Văn hóa sinh thái đối với phát triển bền vững thành phố Cần Thơ
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.4983
Tóm tắt: Trên cơ sở làm rõ nội hàm của văn hóa sinh thái và phát triển bền vững, bài viết đánh giá thực trạng vai trò của văn hóa sinh thái đối với phát triển bền vững ở thành phố Cần Thơ hiện nay, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và thách thức đang đặt ra. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai trò của văn hoá sinh thái, góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững ở thành phố Cần Thơ trong thời gian tới.
ThS VŨ THỊ CÚC
Học viện Chính trị khu vực IV

1. Mở đầu
Thành phố Cần Thơ là đô thị trung tâm của vùng đồng bằng sông Cửu Long, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế của cả vùng. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 05/8/2020 của Bộ Chính trị xác định mục tiêu xây dựng thành phố Cần Thơ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành “thành phố trung tâm vùng, sinh thái, văn minh, hiện đại, mang đậm bản sắc sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long” (Bộ Chính trị, 2020, tr.3).
Sau sáp nhập, thành phố Cần Thơ bước vào giai đoạn phát triển mới với không gian phát triển rộng hơn, quy mô dân số lớn hơn và cấu trúc kinh tế - xã hội đa dạng hơn. Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, thành phố Cần Thơ mới được hình thành trên cơ sở sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Hậu Giang; sau sắp xếp, thành phố có diện tích tự nhiên 6.360,83 km², quy mô dân số 4.199.824 người. Thành phố Cần Thơ giáp các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Vĩnh Long và Biển Đông (Quốc Hội, 2025, tr.4).
Sự thay đổi này tạo ra không gian phát triển tổng hợp, kết nối đô thị trung tâm với vùng nông nghiệp, hệ thống sông, kênh, rạch, miệt vườn, khu dân cư ven sông, không gian văn hóa sông nước và các địa bàn chịu tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu. Điểm đặc thù của thành phố Cần Thơ là các yếu tố sinh thái không tồn tại như điều kiện bên ngoài của quá trình phát triển, mà gắn trực tiếp với nền tảng kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố. Hệ thống sông nước, kênh rạch, vườn cây, vùng sản xuất nông nghiệp, chợ nổi, văn hóa miệt vườn và lối sống cộng đồng vùng đồng bằng vừa tạo nên môi trường sống, vừa là nguồn lực phát triển dịch vụ, du lịch, nông nghiệp sinh thái, kinh tế nông thôn và đô thị sinh thái. Từ đặc điểm đó, văn hóa sinh thái có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển bền vững ở thành phố Cần Thơ. Văn hóa sinh thái không chỉ góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, mà còn định hướng hệ giá trị, chuẩn mực, thái độ và hành vi của các chủ thể trong sản xuất, tiêu dùng, cư trú, quản lý tài nguyên, tổ chức đời sống cộng đồng và bảo tồn bản sắc văn hóa địa phương.
Cụ thể hóa Nghị quyết của Bộ Chính trị trong bối cảnh mới, Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 28/10/2025 của Thành ủy Cần Thơ xác định mục tiêu: “Phấn đấu đến năm 2030 trở thành một cực tăng trưởng của quốc gia, giữ vai trò động lực phát triển, lan tỏa, dẫn dắt cả vùng… Đến năm 2045, là thành phố sinh thái, văn minh, hiện đại, phấn đấu thuộc nhóm thành phố phát triển khá của châu Á, trở thành thành phố đáng sống của Việt Nam” (Thành ủy Cần Thơ, 2025a, tr.6).
Tuy nhiên, thực tiễn phát triển của thành phố Cần Thơ cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, việc bảo đảm các yêu cầu của phát triển bền vững vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra. Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp sinh thái và du lịch sinh thái chưa đồng đều; quy hoạch, quản lý đô thị và nông thôn có lúc chưa lồng ghép đầy đủ các tiêu chí sinh thái; việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa gắn với không gian sông nước chưa tương xứng với tiềm năng. Bên cạnh đó, nhận thức, thái độ và hành vi sinh thái của một bộ phận người dân, doanh nghiệp và cộng đồng chưa trở thành nếp sống tự giác, thường xuyên. Vì vậy, nghiên cứu vai trò của văn hóa sinh thái đối với phát triển bền vững ở thành phố Cần Thơ hiện nay có ý nghĩa quan trọng, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc hiện thực hóa mục tiêu xây dựng thành phố Cần Thơ trở thành đô thị trung tâm vùng, sinh thái, văn minh, hiện đại, mang đậm bản sắc sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long.
2. Nội dung
2.1. Quan niệm về văn hóa sinh thái và phát triển bền vững
a) Quan niệm về văn hóa sinh thái
Văn hóa là một phạm trù có nội hàm rộng, được tiếp cận dưới nhiều góc độ như triết học, xã hội học, nhân học, sử học…Dưới góc độ triết học, văn hóa được hiểu “là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội - lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội” (Từ điển Triết học, 1986, tr. 656).
Thuật ngữ “sinh thái” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, gồm “oikos” nghĩa là nơi ở, môi trường sống và “logos” nghĩa là học thuyết, khoa học. Về mặt từ nguyên, sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh vật với môi trường sống của chúng. Khi mở rộng sang lĩnh vực xã hội, sinh thái không chỉ phản ánh mối quan hệ giữa sinh vật với tự nhiên, mà còn hàm chứa mối quan hệ hữu cơ giữa con người, xã hội và tự nhiên trong quá trình phát triển.
Văn hóa sinh thái là một bộ phận cấu thành của văn hóa nói chung, phản ánh trình độ nhận thức, hệ giá trị, chuẩn mực và phương thức ứng xử của con người trong quan hệ với tự nhiên. Nếu văn hóa nói chung bao gồm toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra thì văn hóa sinh thái là sự biểu hiện của các giá trị đó trong lĩnh vực khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo môi trường tự nhiên. Nó thể hiện ở tri thức, kinh nghiệm, phong tục, tập quán, lối sống và hành vi của cá nhân, cộng đồng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa con người với tự nhiên theo hướng hài hòa, hợp lý và bền vững.
Dưới góc độ triết học, văn hóa sinh thái là sự biểu hiện cụ thể của mối quan hệ biện chứng giữa con người, tự nhiên và xã hội. Đó là hệ thống các giá trị, chuẩn mực, tri thức, tình cảm và hành vi do con người sáng tạo, thừa nhận và duy trì trong quá trình thực tiễn lịch sử - xã hội, nhằm điều chỉnh mối quan hệ với tự nhiên theo hướng tôn trọng quy luật khách quan, sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và bảo đảm điều kiện phát triển lâu dài. Cách tiếp cận này cho thấy văn hóa sinh thái vừa có cơ sở từ thực tiễn lịch sử - xã hội, vừa phản ánh trình độ nhận thức và năng lực hành động của con người trong việc xử lý mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.
Về cấu trúc, văn hóa sinh thái gồm ba yếu tố cơ bản. Thứ nhất, giá trị và chuẩn mực sinh thái, là hạt nhân định hướng nhận thức và hành vi của con người đối với tự nhiên, thể hiện ở ý thức tôn trọng tự nhiên, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường sống, gắn phát triển kinh tế với trách nhiệm xã hội và trách nhiệm môi trường. Thứ hai, tình cảm sinh thái, biểu hiện ở sự gắn bó, trân trọng, yêu quý, lo lắng và trách nhiệm của con người đối với thiên nhiên và môi trường sống; đây là yếu tố góp phần chuyển hóa nhận thức thành động lực nội tâm của hành vi. Thứ ba, hành vi ứng xử sinh thái, là biểu hiện trực tiếp của văn hóa sinh thái trong thực tiễn, thể hiện qua cách con người sản xuất, tiêu dùng, cư trú, khai thác tài nguyên, xử lý chất thải, bảo vệ cảnh quan và tham gia các hoạt động vì môi trường.
Ba yếu tố này có quan hệ thống nhất, tác động qua lại, tạo nên nội dung và chất lượng của văn hóa sinh thái trong đời sống xã hội. Văn hóa sinh thái cho phép nhìn nhận vấn đề môi trường không chỉ từ góc độ kỹ thuật hay quản lý, mà còn từ góc độ con người, giá trị, lối sống và định hướng phát triển. Đây là cơ sở quan trọng để làm rõ vai trò của văn hóa sinh thái đối với phát triển bền vững trong bối cảnh hiện nay.
b) Quan niệm về phát triển bền vững
Quan niệm về phát triển bền vững được hình thành từ quá trình nhận thức của nhân loại trước những hệ quả tiêu cực của mô hình phát triển dựa chủ yếu vào tăng trưởng kinh tế thuần túy. Từ thế kỷ XIX, trong các tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen đã đề cập những luận điểm có giá trị phương pháp luận quan trọng về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Khi phân tích nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác chỉ ra xu hướng “nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, một mặt, tích luỹ động lực lịch sử của xã hội, nhưng mặt khác, nó lại, ngăn trở sự trao đổi chất giữa con người và đất đai, tức là ngăn trở việc hoàn lại cho đất đai các yếu tố cấu thành của nó mà con người đã sử dụng dưới hình thức tư liệu ăn mặc, tức là phá hoại điều kiện tự nhiên vĩnh cửu của sự phì nhiêu lâu dài của đất đai” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2002, tr.785). Luận điểm này cho thấy sự phát triển kinh tế nếu tách rời các quy luật tự nhiên sẽ tất yếu dẫn đến khủng hoảng sinh thái. Ph.Ăngghen cũng cảnh báo rằng, con người không thể thống trị tự nhiên một cách tùy tiện, bởi mọi hành động vi phạm quy luật tự nhiên đều dẫn đến những hậu quả nhất định. Những tư tưởng đó tuy chưa trực tiếp sử dụng thuật ngữ “phát triển bền vững” nhưng đã đặt nền tảng phương pháp luận cho việc nhận thức mối quan hệ hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường tự nhiên.
Bước ngoặt quan trọng trong sự hình thành quan niệm hiện đại về phát triển bền vững là Báo cáo Tương lai chung của chúng ta năm 1987 của Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới. Báo cáo này xác định phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Quan điểm này nhấn mạnh hai nội dung cốt lõi: đáp ứng nhu cầu chính đáng của con người, nhất là những nhu cầu thiết yếu và bảo đảm công bằng giữa các thế hệ trong sử dụng tài nguyên, môi trường. Sau Báo cáo Brundtland, quan niệm phát triển bền vững tiếp tục được bổ sung, cụ thể hóa qua các diễn đàn quốc tế như Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất tại Rio de Janeiro năm 1992, Hội nghị Johannesburg năm 2002, Hội nghị Rio+20 năm 2012 và đặc biệt là Chương trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc với 17 Mục tiêu phát triển bền vững. Qua đó, phát triển bền vững ngày càng được nhận thức toàn diện hơn, không chỉ bao gồm ba trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường, mà còn gắn với quản trị, giáo dục, bình đẳng, ứng phó biến đổi khí hậu và hợp tác quốc tế.
Ở Việt Nam, phát triển bền vững được xác định là định hướng chiến lược trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, các nghiên cứu đều thống nhất trên những nội dung cơ bản, phát triển bền vững là quá trình phát triển toàn diện, lâu dài, bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội với bảo vệ môi trường sinh thái trong một chỉnh thể thống nhất. Đó không chỉ là sự gia tăng về kinh tế, mà còn là quá trình nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của con người, đồng thời duy trì và cải thiện những điều kiện tự nhiên cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Giữa văn hóa sinh thái và phát triển bền vững có mối quan hệ chặt chẽ. Phát triển bền vững cung cấp mục tiêu và định hướng cho văn hóa sinh thái; ngược lại, văn hóa sinh thái là nền tảng tinh thần, động lực xã hội và điều kiện để phát triển bền vững được hiện thực hóa. Nếu phát triển bền vững chỉ dừng lại ở chủ trương, chính sách mà không chuyển hóa thành nhận thức, tình cảm, thái độ và hành vi của con người thì khó đạt được hiệu quả thực chất. Vì vậy, văn hóa sinh thái chính là cầu nối giữa mục tiêu phát triển bền vững với thực tiễn đời sống xã hội.
2.2. Vai trò của văn hóa sinh thái đối với phát triển bền vững ở thành phố Cần Thơ hiện nay
a) Những kết quả đạt được
Thời gian qua, vai trò của văn hóa sinh thái ở thành phố Cần Thơ đã từng bước được nhận thức và vận dụng trong quá trình phát triển, góp phần định hướng hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Vai trò đó thể hiện rõ trên ba phương diện cơ bản sau:
Thứ nhất, văn hóa sinh thái góp phần thúc đẩy phát triển bền vững về kinh tế
Trong phát triển kinh tế, văn hóa sinh thái góp phần làm chuyển biến tư duy phát triển của thành phố từ chú trọng tăng trưởng về quy mô sang quan tâm nhiều hơn đến chất lượng tăng trưởng, sử dụng hợp lý tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu. Thành phố ngày càng chú trọng đến khai thác hợp lý các giá trị tự nhiên, cảnh quan sông nước, miệt vườn, di sản văn hóa và không gian sinh thái đặc thù để phát triển dịch vụ, du lịch và nông nghiệp. Điều đó cho thấy các giá trị văn hóa sinh thái sông nước, lễ hội, di sản và cảnh quan địa phương đang từng bước trở thành nguồn lực phát triển kinh tế dịch vụ, du lịch, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao hình ảnh đô thị trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Về du lịch, năm 2025, tổng lượt khách tham quan, du lịch đến thành phố Cần Thơ đạt hơn 11 triệu lượt, tăng 18% so với năm 2024; khách lưu trú gần 5 triệu lượt, trong đó có khoảng 445.000 lượt khách quốc tế; tổng thu từ du lịch ước đạt gần 10.000 tỷ đồng, tăng 20% so với năm trước (Ánh Nguyên, 2026).
Trong nông nghiệp, thành phố đã triển khai các hoạt động khuyến nông, chuyển giao khoa học - kỹ thuật, nhân rộng mô hình sản xuất bền vững đã góp phần thay đổi tập quán sản xuất của nông dân theo hướng an toàn, tiết kiệm tài nguyên và giảm tác động tiêu cực đến môi trường. Giai đoạn 2021 - 2025, hệ thống khuyến nông thành phố tổ chức 955 lớp tập huấn với khoảng 27.715 lượt cán bộ khuyến nông, cộng tác viên và nông dân tham dự (Bùi Thị Huyền Trang, 2025); nội dung tập trung vào sản xuất lúa chất lượng cao, giảm phát thải, canh tác cây ăn trái, rau màu, chăn nuôi an toàn sinh học, nuôi trồng thủy sản bền vững, VietGAP, cơ giới hóa và ứng dụng công nghệ cao.
Ngoài ra, thành phố còn tập trung phát triển Chương trình OCOP gắn với khai thác lợi thế nông nghiệp đô thị, sản phẩm đặc trưng của địa phương và bản sắc văn hoá sông nước, qua đó góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, thúc đẩy kinh tế nông thôn và lan toả lối sản xuất, tiêu dùng theo hướng bền vững. Kế hoạch thực hiện Đề án “Mỗi xã một sản phẩm” OCOP trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2025 xác định mục tiêu phát triển sản phẩm OCOP nhằm khơi dậy tiềm năng, lợi thế khu vực nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân, góp phần cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với phát triển tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề, dịch vụ và du lịch nông thôn. Đặc biệt, kế hoạch nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế nông thôn trên cơ sở ứng dụng chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, bảo tồn giá trị văn hóa, quản lý tài nguyên, bảo tồn đa dạng sinh học, cảnh quan và môi trường nông thôn.
Những kết quả trên cho thấy, phát triển kinh tế ở thành phố Cần Thơ đang từng bước gắn với khai thác hợp lý lợi thế địa phương, nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng các mô hình sản xuất, kinh doanh thân thiện với môi trường; qua đó góp phần bảo vệ tài nguyên, giữ gìn môi trường sinh thái và thúc đẩy quá trình phát triển bền vững của thành phố trong thời gian tới.
Thứ hai, văn hóa sinh thái góp phần thúc đẩy phát triển bền vững về xã hội
Trên phương diện xã hội, vai trò của văn hóa sinh thái thể hiện ở việc góp phần xây dựng con người, lối sống và cộng đồng phát triển hài hòa, nhân văn, có trách nhiệm. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030, cũng xác định mục tiêu phát triển của thành phố theo hướng “nhanh, bền vững, hiện đại, cân bằng tổng thể, toàn diện cả ba lĩnh vực: kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường, lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực phát triển” (Thành ủy Cần Thơ, 2025b, tr.5). Điều đó cho thấy, văn hóa sinh thái không tách rời đời sống văn hóa cơ sở, mà được hình thành và lan tỏa thông qua các phong trào, mô hình và chuẩn mực ứng xử hằng ngày của cộng đồng. Khi ý thức xây dựng nếp sống văn minh và phát huy tinh thần trách nhiệm xã hội trở thành nội dung thường xuyên trong đời sống dân cư, văn hóa sinh thái sẽ từng bước chuyển hóa thành hành vi tự giác, góp phần xây dựng con người Cần Thơ văn minh, nghĩa tình, hào hiệp, trách nhiệm và thích ứng với yêu cầu phát triển bền vững. Các phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được lan tỏa rộng rãi, với hơn 94% hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa, 100% ấp, khu vực đạt chuẩn văn hóa; gần 500 tập thể và 1.000 cá nhân được khen thưởng vì có đóng góp tích cực (Thanh Xuân, 2025).
Phong trào xây dựng nông thôn mới đã góp phần củng cố sự gắn kết cộng đồng và phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong phát triển bền vững. Đến cuối năm 2025, thành phố có 59/72 xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có 13 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 2 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Lĩnh vực giáo dục và y tế tiếp tục được củng cố với gần 84% trường học trên địa bàn thành phố đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 90% (Văn Út, 2025).
Những kết quả trên cho thấy các giá trị văn hóa sinh thái đang từng bước thấm sâu vào đời sống xã hội, trở thành chuẩn mực ứng xử của người dân thành phố; qua đó tạo cơ sở để văn hóa sinh thái được giáo dục, lan tỏa và chuyển hóa thành những hành vi bền vững trong cộng đồng.
Thứ ba, văn hóa sinh thái góp phần thúc đẩy phát triển bền vững về môi trường
Thành phố tích cực triển khai các phong trào toàn dân tham gia bảo vệ môi trường, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý rác thải, hướng tới xây dựng môi trường sống sáng - xanh - sạch - đẹp. Kết quả, sau khi sáp nhập địa giới hành chính, tỷ lệ rác thải rắn sinh hoạt phát sinh tại khu vực đô thị được thu gom, xử lý đạt trên 97%, tương đương khoảng 1.712 tấn/ngày, trong đó trên 50% lượng rác được xử lý không chôn lấp (Lê Hùng, 2025). Cùng với đó, thành phố đã phát động các phong trào “Chống rác thải nhựa” trên địa bàn thành phố Cần Thơ giai đoạn 2026 - 2030 và đặt mục tiêu đến năm 2030 tất cả cơ quan, đơn vị và 103 xã, phường triển khai hoạt động giảm thiểu rác thải nhựa; giảm tối thiểu 70% việc sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần trong hội họp, hội nghị và hoạt động của cơ quan; mỗi xã, phường duy trì ít nhất một mô hình cộng đồng giảm thiểu rác thải nhựa (Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, 2026). Đây là những biểu hiện cụ thể cho thấy, văn hóa sinh thái không chỉ dừng lại ở công tác tuyên truyền, vận động, mà đang từng bước trở thành chuẩn mực ứng xử trong các cơ quan, khu dân cư và từng hộ gia đình.
Bên cạnh đó, việc hưởng ứng Ngày Trái đất, Ngày Môi trường thế giới, Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơn, Giờ Trái đất, Ngày Nước thế giới cũng đã góp phần lan tỏa rộng hơn các giá trị của văn hóa sinh thái trong cộng đồng. Thông qua các hoạt động tuyên truyền, ra quân vệ sinh môi trường, thu gom rác thải, khơi thông dòng chảy, làm sạch kênh rạch, tiết kiệm điện, nước, hạn chế sử dụng túi ni lông và sản phẩm nhựa dùng một lần, các thông điệp về sống xanh, tiêu dùng có trách nhiệm và sử dụng tiết kiệm tài nguyên từng bước đi vào đời sống xã hội. Đặc biệt, năm 2025, thành phố đã trồng gần 4,3 triệu cây xanh phân tán, vượt kế hoạch đề ra, thành phố tiếp tục đặt mục tiêu trồng hơn 1,8 triệu cây xanh phân tán các loại vào năm 2026 (An Nhiên, 2026). Những kết quả này có ý nghĩa thiết thực trong việc mở rộng không gian xanh, cải thiện cảnh quan đô thị, góp phần điều hòa khí hậu và xây dựng môi trường sống ngày càng trong lành, bền vững hơn.
b) Những hạn chế, khó khăn
Bên cạnh những kết quả đạt được, vai trò của văn hóa sinh thái đối với phát triển bền vững ở thành phố Cần Thơ thời gian qua vẫn còn một số hạn chế cần tiếp tục được quan tâm.
Thứ nhất, trên phương diện kinh tế, việc chuyển hóa văn hóa sinh thái thành động lực phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn còn chưa thật sự đồng đều và sâu rộng. Một số mô hình nông nghiệp sinh thái, du lịch sinh thái, OCOP gắn với bảo tồn tài nguyên, cảnh quan và bản sắc địa phương đã được triển khai nhưng quy mô còn nhỏ, sức lan tỏa chưa mạnh, giá trị gia tăng chưa tương xứng với tiềm năng. Một bộ phận doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất đã quan tâm hơn đến sản xuất sạch, tiêu dùng xanh, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, song việc áp dụng trong thực tiễn còn gặp khó khăn do hạn chế về vốn, công nghệ, kỹ năng quản trị, liên kết thị trường và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn xanh. Vì vậy, văn hóa sinh thái tuy đã góp phần định hướng phát triển kinh tế bền vững nhưng chưa trở thành động lực mạnh mẽ trong đổi mới mô hình tăng trưởng của thành phố.
Thứ hai, trên phương diện xã hội, nhận thức và hành vi thể hiện văn hóa sinh thái của một bộ phận người dân chưa thật sự ổn định, chưa trở thành nếp sống thường xuyên. Các phong trào xây dựng đời sống văn hóa, gia đình văn hóa, khu dân cư văn minh, nông thôn mới, đô thị văn minh đã tạo chuyển biến tích cực nhưng ở một số nơi vẫn còn biểu hiện hình thức; sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng lối sống xanh, tiêu dùng có trách nhiệm, bảo vệ cảnh quan và không gian sống chung chưa đồng đều giữa các khu vực, nhóm dân cư. Việc giáo dục văn hóa sinh thái trong gia đình, nhà trường, cộng đồng và các tổ chức đoàn thể có lúc chưa sâu, chưa thường xuyên nên chưa tạo được sự chuyển biến bền vững từ nhận thức đến thói quen, hành vi và chuẩn mực xã hội.
Thứ ba, trên phương diện môi trường, vấn đề ô nhiễm, chất thải, nước thải, rác thải sinh hoạt và suy giảm chất lượng môi trường vẫn còn là thách thức lớn. Quá trình đô thị hóa, mở rộng không gian phát triển, gia tăng dân số, phát triển công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp hàng hóa tạo sức ép ngày càng lớn lên hạ tầng môi trường. Công tác phân loại rác thải tại nguồn, thu gom, tái chế và xử lý rác thải ở một số địa bàn còn chưa đồng bộ; tình trạng xả rác không đúng nơi quy định, rác thải nhựa, nước thải sinh hoạt, ô nhiễm kênh rạch và ô nhiễm cục bộ tại một số khu dân cư, chợ, tuyến đường, khu vực ven sông vẫn còn diễn ra. Điều đó cho thấy việc chuyển hóa ý thức sinh thái thành hành vi môi trường cụ thể, thường xuyên và tự giác vẫn là yêu cầu cấp thiết trong thời gian tới.
2) Những thách thức
Thứ nhất, khoảng cách giữa nhận thức sinh thái và hành vi sinh thái còn khá rõ. Mặc dù nhận thức về bảo vệ môi trường, lối sống xanh, tiêu dùng có trách nhiệm đã có chuyển biến nhưng ở một bộ phận người dân, doanh nghiệp và cộng đồng, ý thức sinh thái chưa thật sự trở thành thói quen tự giác, thường xuyên. Tình trạng xả rác không đúng nơi quy định, sử dụng lãng phí tài nguyên, chưa chủ động phân loại rác tại nguồn, còn thờ ơ với các vấn đề môi trường ở nơi cư trú cho thấy việc chuyển hóa nhận thức thành hành động vẫn là yêu cầu cấp thiết.
Thứ hai, yêu cầu phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn ngày càng cao, trong khi năng lực thực hiện của nhiều chủ thể còn hạn chế. Các mô hình nông nghiệp sinh thái, du lịch sinh thái, OCOP bền vững, sản xuất sạch và tiêu dùng xanh đã bước đầu hình thành nhưng quy mô còn nhỏ, sức lan tỏa chưa mạnh. Nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất còn thiếu vốn, công nghệ, nhân lực, kỹ năng quản trị và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn xanh nên việc đưa văn hóa sinh thái vào hoạt động kinh tế chưa đồng đều.
Thứ ba, lối sống xanh và nếp sống văn hóa sinh thái chưa trở thành chuẩn mực phổ biến trong toàn xã hội. Các phong trào xây dựng đời sống văn hóa, nông thôn mới, đô thị văn minh đã tạo chuyển biến tích cực nhưng ở một số nơi vẫn còn biểu hiện hình thức; sự tham gia của người dân trong xây dựng môi trường sống xanh, sạch, đẹp chưa đồng đều giữa các địa bàn, nhóm dân cư. Việc giáo dục văn hóa sinh thái trong gia đình, nhà trường, cộng đồng và các tổ chức xã hội có lúc chưa thường xuyên, chưa tạo được chiều sâu bền vững.
Thứ tư, vấn đề môi trường từ đô thị hóa, công nghiệp hóa và biến đổi khí hậu ngày càng lớn. Thành phố Cần Thơ đang chịu sức ép từ rác thải sinh hoạt, nước thải, rác thải nhựa, ô nhiễm kênh rạch, ngập đô thị, sạt lở, suy giảm nguồn nước và các rủi ro sinh thái khác. Những vấn đề này không chỉ đòi hỏi đầu tư hạ tầng và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu xây dựng trách nhiệm sinh thái thường xuyên của từng cộng đồng dân cư, doanh nghiệp và người dân.
Thứ năm, cơ chế phối hợp và nguồn lực cho xây dựng văn hóa sinh thái chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn. Việc phát huy vai trò của văn hóa sinh thái cần sự tham gia đồng bộ của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, doanh nghiệp, nhà trường và nhân dân. Tuy nhiên, công tác phối hợp, nguồn lực cho truyền thông sinh thái, hạ tầng môi trường, chuyển đổi mô hình sản xuất xanh và nhân rộng các mô hình hiệu quả vẫn còn hạn chế.
2.3. Một số giải pháp phát huy vai trò của văn hoá sinh thái đối với phát triển bền vững ở thành phố Cần Thơ
Từ những thách thức đang đặt ra, để tiếp tục phát huy vai trò của văn hóa sinh thái đối với phát triển bền vững ở thành phố Cần Thơ thời gian tới, cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, tiếp tục nâng cao nhận thức và chuyển hóa nhận thức sinh thái thành hành vi tự giác của các chủ thể. Thành phố cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về văn hóa sinh thái trong cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp, học sinh, sinh viên và nhân dân; làm rõ mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Nội dung tuyên truyền cần cụ thể, gần gũi, gắn với đời sống hằng ngày như tiết kiệm điện, nước, hạn chế rác thải nhựa, phân loại rác tại nguồn, tiêu dùng xanh, giữ gìn cảnh quan nơi ở, nơi làm việc và không gian công cộng. Qua đó, từng bước hình thành thói quen sống xanh, sống có trách nhiệm và ứng xử hài hòa với môi trường.
Thứ hai, gắn xây dựng văn hóa sinh thái với phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Cần khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất đổi mới công nghệ, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải, phát triển sản xuất sạch và tiêu dùng xanh. Thành phố cần ưu tiên nhân rộng các mô hình nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp tuần hoàn, lúa chất lượng cao phát thải thấp, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, sản phẩm OCOP gắn với bảo tồn cảnh quan, tài nguyên và văn hóa địa phương. Đồng thời, cần hỗ trợ vốn, khoa học - công nghệ, đào tạo kỹ năng quản trị và kết nối thị trường để các chủ thể kinh tế có điều kiện chuyển đổi sang mô hình phát triển bền vững hơn.
Thứ ba, xây dựng lối sống xanh và nếp sống văn minh sinh thái trong cộng đồng. Cần lồng ghép nội dung văn hóa sinh thái vào phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng gia đình văn hóa, khu dân cư văn minh, nông thôn mới, đô thị văn minh. Gia đình, nhà trường, cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể và cơ sở tôn giáo cần phát huy vai trò trong giáo dục lối sống nhân văn, tiết kiệm, trách nhiệm với cộng đồng và tôn trọng tự nhiên. Việc xây dựng con người Cần Thơ văn minh, nghĩa tình, sáng tạo, có trách nhiệm với môi trường cần được xem là nội dung quan trọng của phát triển xã hội bền vững.
Thứ tư, tăng cường quản lý môi trường và xử lý hiệu quả các vấn đề bức xúc từ cơ sở. Thành phố cần thực hiện đồng bộ việc phân loại rác tại nguồn, thu gom, tái chế và xử lý rác thải; kiểm soát nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất, rác thải nhựa, ô nhiễm kênh rạch, chợ, khu dân cư, khu công nghiệp và khu du lịch. Cùng với đó, cần tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm hành vi xả rác, xả thải không đúng quy định; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong bảo vệ môi trường. Đây là giải pháp quan trọng để biến ý thức sinh thái thành hành động cụ thể, thường xuyên và có hiệu quả thực tế.
Thứ năm, nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ bản sắc văn hoá sinh thái sông nước. Cần gắn xây dựng văn hóa sinh thái với phòng, chống ngập đô thị, sạt lở, suy giảm nguồn nước, ô nhiễm kênh rạch và các rủi ro sinh thái khác. Thành phố cần bảo vệ hệ thống sông, kênh, rạch, không gian xanh, vườn cây, vùng nông nghiệp và các không gian sinh thái đặc thù; đồng thời khuyến khích người dân tham gia giữ gìn cảnh quan, nguồn nước và môi trường sống. Đây là điều kiện quan trọng để thành phố Cần Thơ phát triển theo hướng đô thị sinh thái, văn minh, hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hoá sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế phối hợp và huy động nguồn lực cho xây dựng văn hóa sinh thái. Việc xây dựng văn hóa sinh thái cần có sự tham gia đồng bộ của cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, doanh nghiệp, nhà trường, cơ sở tôn giáo và từng người dân. Cần ưu tiên nguồn lực cho hạ tầng môi trường, truyền thông sinh thái, chuyển đổi số trong quản lý môi trường, đào tạo nguồn nhân lực xanh và nhân rộng các mô hình cộng đồng xanh, sạch, đẹp. Đồng thời, cần đưa tiêu chí văn hóa sinh thái vào đánh giá các phong trào thi đua, xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, khu dân cư và gia đình văn hóa.
3. Kết luận
Văn hóa sinh thái có vai trò quan trọng trong phát triển bền vững ở thành phố Cần Thơ, nhất là trong bối cảnh thành phố mở rộng không gian phát triển, đẩy mạnh đô thị hóa và chịu tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu. Với đặc thù là đô thị trung tâm vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi các yếu tố sông nước, miệt vườn, nông nghiệp, du lịch và đời sống cộng đồng gắn bó chặt chẽ với môi trường tự nhiên thì văn hóa sinh thái chính là một trong những nền tảng để nâng cao chất lượng sống và định hướng mô hình phát triển của thành phố. Phát huy vai trò của văn hóa sinh thái chính là quá trình chuyển hóa các mục tiêu phát triển bền vững thành hệ giá trị, chuẩn mực, thái độ và hành vi cụ thể của các chủ thể trong đời sống xã hội. Trong thời gian tới, thành phố cần tiếp tục đặt văn hóa sinh thái vào vị trí xứng đáng trong chiến lược phát triển, coi đây là động lực nội sinh quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng thành phố Cần Thơ trở thành đô thị trung tâm vùng, sinh thái, văn minh, hiện đại, mang đậm bản sắc sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long.
_________________
Ngày nhận bài: 2/6/2026; Ngày bình duyệt: 10/6/2026; Ngày duyệt đăng: 21/6/2026.
Email tác giả: vtcuc40@gmail.com
TÀI LIỆU THAM KHẢO
An Nhiên (23/2/2026). Cần Thơ Phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Bính Ngọ 2026. Cổng Thông tin điện tử thành phố Cần Thơ. https://www.cantho.gov.vn.
Ánh Nguyên (15/1/2026). Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổng kết năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026. Cổng Thông tin điện tử thành phố Cần Thơ. https://www.cantho.gov.vn.
Bộ Chính trị (2020). Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 05/8/2020 về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bùi Thị Huyền Trang (21/12/2025). Cần Thơ: Tổng kết hoạt động khuyến nông giai đoạn 2021-2025. Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ. https://sonnmt.cantho.gov.vn.
C.Mác và Ph. Ăngghen (2002). Toàn tập (Tập 23). Nxb Chính trị quốc gia.
Thành ủy Cần Thơ (2025). Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 28/10/2025 về Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số: 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Từ điển triết học (1986). Nxb Sự thật.
Thanh Xuân (11/12/2025). Cần Thơ phát huy sức mạnh văn hóa cho sự phát triển bền vững trong giai đoạn mới. Cổng Thông tin điện tử thành phố Cần Thơ. https://www.cantho.gov.vn. Văn Út (6/12/2025). Cần Thơ: Phát triển kinh tế gắn với nâng cao chất lượng sống người dân nông thôn. https://nhandan.vn.
Lê Hùng (2025). TP Cần Thơ: Siết chặt quản lý rác thải, hướng đến đô thị xanh. Bộ Nông nghiệp và Môi trường. https://mae.gov.vn.
Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ (2026). Kế hoạch số: 133/KH-UBND ngày 31/3/2026 về Phát động Phong trào “Chống rác thải nhựa” trên địa bàn thành phố Cần Thơ giai đoạn 2026 - 2030.