Thành lập Mặt trân Việt Minh - Chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Hội nghị Trung ương 8 (5/1941)
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.3835
Tóm tắt: Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa I (tháng 5/1941) là một dấu mốc đặc biệt quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, một trong những quyết định mang tính chiến lược của Hội nghị là thành lập Mặt trận Việt Minh. Bài viết làm rõ quá trình chuẩn bị, thành lập và tổ chức hoạt động của Mặt trận Việt Minh theo tinh thần Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941); đồng thời làm rõ vai trò, đóng góp của Mặt trận Việt Minh đối với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
TS NGUYỄN QUANG HÒA
Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
TS ĐINH ĐỨC DUY
Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam thế kỷ XX, vấn đề xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc luôn có vị trí đặc biệt quan trọng, mang ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn lịch sử cho thấy, mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với khả năng tập hợp lực lượng cách mạng rộng rãi dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, nhân dân Việt Nam phải chịu ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, yêu cầu cấp bách đặt ra đối với cách mạng Việt Nam là phải nhanh chóng giải quyết vấn đề dân tộc, tập hợp mọi lực lượng yêu nước vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Trước yêu cầu lịch sử đó, Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã có những quyết sách mang tính bước ngoặt đối với cách mạng Việt Nam. Hội nghị xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu và quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh nhằm đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo... Đây không chỉ là sự phát triển sáng tạo về tư duy chiến lược của Đảng mà còn là biểu hiện tập trung của tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.
Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh đã tạo nên bước chuyển căn bản trong phong trào cách mạng Việt Nam. Từ một tổ chức mặt trận mang tính dân tộc sâu sắc, Việt Minh đã nhanh chóng phát triển thành trung tâm đoàn kết toàn dân, xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang rộng khắp, chuẩn bị những điều kiện quyết định cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thắng lợi. Không chỉ có ý nghĩa lịch sử đối với cách mạng giải phóng dân tộc, bài học về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ thực tiễn Mặt trận Việt Minh vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
2. Nội dung
2.1. Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện cho việc thành lập Mặt trận Việt Minh
Cuối những năm 1930, trước những biến chuyển sâu sắc của tình hình thế giới và Đông Dương cùng sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy thời cơ thuận lợi cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc đã dần xuất hiện. Vì vậy, Người khẩn trương trở về Tổ quốc để thực hiện khát vọng đã được nung nấu: “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.209). Đầu năm 1940, Nguyễn Ái Quốc đến Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), bắt liên lạc với các đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương đang hoạt động tại đây như Vũ Anh (Trịnh Đông Hải), Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp nhằm chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc trở về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng.
Tháng 6/1940, Nguyễn Ái Quốc cử hai đồng chí vừa từ trong nước sang là Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp đi học Trường Quân chính của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Diên An. Tuy nhiên, ngay sau khi nhận được tin phát xít Đức tiến vào Paris, Người yêu cầu Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp tạm dừng kế hoạch đến Diên An, chuẩn bị trở về nước. Cùng thời gian này, Nguyễn Ái Quốc gửi báo cáo tới Quốc tế Cộng sản, đề nghị hỗ trợ các điều kiện cần thiết để xây dựng căn cứ địa cách mạng phục vụ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Người nhấn mạnh: “Nếu chúng tôi có được: (1) Tự do hành động ở biên giới. (2) Một ít súng đạn. (3) Một chút kinh phí. (4) Vài vị cố vấn, thì chúng tôi nhất định có thể lập ra và phát triển một căn cứ địa chống Pháp, chống Nhật… Nếu chúng tôi có thể mở rộng Mặt trận thống nhất các dân tộc bị áp bức, có thể lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước đế quốc thì tiền đồ tươi sáng là có thể nhìn thấy được. Tôi rất hy vọng các đồng chí giúp tôi nhanh chóng giải quyết vấn đề này” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 204).
Tháng 10/1940, khi nhận được tin hơn 40 thanh niên Cao Bằng vượt biên giới sang Quảng Tây (Trung Quốc) để tránh sự khủng bố của thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ thị cho các đồng chí đang cùng hoạt động tổ chức một lớp huấn luyện chính trị và nghiệp vụ cách mạng cho lực lượng này. Sau khóa học, các thanh niên được bố trí trở về Cao Bằng để củng cố, phát triển phong trào cách mạng tại địa phương, đồng thời xây dựng tuyến liên lạc từ nước ngoài về trong nước. Cũng trong thời gian này, Người nhận định “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi” (Võ Nguyên Giáp, 2018, tr. 37) và quyết định chọn nơi đây đặt đại bản doanh để từ đó chỉ đạo phong trào cách mạng toàn quốc.
Nguyễn Ái Quốc đã sớm dự liệu việc xây dựng một mặt trận dân tộc thống nhất có quy mô rộng rãi nhằm tập hợp và đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân hướng vào mục tiêu giải phóng dân tộc. Hồi tưởng về vấn đề này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết: “Trong những ngày ở Quế Lâm, có lần Bác bàn với chúng tôi: Trước tình hình mới, vấn đề đoàn kết toàn dân giải phóng dân tộc càng quan trọng. Ta phải nghĩ đến việc lập một hình thức mặt trận thật rộng rãi, có tên gọi cho thích hợp. Việt Nam Giải phóng Đồng minh? Việt Nam Phản đế Đồng minh? Hay là Việt Nam Độc lập Đồng minh? Có thể gọi tắt là Việt Minh cho nhân dân dễ nhớ” (Võ Nguyên Giáp, 2018, tr. 35-36).
Đầu tháng 1/1941, Nguyễn Ái Quốc về sát biên giới Việt - Trung. Trước khi vượt biên giới về nước, Người tiến hành huấn luyện cho hơn 40 thanh niên Cao Bằng tại làng Nậm Quang (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc) (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng, 2018, tr. 514). Nguyễn Ái Quốc trực tiếp biên soạn tài liệu phục vụ công tác huấn luyện, sau được tập hợp và xuất bản thành cuốn Con đường giải phóng. Nội dung huấn luyện gồm: đường lối và nhiệm vụ cách mạng trong bối cảnh mới; hình thức tổ chức, phương thức hoạt động và phương pháp công tác của cán bộ Mặt trận Việt Minh. Đây được xem là lớp đào tạo cán bộ đầu tiên của phong trào Việt Minh ở Cao Bằng. Tham gia trực tiếp giảng dạy có các đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Phùng Chí Kiên, Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng. Sau khóa huấn luyện, hơn 40 cán bộ mang trong mình nhiệt huyết cách mạng, được bổ sung kiến thức và phương pháp hoạt động, đã trở về địa phương để xây dựng những tổ chức cứu quốc đầu tiên của cả nước.
Ngày 28/1/1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Thế Anh và Đặng Văn Cáp từ Trung Quốc trở về Tổ quốc qua cột mốc 108 trên tuyến biên giới Việt - Trung, thuộc địa phận xã Trường Hà, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (nay là xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng). Nguyễn Ái Quốc trực tiếp lãnh đạo việc thí điểm xây dựng Mặt trận Việt Minh với mục tiêu tập hợp rộng rãi các tầng lớp xã hội tham gia vào các đoàn thể cứu quốc, đồng thời chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triệu tập Hội nghị Trung ương 8.
Thực hiện sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, việc thí điểm xây dựng Mặt trận Việt Minh được khẩn trương tiến hành tại ba châu Hòa An, Hà Quảng và Nguyên Bình. Chỉ trong khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 4/1941, phong trào đã thu hút khoảng 2.000 người thuộc nhiều tầng lớp xã hội và các dân tộc tham gia vào các tổ chức cứu quốc như Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nông dân cứu quốc và Nhi đồng cứu quốc (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng, 2018, tr. 515).
Tháng 4/1941, theo sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị cán bộ tỉnh Cao Bằng được tổ chức nhằm tổng kết và rút kinh nghiệm từ quá trình thí điểm xây dựng Mặt trận Việt Minh. Hội nghị do đồng chí Hoàng Văn Thụ chủ trì, với sự tham dự của các cán bộ đến từ ba châu Hòa An, Hà Quảng và Nguyên Bình. Các đại biểu tham dự đều thống nhất đánh giá rằng việc xây dựng thí điểm các đoàn thể cứu quốc, bắt đầu từ công tác huấn luyện cán bộ Việt Minh, đã đạt được những kết quả tích cực; các tổ chức cứu quốc bước đầu tạo được sức hấp dẫn và khả năng tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân.
Từ những kết quả bước đầu đạt được trong xây dựng thí điểm các tổ chức cứu quốc tại ba châu Hà Quảng, Hòa An và Nguyên Bình (Cao Bằng), phong trào cách mạng đã chứng minh tính đúng đắn và hiệu quả của chủ trương tập hợp lực lượng toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn ở Cao Bằng cho thấy, khi các tầng lớp nhân dân được giác ngộ, tổ chức và đoàn kết trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi thì sức mạnh cách mạng được phát huy mạnh mẽ, tạo tiền đề quan trọng cho việc mở rộng phong trào ra cả nước. Điều đó chứng tỏ chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là hoàn toàn đúng đắn.
2.2. Mặt trận Việt Minh chính thức ra đời, đẩy mạnh tuyên truyền, tập hợp lực lượng tiến tới Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng được tổ chức tại Khuổi Nậm, làng Pác Bó, xã Trường Hà, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (nay là xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng) từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941. Tham dự Hội nghị có các đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Trường Chinh, Hạ Bá Cang, Hoàng Văn Thụ, Vũ Anh, Bùi San, Hồ Xuân Lưu, Phùng Chí Kiên... Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chủ trì Hội nghị.
Hội nghị đã phân tích nguyên nhân, bản chất và đặc điểm của Chiến tranh thế giới thứ hai; đồng thời nhận định, phát xít Đức sẽ tiến công Liên Xô và chiến tranh ở khu vực Thái Bình Dương sớm bùng nổ. Đảng ta nhận định, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai do chủ nghĩa đế quốc và phát xít gây ra sẽ tàn sát nhân loại, đẩy thế giới vào thảm họa và biến thế giới thành một “lò sát sinh” khốc liệt. Đồng thời, Đảng cũng dự báo, chiến tranh sẽ làm cho hệ thống đế quốc chủ nghĩa suy yếu, tạo điều kiện để phong trào cách mạng trên thế giới phát triển mạnh: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công” (ĐCSVN, 2000, tr. 100).
Hội nghị nhận định: “Đế quốc Pháp - Nhật chẳng những áp bức các giai cấp thợ thuyền, dân cày, mà chúng nó áp bức bóc lột cả các dân tộc không chừa một hạng nào. Dẫu là anh tư bản, anh địa chủ, một anh thợ hay một anh dân cày đều cảm thấy cái ách nặng nề của đế quốc là không thể nào sống được. Quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng. Pháp - Nhật ngày nay không phải chỉ là kẻ thù của công nông mà là kẻ thù của cả dân tộc Đông Dương” (ĐCSVN, 2000, tr. 112).
Theo đó, Đảng có nhiệm vụ tập hợp và đoàn kết mọi lực lượng yêu nước trong một mặt trận thống nhất nhằm thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Hội nghị nhấn mạnh: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” (ĐCSVN, 2000, tr. 113).
Hội nghị chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước Đông Dương nhằm khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước và ý thức dân tộc trong quần chúng nhân dân. Xuất phát từ yêu cầu tập hợp rộng rãi các lực lượng chống đế quốc, Hội nghị quyết định ở mỗi nước thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất riêng với tên gọi phù hợp, dễ nhớ và gần gũi với nhân dân từng dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đoàn kết toàn dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập.
Theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Mặt trận lấy lá cờ đỏ có ngôi sao vàng năm cánh làm biểu tượng. Các tổ chức quần chúng yêu nước chống đế quốc đều được thống nhất mang tên “hội cứu quốc”, như: Công nhân cứu quốc hội, Nông dân cứu quốc hội, Thanh niên cứu quốc hội, Phụ nữ cứu quốc hội, Phụ lão cứu quốc hội, Quân nhân cứu quốc hội, Nhi đồng cứu vong đoàn... Đối với Lào và Campuchia, Hội nghị chủ trương giúp nhân dân hai nước xây dựng Cao Miên Độc lập Đồng minh và Ai Lao Độc lập Đồng minh. Trên nền tảng các mặt trận dân tộc thống nhất ở từng nước, Hội nghị chủ trương hình thành một mặt trận chung của ba nước Đông Dương mang tên Đông Dương độc lập đồng minh.
Việc thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh) là một trong những quyết định sáng suốt, đúng đắn và có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng đối với cách mạng Việt Nam. Với tên gọi ngắn gọn, gần gũi, Mặt trận Việt Minh đã nhanh chóng khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí độc lập và khát vọng tự do của toàn dân tộc, trở thành ngọn cờ đoàn kết toàn dân trong cuộc đấu tranh chống đế quốc phát xít và tay sai.
Để truyền tải tinh thần Mặt trận Việt Minh đến các địa phương cả nước, cổ vũ, động viên phong trào, Đảng ta đã vận dụng nhiều hình thức tuyên truyền vận động phong phú, đa dạng, như truyền đơn, ca dao, hò vè,... nhất là in ấn nhiều sách báo cách mạng. Tại Cao Bằng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập và trực tiếp phụ trách báo “Việt Nam độc lập” gọi tắt là “Việt lập” làm cơ quan tuyên truyền của Mặt trận Việt Minh trong tỉnh. Từ tháng 8/1941 đến tháng 8/1942, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp viết bài, hướng dẫn, đào tạo cán bộ chuyên trách. Từ tháng 8/1942, khi Nguyễn Ái Quốc với tên Hồ Chí Minh sang Trung Quốc tranh thủ sự ủng hộ từ bên ngoài thì báo Việt lập do đồng chí Phạm Văn Đồng phụ trách.
Ngày 6/6/1941, Nguyễn Ái Quốc công bố thư “Kính cáo đồng bào”, kêu gọi toàn dân đoàn kết đứng lên cứu nước. Trong thư, Người khẳng định: “Hiện thời, muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều: Toàn dân đoàn kết... Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: Người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 230).
Trên nhiều số báo Việt Nam độc lập, Nguyễn Ái Quốc đăng các bài thơ như: “Việt Nam độc lập”, số 103, ngày 21/8/1941; “Dân cày” (số 103, ngày 21/8/1941); “Phụ nữ” (số 104, ngày 1/9/1941); “Trẻ con” (số 106, ngày 21/9/1941); “Công nhân” (số 108, ngày 11-10-1941); “Ca binh lính” (số 110, ngày 1/11/1941)… nhằm vận động các tầng lớp nhân dân đoàn kết tham gia cứu nước và gia nhập các đoàn thể cứu quốc. Đặc biệt, trong bài văn xuôi “Nên học sử ta” đăng trên báo Việt Nam độc lập, số 117, ngày 1/2/1942, Người nhấn mạnh: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 256).
Tháng 2/1942, tại căn cứ địa Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc sáng tác bài thơ Lịch sử nước ta, kèm bảng “Những năm quan trọng”, trong đó ghi rõ mốc “1945 Việt Nam độc lập” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 267), thể hiện tầm nhìn chiến lược và dự báo thiên tài của Người về thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Bài thơ tái hiện những trang sử vẻ vang cùng truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc nhằm khơi dậy lòng yêu nước và cổ vũ nhân dân tích cực tham gia sự nghiệp giải phóng dân tộc theo tinh thần “Mười chính sách của Việt Minh”.
Từ ngày 25 đến 27/9/1941, đồng chí Trường Chinh chủ trì Hội nghị cán bộ toàn xứ Bắc Kỳ để truyền đạt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941), chỉ thị cho Đảng bộ Bắc Kỳ thống nhất các đoàn thể cứu quốc thành Mặt trận Việt Minh, đẩy mạnh cuộc vận động quần chúng cứu quốc. Trung ương cũng cử cán bộ mang những tài liệu của Mặt trận Việt Minh truyền đạt cho các đảng bộ Trung Kỳ, Nam Kỳ.
Ngày 25/10/1941, Mặt trận Việt Minh chính thức công bố Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ, trong đó xác định rõ mục tiêu, phương hướng hoạt động và tính chất của một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi nhằm tập hợp mọi lực lượng yêu nước đấu tranh giành độc lập dân tộc. Chương trình cứu nước của Việt Minh gồm 44 điểm, đề cập tương đối toàn diện các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như những chính sách cụ thể đối với từng giai cấp và tầng lớp xã hội như công nhân, nông dân, binh lính, công chức, học sinh, phụ nữ, thiếu nhi, tư sản, địa chủ... Tinh thần xuyên suốt của chương trình là “cốt thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào đang mong ước: 1. Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; 2. làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do” (ĐCSVN, 2000, tr. 470).
Trong Tuyên ngôn, Việt Minh đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, coi đó là cơ sở để đoàn kết rộng rãi mọi cá nhân và tổ chức yêu nước. Tuyên ngôn khẳng định: “Coi quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ theo chủ nghĩa quốc tế hay quốc gia, miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật, Pháp để dựng lên một nước Việt Nam tự do và độc lập” (ĐCSVN, 2000, tr. 461). Đây là sự thể hiện rõ nét tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong điều kiện lịch sử mới, khi nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên vị trí trung tâm, cấp bách hàng đầu.
Chương trình hành động của Việt Minh đồng thời xác định phạm vi liên hiệp không chỉ giới hạn trong nội bộ dân tộc Việt Nam mà còn mở rộng tới các lực lượng cách mạng và các dân tộc bị áp bức trên toàn cõi Đông Dương. Chương trình nêu rõ: “Việt Minh chủ trương liên hiệp hết các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể cách mạng, các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương, đặng đánh đổ chủ nghĩa đế quốc, làm cho nước Việt Nam và cả xứ Đông Dương được hoàn toàn độc lập. Việt Minh hết sức giúp cho dân Miên và dân Lào thành lập “Cao Miên độc lập đồng minh” và “Ai Lao độc lập đồng minh” đặng cùng mình thành lập “Đông Dương độc lập đồng minh” (Mặt trận thống nhất chống Nhật, Pháp của cả Đông Dương)” (ĐCSVN, 2000, tr. 466). Chủ trương này phản ánh tư duy chiến lược của Đảng trong việc kết hợp sức mạnh dân tộc với tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc Đông Dương nhằm chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc và phát xít.
Mặt trận Việt Minh cũng xác định rõ mục tiêu chính trị sau khi hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc là thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy lá cờ đỏ có ngôi sao vàng năm cánh ở giữa làm Quốc kỳ. Chính quyền cách mạng tương lai sẽ thực hiện các chính sách mang tinh thần dân chủ mới trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội, bảo đảm quyền lợi thiết thực cho các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động cũng như các lực lượng yêu nước tham gia sự nghiệp cứu quốc.
Từ cuối năm 1941, phong trào Việt Minh ở Cao Bằng phát triển mạnh mẽ, từng bước hình thành những địa bàn mà hầu hết nhân dân đều tham gia các tổ chức cứu quốc của Việt Minh, được gọi là “xã hoàn toàn”, “tổng hoàn toàn”. Đến cuối năm 1942, trong số chín châu của tỉnh Cao Bằng đã có ba châu gồm Hòa An, Hà Quảng và Nguyên Bình trở thành “châu hoàn toàn”. Tại các địa phương này, bộ máy chính quyền của địch tuy vẫn tồn tại trên danh nghĩa nhưng thực chất quyền lãnh đạo và điều hành phong trào quần chúng đã nằm trong tay các Ủy ban Việt Minh. Đây là biểu hiện sinh động cho sự lớn mạnh của phong trào cách mạng và khả năng tập hợp quần chúng rộng rãi của Mặt trận Việt Minh ở căn cứ địa Cao Bằng.
Thực hiện chủ trương của Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941), từ trung tâm căn cứ Cao Bằng, phong trào Việt Minh được đẩy mạnh, mở rộng theo nhiều hướng: “Tây tiến” sang Hà Giang, Tuyên Quang; “Đông tiến” xuống Lạng Sơn; “Nam tiến” tới Bắc Cạn. Quá trình mở rộng địa bàn hoạt động không chỉ góp phần củng cố căn cứ địa cách mạng ở Việt Bắc mà còn tạo điều kiện để liên kết phong trào giữa các địa phương, chuẩn bị cho việc phát triển lực lượng cách mạng trên phạm vi toàn quốc.
Từ thực tiễn lãnh đạo và tổ chức phong trào ở Cao Bằng cùng các địa phương lân cận, cán bộ Việt Minh ở Việt Bắc đã tổng kết nhiều kinh nghiệm quan trọng về công tác vận động quần chúng, xây dựng các đoàn thể cứu quốc và tổ chức lực lượng cách mạng. Những kinh nghiệm đó sau này được tập hợp trong cuốn Kinh nghiệm Việt Minh ở Việt Bắc xuất bản đầu năm 1944, trở thành tài liệu hướng dẫn quan trọng đối với cán bộ Việt Minh trong quá trình xây dựng và củng cố phong trào cứu quốc.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng tại các tỉnh miền núi phía Bắc, Mặt trận Việt Minh với ba tổ chức nòng cốt là Thanh niên cứu quốc, Nông dân cứu quốc và Phụ nữ cứu quốc đã từng bước mở rộng ảnh hưởng ra nhiều địa phương ở Bắc Kỳ như Hà Đông, Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Phú Thọ, Hà Nam, Sơn Tây, Phúc Yên, Hòa Bình; đồng thời phát triển tới một số tỉnh Trung Kỳ như Thanh Hóa, Quảng Bình. Sự phát triển mạnh mẽ của các đoàn thể cứu quốc cho thấy, chủ trương xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất của Đảng ngày càng có sức hấp dẫn và khả năng tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân tham gia phong trào giải phóng dân tộc.
Cuối năm 1941, chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh của Đảng đã được truyền tới bộ phận đảng viên hoạt động ở Nam Kỳ. Trong bối cảnh thực dân Pháp tiến hành khủng bố trắng khốc liệt sau cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ, các cán bộ cách mạng vẫn bí mật tổ chức in và phát hành tài liệu của Trung ương, trong đó có Chương trình Việt Minh và thư của Nguyễn Ái Quốc bằng cả chữ Quốc ngữ và chữ Hán, gửi tới nhiều địa phương như Gia Định, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Trà Vinh... Với hoạt động tuyên truyền đó, tại một số vùng ven Sài Gòn và các địa bàn như Bà Điểm, Hóc Môn (Gia Định), Đức Hòa (Chợ Lớn), Lái Thiêu (Thủ Dầu Một)... đã xuất hiện những cơ sở đầu tiên của Việt Minh.
Ở nhiều địa phương khác, đặc biệt tại Nam Kỳ, do chưa nhận được kịp thời chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh, các đảng viên và quần chúng yêu nước đã linh hoạt xây dựng nhiều hình thức tổ chức quần chúng phù hợp với điều kiện hoạt động bí mật. Tại Thủ Dầu Một xuất hiện các tổ chức như “nhóm công nhân nòng cốt”, “Hội đá banh”, “Hội nhà vàng”, “Hội đổi công”; ở Biên Hòa có các hình thức như “Hội cùng quê”, “Hội tương tế”, “Hội ái hữu”... Dưới vỏ bọc các tổ chức xã hội và tương trợ dân sinh, những hình thức tập hợp này vừa góp phần bảo vệ cán bộ, đảng viên, duy trì cơ sở cách mạng, vừa động viên tinh thần đấu tranh của quần chúng trong điều kiện bị địch đàn áp khốc liệt. Đồng thời, đây cũng là lực lượng tham gia đấu tranh đòi cải thiện đời sống, chống đánh đập, yêu cầu tăng lương, giảm mức khoán tại các đồn điền và cơ sở sản xuất của thực dân.
Từ năm 1943 trở đi, phong trào Việt Minh phát triển mạnh ra cả nước. Ở Bắc Kỳ, các cơ sở Việt Minh lan rộng xuống đồng bằng sông Hồng và vùng duyên hải; ở Trung Kỳ, nhiều tổ chức cứu quốc được thành lập ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Nam; ở Nam Kỳ, mặc dù bị khủng bố nặng nề sau Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, các cơ sở cách mạng từng bước được khôi phục. Trên phạm vi cả nước, Việt Minh trở thành lực lượng chính trị có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong nhân dân.
Sự ra đời và phát triển của Mặt trận Việt Minh đã tạo nên bước chuyển căn bản của cách mạng Việt Nam từ quá trình vận động chính trị sang thời kỳ trực tiếp chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Những đóng góp của Mặt trận Việt Minh đối với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thể hiện trên nhiều phương diện sâu sắc, toàn diện và mang ý nghĩa quyết định.
Trước hết, đóng góp lớn nhất của Mặt trận Việt Minh là đã xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới ngọn cờ độc lập dân tộc. Trong bối cảnh dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, mọi giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam đều bị áp bức, bóc lột nặng nề, mâu thuẫn dân tộc trở thành mâu thuẫn chủ yếu, chi phối đời sống chính trị - xã hội của đất nước. Trong bối cảnh đó, Đảng và Nguyễn Ái Quốc đã chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, đồng thời xây dựng một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi để tập hợp mọi lực lượng yêu nước không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị.
Khác với nhiều hình thức mặt trận trước đây còn mang tính chất liên minh chính trị, Việt Minh đã trở thành tổ chức đại diện cho quyền lợi dân tộc, lấy mục tiêu “làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập” làm cơ sở tập hợp lực lượng. Chính vì vậy, Việt Minh đã có khả năng thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, từ công nhân, nông dân, trí thức, thanh niên, phụ nữ, học sinh, tiểu thương đến cả một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ, tư sản dân tộc, chức sắc tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số. Dưới ngọn cờ Việt Minh, lợi ích giai cấp từng bước được đặt trong lợi ích tối cao của dân tộc, tạo nên sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn xã hội.
Một đóng góp đặc biệt quan trọng khác của Mặt trận Việt Minh là đã xây dựng được lực lượng chính trị quần chúng rộng khắp trong cả nước. Thông qua hệ thống các hội cứu quốc như Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Phụ lão cứu quốc, Văn hóa cứu quốc…, Việt Minh đã đưa quần chúng từ trạng thái bị động, phân tán trở thành lực lượng chính trị có tổ chức, có mục tiêu và có khả năng hành động cách mạng. Đây là bước phát triển có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám.
Các tổ chức cứu quốc của Việt Minh không chỉ làm nhiệm vụ tuyên truyền giác ngộ mà còn trực tiếp rèn luyện quần chúng trong đấu tranh cách mạng. Thông qua các phong trào chống sưu thuế, chống bắt phu, chống cướp bóc, phá kho thóc Nhật cứu đói, đấu tranh chống phát xít Nhật…, hàng triệu quần chúng được tập hợp, tổ chức và thử thách trong thực tiễn đấu tranh. Chính quá trình ấy đã hình thành lực lượng chính trị hùng hậu - nhân tố quyết định tạo nên sức mạnh áp đảo trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
Đặc biệt, Việt Minh đã làm sống dậy tinh thần dân tộc và khơi dậy mạnh mẽ ý thức độc lập trong quần chúng nhân dân. Trong bối cảnh nhiều năm bị thực dân và phát xít nô dịch, tâm lý hoang mang, sợ hãi và tự ti dân tộc còn khá nặng nề, hoạt động tuyên truyền của Việt Minh đã góp phần thức tỉnh lòng yêu nước, củng cố niềm tin vào khả năng tự giải phóng của dân tộc Việt Nam. Các tài liệu như “Kính cáo đồng bào”, “Mười chính sách của Việt Minh”, báo “Việt Nam độc lập”, các bài ca cứu quốc, các đội tuyên truyền xung phong… đã tạo nên sức cổ vũ chính trị mạnh mẽ, biến khát vọng độc lập thành hành động cách mạng cụ thể.
Mặt trận Việt Minh góp phần xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng làm nòng cốt cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc. Từ những bài học của Khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ và binh biến Đô Lương - những “tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc”, Việt Minh từng bước xây dựng lực lượng vũ trang tập trung và bán vũ trang ở nhiều địa phương.
Từ các đội tự vệ cứu quốc, du kích Bắc Sơn, Cứu quốc quân đến Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, lực lượng quân sự cách mạng ngày càng trưởng thành cả về tổ chức, chính trị và quân sự. Đặc biệt, sự ra đời của Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ngày 22/12/1944 theo chỉ thị của Hồ Chí Minh đã tạo nên bước ngoặt quan trọng trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Những chiến thắng đầu tiên của lực lượng này không chỉ có ý nghĩa quân sự mà còn có tác dụng cổ vũ to lớn đối với phong trào đấu tranh của quần chúng cả nước.
Từ căn cứ địa Cao Bằng, phong trào cách mạng dần mở rộng thành khu căn cứ Việt Bắc liên hoàn. Tháng 6/1945, Khu giải phóng Việt Bắc được thành lập gồm sáu tỉnh Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên - Thái, trở thành hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới. Tại các căn cứ này, Việt Minh đã thực hiện nhiều chính sách tiến bộ như tổ chức chính quyền nhân dân, xây dựng đời sống mới, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, phát triển văn hóa cứu quốc, xây dựng lực lượng tự vệ và bảo vệ an ninh cách mạng. Điều đó không chỉ tạo nên hậu phương vững chắc cho cách mạng mà còn chứng minh trên thực tế năng lực tổ chức và lãnh đạo của Việt Minh đối với vận mệnh dân tộc.
Đóng góp có ý nghĩa chiến lược của Việt Minh là khả năng nắm bắt thời cơ cách mạng và tổ chức lực lượng tiến hành Tổng khởi nghĩa. Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, Việt Minh đã lãnh đạo cao trào kháng Nhật cứu nước phát triển mạnh mẽ trong cả nước. Khi Nhật đầu hàng Đồng minh ngày 15/8/1945, Việt Minh đã nhanh chóng phát động Tổng khởi nghĩa trên phạm vi toàn quốc. Sự chủ động ấy phản ánh bản lĩnh chính trị và năng lực tổ chức đặc biệt của Mặt trận Việt Minh.
Quốc dân Đại hội Tân Trào tháng 8/1945 do Việt Minh triệu tập là biểu hiện tập trung cao nhất của vai trò lãnh đạo toàn dân tộc của Mặt trận Việt Minh. Đại hội đã tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa, thông qua Mười chính sách lớn của Việt Minh và cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh đứng đầu. Đây thực chất là bước chuẩn bị trực tiếp cho việc thành lập chính quyền cách mạng sau khi giành chính quyền thắng lợi.
Trong những ngày Tổng khởi nghĩa, lực lượng quần chúng do Việt Minh tổ chức đã trở thành sức mạnh áp đảo làm tan rã nhanh chóng bộ máy thống trị của đế quốc và phong kiến tay sai. Hàng triệu nhân dân ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn và các địa phương dưới lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh đã đồng loạt đứng lên giành chính quyền. Chính Việt Minh là lực lượng tổ chức, lãnh đạo, điều phối và bảo đảm cho cuộc khởi nghĩa diễn ra nhanh chóng, ít đổ máu nhưng giành thắng lợi triệt để trong phạm vi cả nước.
Việt Minh đặt nền móng cho chế độ chính trị mới ở Việt Nam. Sau khi chính quyền được thành lập, bộ máy chính quyền cách mạng ở nhiều địa phương tiếp tục dựa trên các tổ chức cứu quốc và cán bộ của Việt Minh. Điều đó cho thấy Việt Minh không chỉ hoàn thành vai trò tập hợp lực lượng đấu tranh giành chính quyền mà còn trở thành cơ sở chính trị - xã hội của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
3. Kết luận
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 gắn liền với vai trò lịch sử to lớn của Mặt trận Việt Minh. Việt Minh đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử là tập hợp lực lượng toàn dân tộc, xây dựng cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang, phát động và lãnh đạo toàn dân đứng lên giành độc lập. Đó là biểu hiện sinh động của tư tưởng đại đoàn kết dân tộc và nghệ thuật vận động quần chúng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời đại mới.
Trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Mặt trận Việt Minh vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn. Nếu như trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, Việt Minh đã tập hợp mọi giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thì hiện nay, tinh thần ấy tiếp tục được kế thừa trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Ý nghĩa của Mặt trận Việt Minh còn thể hiện ở bài học về sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, cùng những thách thức về kinh tế, văn hóa, an ninh phi truyền thống và âm mưu chia rẽ khối đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch, việc phát huy giá trị lịch sử của Mặt trận Việt Minh có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố “thế trận lòng dân”, tăng cường đồng thuận xã hội, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
_________________
Ngày nhận bài: 22/5/2026; Ngày bình duyệt: 26/5/2026; Ngày quyết định đăng: 11/6/2026.
Email tác giả: nguyenquanghoatclsd@gmail.com
Tài liệu tham khảo
ĐCSVN (2000). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 7). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 3). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng (2018). Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Tập 1) (1930-1954), Quyển 1 (1930-1945). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Võ Nguyên Giáp (2018). Những chặng đường lịch sử. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.