Sự bóc lột sức lao động trên nền tảng mạng xã hội hiện nay
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.4850
Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chủ nghĩa tư bản có những sự chuyển đổi sâu sắc, với những biểu hiện mới trên các phương diện để thích ứng. Bài viết nhận diện cách thức bóc lột giá trị thặng dư của chủ nghĩa tư bản trên nền tảng mạng xã hội hiện nay, từ đó gợi mở việc khai thác những yếu tố tích cực trên không gian mạng.
ThS NGÔ THANH LONG
Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
TS NGUYỄN THỊ THẾ
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Trong thời đại ngày nay, việc quản lý, sử dụng lao động có những thay đổi và việc bóc lột sức lao động ngày càng tinh vi hơn. Các chiến lược quản lý mới hướng đến thúc đẩy việc sử dụng các biện pháp phù hợp để tích hợp giữa giải trí và lao động, đặc biệt trong lĩnh vực sáng tạo số.
Do vậy, lao động và giải trí trở nên khó phân biệt. Việc sử dụng thời gian rảnh rỗi hoặc giải trí, tham gia mạng xã hội cũng là một hình thức lao động, được chủ nghĩa tư bản khai thác triệt. Hiện nay, phần lớn hoạt động giải trí được chuyển hóa thành hàng hóa, sản xuất nên những “dữ liệu lớn” về thông tin, đóng góp vào kho dữ liệu cho các nhà tư bản sở hữu (trên nền tảng mạng xã hội như Facebook, Youtube). Đây chính là cơ sở tạo nên mạng lưới dữ liệu để nhà tư bản tái sản xuất ra hàng hóa và giá trị thặng dư mới.
Việc hàng hóa được “bán” cho các công ty quảng cáo bằng các thuật toán của các nhà tư bản sở hữu (sở hữu các nền tảng mạng xã hội), mà các hàng hóa này chính là các lao động không công của người dùng mạng xã hội “đóng góp” hay thực chất là lao động trực tiếp tạo nên hàng hóa cho các nhà tư bản, tạo ra giá trị thặng dư và bị tư bản bóc lột.
2. Nội dung
2.1. Cơ chế tạo ra giá trị thặng dư trên không gian mạng
Theo Khoản 22 Điều 3 Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, mạng xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác. Mạng xã hội đầu tiên trên internet là một trang web có tên SixDegree ra đời năm 1997 và đến đầu thế kỷ XXI, khái niệm mạng xã hội mới thực sự được phổ biến.
Nghiên cứu về “Mạng xã hội và chủ nghĩa tư bản” (Social Media and Capitalism) (Fuchs, 2013) đã đề cập đến việc các phương tiện truyền thông xã hội hay được gọi là mạng xã hội và internet bị chi phối bởi các tập đoàn lớn hoặc các cá nhân có sức ảnh hướng lớn. Các hoạt động duy trì và phát triển các nền tảng này trên không gian mạng mang đậm bản chất của chủ nghĩa tư bản trong thời đại ngày nay.
Xem xét các thông tin, hành vi của người dùng mạng xã hội là một dạng hàng hóa
Theo C.Mác, hàng hóa là một vật nhờ có thuộc tính của nó mà thỏa mãn được loại nhu cầu nào đó của con người: “Dù cho những nhu cầu đó do dạ dày hay do trí tưởng tượng đẻ ra, thì bản chất của chúng vẫn không làm cho vấn đề thay đổi gì cả. Vấn đề cũng không phải là ở chỗ vật đó thỏa mãn nhu cầu của con người như thế nào: hoặc giả một cách trực tiếp, với tư cách là tư liệu sinh hoạt, tức là với tư cách là vật phẩm tiêu dùng, hoặc giả một cách gián tiếp, với tư cách là tư liệu sản xuất”(3) (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2002, tr.69). Như vậy, hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu của con người, được sản xuất ra không phải để người sản xuất ra nó tiêu dùng, mà để bán.
Theo quan niệm trên, có thể hiểu các sản phẩm được tạo ra trên các nền tảng mạng xã hội là những nội dung số phục vụ cho mục đích giải trí, học tập hoặc thương mại của người tham gia, có thể thỏa mãn nhu cầu cá nhân, cũng có thể phục vụ nhu cầu sản xuất. Trong việc thỏa mãn nhu cầu sản xuất, các sản phẩm này thể hiện dưới dạng các tư liệu sản xuất cho các nhà phát triển nền tảng mạng xã hội với hình thức dữ liệu về thông tin, về hành vi người dung. Khi đó, thông tin sau này sẽ được tích hợp vào hệ thống dữ liệu lớn để tái sản xuất hoặc bán cho các nhà quảng cáo hoặc các công ty khác tùy từng mục đích của nhà thiết lập nền tảng mạng xã hội.
Theo C.Mác, giá trị của hàng hóa là lao động của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Thông tin hoặc hành vi của người dùng mạng xã hội có thể coi là hàng hóa vì chúng có giá trị kết tinh trong đó, thể hiện qua việc người sử dụng mạng xã hội có thể lao động dưới một hình thức cụ thể của một nghề nghiệp chuyên môn nhất định hoặc hoạt động có sự hao phí sức lực về trí óc, thần kinh và thậm chí là cơ bắp của người dùng mạng xã hội. Trong quá trình sản xuất ra loại hàng hóa đặc biệt đó, người dùng mạng xã hội thực sự tự do về thân thể, có khả năng chi phối sức lực lao động của bản thân; không có đủ những tư liệu sản xuất cần thiết để tự kết hợp với sức lao động của mình nhằm tạo ra các hàng hóa (phải phụ thuộc vào các thuật toán, cơ sở dữ liệu và hạ tầng chung nền tảng mạng xã hội).
Thí dụ, việc người dùng tải hình ảnh, video hoặc viết bài, đăng bình luận, gửi thư đến các liên hệ cá nhân, thêm bạn bè hoặc duyệt các hồ sơ khác trên Facebook chính là hoạt động tạo nên hàng hóa về dữ liệu - một sản phẩm có giá trị để các nhà phát triển và nhà quảng cáo liên tục theo dõi, phân tích, ghi lại dữ liệu cá nhân và các hoạt động của người dùng. Mạng xã hội bán những thông tin này như một hàng hóa cho các nhà quảng cáo. Một số bên thứ ba mua những hàng hóa này để có quyền truy cập vào dữ liệu người dùng, giám sát thông tin và hành vi của người dùng, từ đó đưa ra những gợi ý hoặc đề xuất nhằm mục đích thu hút hoặc “dụ dỗ” tiếp tục tương tác, ở lại mạng xã hội lâu hơn, để người dùng tiếp tục “lao động” sản xuất các giá trị mới theo mong muốn và nhu cầu của các tập đoàn cung cấp dịch vụ.
Những người sản xuất nội dung trên mạng xã hội là đối tượng kép của trao đổi hàng hóa. Bản thân họ là người tạo ra hàng hóa và chính họ là hàng hóa. Trong quá trình tham gia mạng xã hội, phần lớn thời gian người dùng tiếp xúc với các thông tin hoặc hàng hóa dưới dạng quảng cáo trực tuyến. Bên cạnh đó, dữ liệu cá nhân, sở thích, hành vi tương tác trong mạng xã hội và cả tương tác với các trang web khác được sử dụng cho mục tiêu quảng cáo. Vì vậy, trên không gian mạng xã hội, tất cả các hoạt động của người dùng được giám sát, ghi lại và quay trở lại chính người dùng. Nhiều quảng cáo không nhất thiết phản ánh nhu cầu và mong muốn thực sự của người dùng bởi vì quảng cáo dựa trên những giả định có tính toán, trong khi nhu cầu thực tế phức tạp và tự phát hơn nhiều.
Điều đặc biệt là, trên nền tảng mạng xã hội, người dùng vừa là người sản xuất, vừa là người sở hữu hàng hóa; chủ động đóng góp và nắm giữ một phần tư liệu sản xuất, vừa là người tham gia cải tiến phương thức sản xuất khi tham gia vào hoạt động sáng tạo, giao tiếp, xây dựng cộng đồng và tiếp tục tái sản xuất hàng hóa - nội dung. Tính đặc biệt này được quy định bởi cấu trúc phi tập trung của internet, cho phép giao tiếp đa điểm, tính mở và rộng lớn của môi trường không gian mạng. Tuy nhiên, hoạt động này của người dùng cũng có giới hạn nhất định (về thời gian, dữ liệu, định dạng, hình thức,…) được quy định bởi các thuật toán do nhà tư bản tạo ra; nhà tư bản vẫn là nhân tố nắm giữ tư liệu sản xuất và phương thức sản xuất chính.
Trên nền tảng mạng xã hội, các hàng hóa được cộng đồng “người tiêu dùng” cũng chính là những “người lao động” cải biến, thậm chí được tái sử dụng một cách linh hoạt để sản xuất ra hàng hóa có giá trị hơn với phương thức sản xuất tiên tiến hơn, tạo ra các hoạt động lâu dài, có sự tương tác mở rộng hơn; thậm chí tạo ra một “công trường tập trung” để xây dựng nên một cộng đồng mới cùng nhau khai thác, sản xuất trên một mặt hàng mới được tạo ra đó.
Về giá trị trao đổi của hàng hóa, nó được quy đổi thành giá trị tiền tệ mà các nhà khai thác có được từ khách hàng. Giá trị sử dụng của nó là vô số dữ liệu cá nhân và hành vi sử dụng bị chi phối bởi dạng hàng hóa và giá trị trao đổi. Giá trị về mặt dữ liệu có giá trị vĩnh viễn, thậm chí là không tiêu hao nếu bảo đảm một số điều kiện về mặt dữ liệu của các tập đoàn công nghệ (công tác bảo trì, bảo dưỡng, hạ tầng).
Biểu hiện của việc tạo ra giá trị thặng dư trên nền tảng mạng xã hội
Người dùng mạng xã hội, bằng lao động cụ thể của mình, sử dụng chính các thông tin, hành vi cá nhân và chuyển giá trị của chúng vào thành các sản phẩm số; bằng lao động trừu tượng, người dùng mạng xã hội tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư. Điều kiện để các thông tin và hành vi cá nhân của người dùng mạng xã hội trở thành giá trị thặng dư của nhà phát triển nền tảng đó là phải sử dụng trên chính các nền tảng mạng xã hội. Nếu không, các thông tin cá nhân và hành vi không có giá trị. Nhà tư bản - công ty phát triển nền tảng mạng xã hội thậm chí không cần phải bỏ tiền ra để mua những thông tin từ người dùng, mà người dùng tự cung cấp cho các công ty này trong quá trình sản xuất nội dung theo chính sách của nền tảng mạng xã hội.
Nếu coi các công cụ, dịch vụ được người dùng mạng xã hội sử dụng trên nền tảng mạng xã hội là một bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất mà giá trị được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm số, tức là giá trị của nó không biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất sản phẩm, được gọi là tư bản bất biến (c). Trong quá trình tham gia mạng xã hội, người dùng sẽ tạo ra một giá trị mới, lớn hơn giá trị sức lao động. Việc làm tăng giá trị này làm cho bộ phận tư bản dùng để tận dụng (mua hoặc thậm chí không cần mua) sức lao động chuyển hóa từ lượng bất biến thành lượng khả biến (tăng về lượng) trong quá trình hoạt động trên mạng xã hội của người dùng. Bộ phận tư bản dùng để tận dụng (mua hoặc không mua) sức lao động không tái hiện ra, nhưng thông qua hoạt động của người dùng mạng xã hội mà tăng lên, tức là biến đổi về lượng, có thể coi là tư bản khả biến (ký hiệu v).
Giả sử ta có giá trị thặng dư là m, thì giá trị mới sẽ là (v+m). Khi đó giá trị của sản phẩm số bao gồm c+(v+m). Trong đó (v+m) là giá trị mới do lao động sống tạo ra.
Trên nền tảng mạng xã hội, những dữ liệu của người dùng cung cấp được chuyển tới các nhà quảng cáo với mức giá thậm chí lớn hơn tư bản bất biến và tư bản khả biến (có thể xem xét trong một số trường hợp giá trị của thông tin được cung cấp). Giá trị thặng dư chứa đựng trong hàng hóa này một phần do người sử dụng tạo ra, một phần do nhân viên của các tập đoàn mạng xã hội tạo ra. Sự khác biệt ở đây là người dùng mạng xã hội không được trả tiền và bị khai thác vô hạn. Sau khi sản phẩm số trên mạng xã hội được tạo ra, dữ liệu giao dịch, quyền truy cập, không gian và thời gian quảng cáo được bán cho nhà quảng cáo, hàng hóa đó được chuyển thành tiền tệ và giá trị thặng dư.
Theo C.Mác, tỷ suất lợi nhuận là phần trăm giữa giá trị thặng dư với chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa (ký hiệu là p’)

m: giá trị thặng dư
c: tư bản bất biến (chi phí cố định)
v: tư bản khả biến (tiền lương)
Một chiến lược tích lũy tư bản là cung cấp cho người sử dụng quyền truy cập miễn phí vào các dịch vụ và nền tảng, cho phép họ sản xuất nội dung và tập hợp một số lượng lớn người dùng được bán dưới dạng hàng hóa cho các nhà quảng cáo. Nền tảng càng có nhiều người dùng thì tỷ lệ quảng cáo có thể được định giá càng cao. Mặt khác, thời gian lao động sản xuất bị tư bản khai thác là toàn bộ thời gian mà người dùng sử dụng trực tuyến và thời gian lao động này trong một khuôn khổ nhất định thì hoàn toàn không được trả lương. Công thức cho tỷ suất lợi nhuận cần được chuyển đổi cho chiến lược tích lũy này:

p' = x100%
p' = x100%
m: giá trị thặng dư, c: tư bản bất biến, v1: tiền lương trả cho công nhân cố định, v2: tiền lương trả cho người dùng mạng xã hội
Tình huống điển hình để tối đa hóa lợi nhuận là v2 tiến đến bằng 0 và v2 thay thế v1. Khi đó, tỷ suất lợi nhuận tăng lên và tỷ suất giá trị thặng dư m’ đạt tối đa (m’=m/v). Tình huống này là một trong những sự khai thác vô tận của người dùng. Tiền lương trả cho người sử dụng mạng xã hội để họ tạo ra giá trị thặng dư bằng 0 để tỷ suất giá trị thặng dư tiến tới vô cùng. Điều này có nghĩa là việc bóc lột của các công ty mạng xã hội có thể xem như một hình thức bóc lột cực đoan, trong đó những người sản xuất nội dung số hay những người tham gia mạng xã hội đang gần như lao động không công.
Để quá trình sản xuất giá trị thặng dư được tái diễn với quy mô lớn hơn, nhà tư bản không ngừng tăng quy mô tư bản để thực hiện tái sản xuất mở rộng. Theo C.Mác, muốn đạt được điều đó, tư bản phải dành để mua thêm tư liệu sản xuất và thuê thêm công nhân, tức là trong trường hợp ở đây, các nhà phát triển nền tảng cần bổ sung kinh phí để củng cố các điều kiện bảo đảm (máy chủ, dữ liệu,…) và “thuê” thêm người sử dụng mạng xã hội. Trên thực tế, các nhà phát triển dịch vụ cần đầu tư để nâng cấp các điều kiện về hạ tầng để có thêm giá trị thặng dư, tuy nhiên việc bỏ tiền để “thuê” người sử dụng mạng xã hội là gần như là không cần thiết. Chính những thuật toán được sử dụng để tạo mạng lưới xã hội và các cơ chế tìm kiếm, quảng cáo linh hoạt là cơ sở để thu hút nhiều hơn người dùng, mở rộng các hoạt động dịch vụ, tăng cường sản xuất nội dung số từ đó thúc đẩy tích lũy tư bản. Chủ nghĩa tư bản phát triển dựa trên sự tích lũy vốn ngày càng nhiều. Để đạt được điều này, các nhà tư bản phải kéo dài tuyệt đối ngày lao động (sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối) hoặc rút ngắn thời gian lao động tất yếu để kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi độ dài ngày không thay đổi (sản xuất giá trị thặng dư tương đối). Đó chính là lý do để các nền tảng mạng xã hội muốn thu hút thật nhiều người dùng và kéo dài thời gian hoạt động trên mạng xã hội của họ.
Với sự gia tăng của nội dung do người dùng tạo ra, các nền tảng mạng xã hội thu được lợi nhuận nhờ quảng cáo trực tuyến. Trong quảng cáo trực tuyến có chủ đích trên mạng xã hội, nhiều quảng cáo khác nhau có thể phát cùng lúc cho các đối tượng người sử dụng khác nhau. Hiệu quả của quảng cáo được tăng lên, phù hợp với sở thích của người tiêu dùng. Những quảng cáo này một phần được sản xuất bởi những người lao động của công ty quảng cáo; một phần bởi chính những người sử dụng internet, từ những dữ liệu do họ tạo ra. Càng có nhiều quảng cáo có chủ đích thì cơ hội được người sử dụng theo dõi và lựa chọn càng tăng lên. Quá trình chọn và mua của người dùng là quá trình hiện thực hóa giá trị thặng dư của công ty quảng cáo.
Bên cạnh đó, các nhà phát triển nền tảng mạng xã hội ngày nay đã ứng dụng nhiều công cụ để làm tăng “năng suất” sản xuất các sản phẩm số của người dùng mạng xã hội nhờ tích hợp các dịch vụ trực tiếp trên các nền tảng, như ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để hỗ trợ việc biên tập, chỉnh sửa ảnh, video, nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng cho các sản phẩm số. Thậm chí, chính người sử dụng phải bỏ ra một khoản tiền để mua các công cụ này, đồng nghĩa với việc tự trang bị cho bản thân những “công cụ lao động số” để tiếp tục bị tư bản bóc lột trên chính sức lao động của mình.
Giả sử trường hợp mọi người dừng sử dụng các dịch vụ của mạng xã hội, các nhà quảng cáo sẽ ngừng đầu tư, lợi nhuận của các tập đoàn truyền thông sẽ giảm và dẫn đến phá sản. Như vậy có thể thấy, người dùng chính là yếu tố cần thiết để tạo ra lợi nhuận trong nền kinh tế truyền thông mới.
2.3. Một số nhận xét và khuyến nghị
Chủ nghĩa tư bản hiện nay có những yếu tố mới, đặc điểm mới và vẫn tiếp tục thay đổi, thích ứng với bối cảnh mới. Lao động tạo ra giá trị thặng dư vẫn là biểu hiện của sự bóc lột lao động trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, biểu hiện của sự bóc lột này không ngoại lệ đối với bản chất của tư bản chủ nghĩa thể hiện trên nền tảng mạng xã hội.
Sự tham gia của đông đảo người dùng và sự “miễn phí” của mạng xã hội không làm thay đổi bản chất của chủ nghĩa tư bản mà trái lại, nó làm sâu sắc thêm các quy luật cốt lõi của phương thức sản xuất này dưới những hình thức tinh vi hơn. Việc phân tích bản chất tư bản chủ nghĩa thể hiện trên nền tảng mạng xã hội hiện nay giúp cho chúng ta hiểu được phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn còn thể hiện đa dạng trong thời đại số.
Trong kỷ nguyên số, mỗi hành vi tương tác của người dùng trên mạng xã hội là một dạng “lao động số” không được trả công, trực tiếp làm giàu cho các chủ sở hữu nền tảng; đồng thời khẳng định mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản - mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đang biểu hiện gay gắt trên không gian mạng. Mạng xã hội là thành tựu trí tuệ chung của nhân loại, nhưng lợi nhuận và quyền kiểm soát lại tập trung vào một số ít “người khổng lồ” công nghệ, tạo ra sự bất bình đẳng kỹ thuật số ngày càng trầm trọng.
Để khai thác giá trị tích cực của công nghệ và hạn chế sự bóc lột của tư bản nền tảng mạng xã hội, cần có chiến lược tổng thể từ cấp độ quản trị quốc gia đến nhận thức của cả cộng đồng.
Một là, từ cấp độ quản trị quốc gia
Cần xác lập chủ quyền dữ liệu, hoàn thiện khung pháp lý ràng buộc các nền tảng xuyên biên giới phải lưu trữ dữ liệu người dùng tại các địa phương và có văn phòng đại diện hợp pháp. Điều này thể hiện tính thượng tôn pháp luật và khả năng xử lý đối với các tình huống phát sinh, những vi phạm ảnh hưởng đến người dùng. Đồng thời, thiết lập cơ chế kiểm chứng thuật toán để ngăn chặn việc ưu tiên các nội dung độc hại, tin giả vì mục đích lợi nhuận (tăng tương tác). Nhà nước cần yêu cầu các nền tảng minh bạch hóa tiêu chuẩn cộng đồng và bộ lọc thông tin. Khuyến khích doanh nghiệp nội địa phát triển các nền tảng mạng xã hội, công cụ tìm kiếm có tính cạnh tranh, nhằm giảm bớt sự lệ thuộc vào các tập đoàn tư bản.
Hai là, từ góc độ người dùng
Mỗi cá nhân cần trang bị cho mình kiến thức về quyền dữ liệu và nhận diện các hình thức thao túng tâm lý của thuật toán trên các nền tảng mạng xã hội. Khi người dùng có ý thức về “giá trị lao động số” của mình, họ sẽ trở thành lực lượng giám sát hiệu quả nhất đối với các nền tảng. Ngoài ra, cần nghiên cứu các mô hình kinh tế mới, nơi người dùng có thể được hưởng lợi ích trực tiếp từ việc đóng góp dữ liệu và nội dung, thay vì chỉ là đối tượng bị khai thác một chiều.
3. Kết luận
Thông qua nghiên cứu quá trình tạo ra giá trị thặng dư trên nền tảng mạng xã hội cho thấy, bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản không hề thay đổi. Trong kỷ nguyên số, chủ nghĩa tư bản đã có những sự thích ứng, nhưng mẫu thuẫn cơ bản giữa tính chất xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất ngày càng biểu hiện gay gắt trên không gian mạng. Điều đó góp phần khẳng định giá trị khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay; khai thác những giá trị tích cực của kỷ nguyên số.
_________________
Ngày nhận: 24/02/2026; Ngày bình duyệt: 7/3/2026; Ngày quyết định đăng: 24/6/2026.
Email tác giả: thenguyenthi108@gmail.com
Tài liệu tham khảo
Fuchs, C. (2013). “Social media and capitalism”. Producing the Internet. Critical perspectives of social media, ed. Tobias Olsson, 25-44, Göteborg: Nordicom.
C.Mác và Ph.Ăngghen (2002). Toàn tập (tập 23). Nxb Chính trị quốc gia.