Nghiên cứu lý luận

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, giữ vững hòa bình, ổn định và phát triển trong bối cảnh hiện nay

13/06/2026 10:06

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.1104
Tóm tắt: Đoàn kết quốc tế là một nội dung quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh, đóng vai trò định hướng đối với đường lối đối ngoại trong tiến trình cách mạng của Việt Nam. Trên cơ sở phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế gắn với mục tiêu giữ vững hòa bình, dân chủ, tiến bộ và quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Đây là nền tảng cho việc giữ vững môi trường hoà bình, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

TS DƯƠNG MINH HUỆ
Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

TS NGUYỄN VIỆT KHOA

Trường Sỹ quan Chính trị, Bộ Quốc Phòng

file.thanhuyhanoi.vn-thanhuy-public-uploads-tintuc-2019-10-22-10001284-_def2e071-b833-4f15-a6ae-0d80c4f61d36.png
Nhân dân Ba Lan nồng nhiệt đón chào Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 7/1957_Ảnh tư liệu

1. Mở đầu

Đoàn kết quốc tế là một nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng của Người và sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở kế thừa và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tổng kết thực tiễn phong trào cách mạng thế giới và Việt Nam, Hồ Chí Minh đã hình thành hệ thống quan điểm về đoàn kết quốc tế nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, đồng thời kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và xây dựng đất nước. Đồng thời, đóng góp vào bảo vệ nền hòa bình, tiến bộ của nhân loại.

Trong bối cảnh hiện nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, đặt ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế nhằm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bài viết tập trung phân tích những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, đồng thời làm rõ sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo phát triển đất nước gắn với mục tiêu giữ vững hòa bình, ổn định và phát triển. Qua đó, góp phần khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.

2. Nội dung

2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế

Thứ nhất, đoàn kết quốc tế phải bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đoàn kết quốc tế phải luôn gắn chặt với mục tiêu cao nhất là bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc. Người xác định rõ, mọi hoạt động đối ngoại, mọi hình thức hợp tác quốc tế đều phải phục vụ trước hết cho độc lập, chủ quyền và sự phát triển của dân tộc.

Nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến” được Hồ Chí Minh vận dụng như một phương châm chiến lược trong xử lý các mối quan hệ quốc tế. Trong đó, điều “bất biến” chính là lợi ích dân tộc, “vạn biến” là sự linh hoạt trong sách lược đối ngoại. Ngay từ khi ra đi tìm đường cứu nước, Người đã khẳng định mục tiêu xuyên suốt là giành độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi” (Hồ Chí Minh, 2006, tr.112).

Ngày 14/01/1950, trong Lời tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với chính phủ các nước trên thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây đắp dân chủ thế giới” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.311). Tư tưởng này thể hiện rõ tư duy độc lập, tự chủ trong quan hệ quốc tế, đồng thời mở ra khả năng hợp tác rộng rãi nhằm bảo vệ hòa bình và thúc đẩy tiến bộ xã hội. Quan điểm đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối đối ngoại của cách mạng Việt Nam, từ thời kỳ đấu tranh giành độc lập đến giai đoạn xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước hiện nay.

Thứ hai, cách mạng Việt Nam là bộ phận của cách mạng thế giới

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh không chỉ phấn đấu, nỗ lực cho độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, mà còn đấu tranh không ngừng cho độc lập, tự do và đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới. Hồ Chí Minh là người cộng sản đầu tiên đặt nền móng giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin về đoàn kết quốc tế của giai cấp vô sản: “Trong cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản” (C.Mác - Ănghen, 1981, tr.534), Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận không tách rời của cách mạng vô sản thế giới.

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Người luôn tích cực tham gia vào các tổ chức quốc tế và phong trào cách mạng tiến bộ, góp phần xây dựng mối liên hệ giữa cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng toàn cầu. Với mục tiêu độc lập, tự do cho dân tộc và các dân tộc bị áp bức, Người sáng lập và là thành viên của các tổ chức đoàn kết quốc tế như: Hội Liên hiệp thuộc địa, Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông…

Trên cơ sở tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng vô sản, về đoàn kết quốc tế, Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ vấn đề đoàn kết quốc tế là vấn đề chiến lược, do đó, Người đã đưa ra những luận điểm đúng đắn và sáng tạo trong việc giải quyết mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc. Trong tác phẩm Đường kách mệnh, Người nêu rõ cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, đứng về phía cách mạng thế giới, đoàn kết chặt chẽ với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới. Trong Sách lược vắn tắt của Đảng (năm 1930), Người nêu rõ: “...trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập phải đồng thời tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.3).

Thứ ba, kết hợp độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường với đoàn kết quốc tế

Trong quá trình tìm đường cứu nước và giải phóng dân tộc, bằng những thực tiễn chứng minh, Nguyễn Ái Quốc đi đến nhận định: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.304). Người khẳng định, con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa là con đường của chủ nghĩa Mác - Lênin, là con đường chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất; giai cấp vô sản ở chính quốc và các dân tộc thuộc địa là bạn đồng minh của nhau trong cuộc đấu tranh tự giải phóng.

Trong Tuyên ngôn của Hội Liên hiệp thuộc địa do Người khởi thảo, Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh vai trò quyết định của chính các dân tộc bị áp bức trong sự nghiệp giải phóng, đồng thời khẳng định sự cần thiết của việc tranh thủ sự ủng hộ từ các lực lượng tiến bộ ở chính quốc: “…công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của chính bản thân anh em… với sự giúp đỡ của các đồng chí ở chính quốc đồng tình với sự nghiệp của chúng ta” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.138). Quan điểm này thể hiện rõ sự kết hợp giữa tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường với việc mở rộng đoàn kết quốc tế. Người nhiều lần khẳng định rằng đoàn kết sẽ tạo nên sức mạnh đủ để đánh bại chủ nghĩa đế quốc, nhưng để thoát khỏi ách nô lệ, trước hết các dân tộc phải dựa vào chính sức mình.

Trong quan hệ quốc tế, Hồ Chí Minh kiên định nguyên tắc độc lập, chủ quyền, nhấn mạnh độc lập phải gắn với quyền tự quyết toàn diện, không chấp nhận bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.162). Một nền độc lập thực sự, theo Người, phải bao hàm đầy đủ các yếu tố về chính trị, quân sự, kinh tế và đối ngoại: “Độc lập mà không có quân đội riêng, ngoại giao riêng, kinh tế riêng. Nhân dân Việt Nam quyết không thèm thứ thống nhất và độc lập giả hiệu ấy” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.602).

2.2. Đảng vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế

Thứ nhất, trong đoàn kết, hợp tác quốc tế, Đảng luôn bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc

Phát huy truyền thống lịch sử của dân tộc, cũng như quan điểm ngoại giao của Hồ Chí Minh, từ khi tiến hành đổi mới đất nước đến nay, Đảng luôn khẳng định mục tiêu xuyên suốt, thống nhất là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đại hội VI (năm 1986) xác định: “Đảng ta tiếp tục giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,... giữ vững độc lập tự chủ, tăng cường hợp tác quốc tế...” (ĐCSVN, 1986, tr.109). Đại hội XI (năm 2011) xác định mục tiêu đối ngoại vì lợi ích quốc gia, dân tộc và được khẳng định hơn nữa trong Văn kiện Đại hội XII (năm 2016): “bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi” (ĐCSVN, 2016, tr.34). Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) tiếp tục nêu rõ: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi” (ĐCSVN, 2021, tr.162). Đại hội XIV của Đảng (năm 2026) nhấn mạnh: “Phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước; không ngừng nâng cao tiềm lực, vai trò, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước” (ĐCSVN, 2026, tr.281).

Như vậy, các Đại hội của Đảng nhất quán khẳng định đối ngoại nhằm mục tiêu bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời nhấn mạnh đây là những lợi ích chính đáng, không mang tính vị kỷ. Những lợi ích này được xác định trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bao gồm bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, hướng tới mục tiêu chung là vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Việc bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc được hiểu là đặt lợi đó lên trên hết, trước hết, đồng thời nỗ lực hiện thực hóa điều này ở mức cao nhất có thể, trở thành tiêu chí hàng đầu để đánh giá hiệu quả của mọi hoạt động đối ngoại.

Thứ hai, góp phần giữ vững mối quan hệ đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong công cuộc đổi mới đất nước

Trong thời kỳ đổi mới, bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, song xu thế lớn và nguyện vọng thiết tha của các dân tộc vẫn là giữ vững hòa bình, mở rộng hợp tác vì sự phát triển. Trên nền tảng đại đoàn kết toàn dân tộc; sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân, sức mạnh đoàn kết quốc tế được tăng cường đã “mở rộng, tranh thủ được sự ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế trên cơ sở triển khai đồng bộ và toàn diện đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân, phát triển quan hệ tốt đẹp với nhiều chính đảng, chính phủ, quốc hội các nước, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới” (Nguyễn Phú Trọng, 2023, tr.26).

Đảng vận dụng sáng tạo tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, trở thành là quy luật thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Công tác đối ngoại tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, đồng thời huy động hiệu quả các nguồn lực bên ngoài để phục vụ phát triển đất nước, góp phần nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam. Quan hệ hợp tác quốc tế được thúc đẩy và làm sâu sắc hơn, đặc biệt với các đối tác, nhất là với các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện (tính đến ngày 29/01/2026, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 15 đối tác) (TTXVN, 2026). Trên lĩnh vực kinh tế - thương mại, Việt Nam ký kết 17 hiệp định thương mại tự do với hơn 60 đối tác, hầu hết là những nền kinh tế lớn, phủ rộng khắp các châu lục, chiếm gần 90% GDP toàn cầu. Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 194 nước là thành viên Liên hiệp quốc (VCCI, 2025). Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2025 ước đạt 920 tỷ USD, tăng 16,9% so với năm 2024, mức cao nhất từ trước tới nay. Kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa của khối FDI dự kiến đạt kỷ lục khoảng 663 tỷ USD, tăng 25% so với năm trước, chiếm tỷ trọng 72% trong tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của toàn nền kinh tế (Nguyễn Bích Lâm, 2026).

Thứ ba, độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại

Mở đầu công cuộ đổi mới, trong bối cảnh chính trị thế giới có nhiều biến động, đất nước còn nhiều khó khăn, Đại hội VI của Đảng khẳng định: “tiếp tục giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, giữ vững độc lập tự chủ, tăng cường hợp tác quốc tế” (ĐCSVN, 1986, tr.109). Đại hội VII của Đảng (năm 1991) khẳng định, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và “tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa và đa phương hóa, tranh thủ tối đa mặt đồng, hạn chế mặt bất đồng, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (ĐCSVN, 1991, tr.147-148). Đại hội VIII (năm 1996) đã mở rộng hơn cách tiếp cận nội hàm độc lập, tự chủ, nhấn mạnh: “Mở rộng quan hệ quốc tế phải trên cơ sở giữ vững độc lập tự chủ, bình đẳng và cùng có lợi” (ĐCSVN, 1996, tr.74). Đại hội IX (năm 2001) tiếp tục nhận thức, bổ sung đầy đủ hơn về mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa” (ĐCSVN, 2001, tr.43).

Tại Đại hội X (năm 2006), nhận thức về độc lập, tự chủ được đúc kết thành bài học kinh nghiệm trong quá trình đổi mới “phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” (ĐCSVN, 2006, tr.112). Đại hội XI (năm 2011), Đảng khẳng định rõ hơn khi thống nhất dùng khái niệm “độc lập, tự chủ” thay cho “độc lập tự chủ”, trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XI, các nghị quyết của Bộ Chính trị đã đưa mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế là một trong tám mối quan hệ lớn cần tập trung giải quyết.

Đại hội XII (năm 2016) của Đảng tiếp tục khẳng định quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế là một trong mười mối quan hệ lớn phải đặc biệt chú trọng. Đại hội chủ trương: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại,...” (ĐCSVN, 2016, tr.17-18). Đại hội XIII (năm 2021) tiếp tục khẳng định chủ trương đối ngoại của Đại hội XII nêu ra, đồng thời nhấn mạnh “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại” (ĐCSVN, 2021, tr.164).

Đại hội XIV nhấn mạnh yếu tố “kiên trì và sáng tạo” trong đối ngoại, nêu rõ: “Kiên trì và sáng tạo thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả…” (ĐCSVN, 2026, tr.261); “…chủ động tham gia vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu; là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích chung về hòa bình, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới” (ĐCSVN, 2026, tr.261-262).

Sự kiên định trong chủ trương, sự mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo trong sách lược đối ngoại đã đưa quan hệ ngoại giao của nước ta lên bước phát triển mới, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

3. Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế thể hiện tầm nhìn chiến lược, sâu sắc và giá trị thời đại to lớn. Những quan điểm cốt lõi đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, kết hợp chặt chẽ giữa độc lập, tự chủ với đoàn kết quốc tế đã trở thành nền tảng tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, trước những biến động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thực tiễn 40 năm đổi mới đã chứng minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên định và sáng tạo trong việc triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, qua đó không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ hiệu quả các nguồn lực bên ngoài, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Những thành tựu trong đối ngoại và hội nhập quốc tế không chỉ góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế mà còn khẳng định giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay. Trong thời gian tới, việc tiếp tục quán triệt, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng này cần được gắn chặt với yêu cầu bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời chủ động, tích cực tham gia vào các cơ chế hợp tác quốc tế, đóng góp có trách nhiệm vào hòa bình, ổn định và phát triển chung của khu vực và thế giới. Đây chính là cơ sở quan trọng để Việt Nam phát triển bền vững, thịnh vượng và khẳng định vai trò ngày càng tích cực trong cộng đồng quốc tế.

_________________

Ngày nhận bài: 11/3/2026; Ngày bình duyệt: 19/3/2026; Ngày duyệt đăng: 11/6/2026.

Email tác giả: minhhue.duong@yahoo.com.vn

C.Mác - Ph.Ănghen (1981). Tuyển tập (Tập 1). Nxb Sự thật.

ĐCSVN (1986). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Nxb Sự thật.

ĐCSVN (1991). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Nxb Sự thật.

ĐCSVN (1996). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Nxb Chính trị quốc gia.

ĐCSVN (2001). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị quốc gia.

ĐCSVN (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị quốc gia.

ĐCSVN (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb Chính trị quốc gia.

ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật,

Hồ Chí Minh (2006). Biên niên tiểu sử, (Tập1). Nxb Chính trị quốc gia.

Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 2). Nxb Chính trị quốc gia.

Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 3). Nxb Chính trị quốc gia.

Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập (Tập 5). Nxb Chính trị quốc gia.

Hồ Chí Minh (2011d). Toàn tập (Tập 6). Nxb Chính trị quốc gia.

Nguyễn Bích Lâm (2026). Xuất, nhập khẩu 2025: Kỷ lục kim ngạch, thách thức chất lượng tăng trưởng, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (2023). Phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

TTXVN (2026). 15 đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam, https://nvsk.vnanet.vn.

VCCI (2025). Việt Nam trong top 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại, https://vcci.com.vn.