay, bối cảnh tình hình thế giới có nhiểu biến động phức tạp, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng. Kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc Việt Nam xác định mục tiêu “đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao” (ĐCSVN, 2026, tr.25), đòi hỏi Việt Nam cần những động lực mới. Đồng thời, tiếp tục vận dụng và phát huy giá trị những bài học lịch sử của Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) vào điều kiện thực tiễn hiện nay. Đó là:
Một là, kiên định nguyên tắc đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết trong hoạch định chiến lược phát triển đất nước. Đây không chỉ là bài học lớn được khẳng định từ Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) mà còn là định hướng chiến lược xuyên suốt trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, trong kỷ nguyên phát triển mới, đất nước đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức đan xen do tác động của toàn cầu hóa, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, biến đổi khí hậu và các vấn đề an ninh phi truyền thống. Trong bối cảnh đó, việc kiên định nguyên tắc đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết càng trở thành yêu cầu có tính nguyên tắc trong hoạch định chiến lược phát triển đất nước.
Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu: “Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hiệp quốc” (ĐCSVN, 2026, tr.73). Quan điểm này thể hiện sự kế thừa trực tiếp tư duy chiến lược của Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) trong điều kiện lịch sử mới. Đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa kiên định mục tiêu chiến lược với tính chủ động, linh hoạt trong đường lối phát triển và hội nhập quốc tế.
Trong hoạch định chiến lược phát triển đất nước hiện nay, quan điểm đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết, thể hiện ở việc giữ vững độc lập, tự chủ trong phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh quốc gia và chủ quyền dân tộc; hội nhập quốc tế trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững bản sắc và năng lực tự chủ của nền kinh tế. Điều đó đòi hỏi, Việt Nam phải xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân vững mạnh.
Bên cạnh đó, phải xử lý hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa. Đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết không đồng nghĩa với khép kín hay biệt lập, mà là chủ động hội nhập trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, bảo vệ lợi ích cốt lõi của đất nước. Đây chính là cơ sở để Việt Nam thực hiện hiệu quả đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Hai là, bài học về đổi mới tư duy và khả năng thích ứng chiến lược. Trong kỷ nguyên mới gắn với đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập sâu rộng, đòi hỏi Đảng phải tiếp tục phát huy tinh thần đổi mới tư duy và khả năng thích ứng chiến lược từ Hội nghị Trung ương 8 (5/1941). Trước hết, đòi hỏi Đảng giữ vững và kiên trì tư duy độc lập, tự chủ; xuất phát từ thực tiễn đất nước để hoạch định đường lối phát triển phù hợp. Thành công của Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) đã khẳng định Đảng ta không giáo điều, máy móc, đã kịp thời điều chỉnh chiến lược theo yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Ngày nay, trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, Đảng, Nhà nước càng cần giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ trong xây dựng và thực thi đường lối phát triển; đồng thời chủ động thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của môi trường quốc tế. Đại hội XIV nhấn mạnh: “Không ngừng đổi mới tư duy, nhất là tư duy chiến lược, tôn trọng quy luật khách quan, nhất quán, kiên định về chiến lược, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; chủ động ngăn ngừa, phòng, chống bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, cơ hội, bảo thủ...” (ĐCSVN, 2026, tr.75). Đây chính là sự kế thừa và phát triển tư duy chiến lược linh hoạt của Đảng trong điều kiện mới.
Đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển và phương thức quản trị quốc gia. Trong bối cảnh chuyển đổi số và kinh tế tri thức trở thành xu thế chủ đạo, chậm đổi mới tư duy sẽ dẫn tới nguy cơ tụt hậu. Đồng thời, phải nâng cao năng lực dự báo chiến lược, khả năng ứng phó với các biến động kinh tế, chính trị và an ninh toàn cầu nhằm bảo đảm phát triển nhanh và bền vững.
Tiếp tục hoàn thiện tư duy về bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Tại Hội nghị Trung ương 8 (5/1941), Đảng đã nhạy bén xác định đúng kẻ thù chủ yếu và phương thức đấu tranh phù hợp thì hiện nay, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc không chỉ trên lĩnh vực quân sự mà còn bao gồm an ninh kinh tế, an ninh mạng, an ninh năng lượng, an ninh văn hóa và chủ quyền số quốc gia. Điều đó đòi hỏi tư duy chiến lược của Đảng phải luôn chủ động, linh hoạt và thích ứng nhanh với các thách thức mới của thời đại.
Ba là, phát huy mạnh mẽ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với khơi dậy khát vọng phát triển đất nước. Một trong những quyết sách mang tầm vóc lịch sử của Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) là thành lập Mặt trận Việt Minh nhằm tập hợp mọi lực lượng yêu nước cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đây là biểu hiện sinh động của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, cội nguồn sức mạnh quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Vận dụng bài học về đại đoàn kết dân tộc trong kỷ nguyên mới, Đảng khẳng định “đại đoàn kết dân tộc: Nền tảng sức mạnh quốc gia (….) để đất nước ta vượt qua mọi khó khăn thử thách và vươn tới phát triển phồn vinh, hùng cường” (ĐCSVN, 2026, tr.36). Thực hiện đường lối đại đoàn kết dân tộc dựa trên nền tảng khối liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích; bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp xã hội và mỗi người dân trong tiếp cận và thụ hưởng thành quả phát triển; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân. Đồng thời, cần khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng cống hiến trong các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, đội ngũ trí thức, doanh nhân và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Đặc biệt, trong bối cảnh phát triển mới, cần chú trọng xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh; tăng cường đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; ngăn chặn âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc trên không gian mạng. Xây dựng “thế trận lòng dân”; tăng cường đồng thuận xã hội. Đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.
Bốn là, giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là bài học đã được kiểm nghiệm qua các chặng đường lịch sử, đặc biệt là các bước ngoặt lịch sử của dân tộc; từ quyết sách chiến lược của Hội nghị Trung ương 8 (5/1941), khi Đảng kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, mở đường cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
3. Kết luận
Đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, kế thừa bài học kinh nghiệm từ Hội nghị Trung ương 8 (5/1941), Đảng ta tiếp tục phát huy tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo trong hoạch định đường lối, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, linh hoạt về sách lược, nắm bắt thời cơ, hóa giải thách thức, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; đẩy mạnh xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ. Tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Bài học về sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng còn được thể hiện ở khả năng định hướng phát triển đất nước theo hướng bền vững và hiện đại, hội nhập sâu rộng nhưng không hòa tan, giữ vững độc lập tự chủ trong mọi tình huống.
Đây chính là sự kế thừa và phát triển tư duy chiến lược được thể hiện từ Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) trong điều kiện lịch sử mới, cơ sở quan trọng để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, giữ vững độc lập, tự chủ và vững bước trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
_________________
Ngày nhận bài: 29/5/2026; Ngày bình duyệt: 8/6/2026; Ngày duyệt đăng: 10/6/2026.
Email tác giả:tranmyhuong.hcma@gmail.com
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2000). Văn kiện Đảng Toàn tập (Tập 7). Nxb Chính trị quốc gia.
Trần Thị Thu Hương (Chủ biên) (2006). Đảng Cộng sản Việt Nam, chặng đường qua hai thế kỷ. Nxb Chính trị quốc gia.
Viện Lịch sử Đảng (2018). Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I (1930-1954), quyển 1 (1930-1945). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
1