Thực tiễn

Tỉnh Bắc Ninh đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với tiếp cận quản trị công hiện đại trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

01/07/2026 10:24

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.6243
Tóm tắt: Bắc Ninh đã đạt những kết quả nổi bật về cải cách hành chính, đồng thời xuất hiện bước đầu các yếu tố như phục vụ người dân, ứng dụng dữ liệu và tăng cường tương tác. Tuy nhiên, quá trình này còn nhiều hạn chế về tư duy, dữ liệu, kiểm soát quyền lực và năng lực cán bộ. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề đặt ra đối với cải cách hành chính trong bối cảnh mới; phân tích thực tiễn tỉnh Bắc Ninh; và rút ra một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng cải cách hành chính gắn với tiếp cận quản trị công hiện đại.

ThS TRẦN THỊ KIM DUNG
ThS NGUYỄN MINH HIẾU
Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh

bac ninh
Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Bắc Ninh_Ảnh: IT

1. Mở đầu

Đại hội XIV của Đảng xác định lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ “Xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả” (ĐCSVN, 2026, tr.126). Đây vừa là định hướng chiến lược, vừa là yêu cầu cấp thiết đối với việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong giai đoạn mới. Dù đã đạt được nhiều kết quả quan trọng về hoàn thiện thể chế, thủ tục hành chính và tổ chức bộ máy, cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay cần tiếp tục được đẩy mạnh theo hướng nâng cao chất lượng phục vụ, tăng cường ứng dụng dữ liệu và mở rộng tương tác giữa chính quyền với người dân, doanh nghiệp. Thực tiễn tỉnh Bắc Ninh là minh chứng sinh động khi địa phương này chuẩn hóa thủ tục hành chính, rút ​​​​ngắn thời gian giải quyết và đạt tỷ lệ hài lòng cao trong nhân dân. Qua đó, làm rõ cải cách hành chính là nền tảng, đồng thời đang được phát triển theo hướng tiếp cận các yếu tố của quản trị công hiện đại.

2. Nội dung

2.1. Những yêu cầu mới đối với cải cách hành chính trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Cải cách hành chính và những vấn đề đặt ra trong bối cảnh mới

Trong tiến trình đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam, cải cách hành chính được xác định là một trong những khâu đột phá nhằm xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại. Quan điểm này được thể chế hóa trong Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ về Ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030, với các nội dung toàn diện từ thể chế, thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy đến chế độ công vụ và chuyển đổi số.

Thực tiễn triển khai, cải cách hành chính đã đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, đơn giản hóa thủ tục, tinh gọn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Tỉnh Bắc Ninh, trong năm 2025 đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp kiểm soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Tuy nhiên, cải cách hành chính cũng đang bộc lộ một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện. Trong đó, chủ yếu tập trung vào hoàn thiện quy trình, thủ tục và tổ chức bộ máy, tức là về “cải cách bên trong” của hệ thống hành chính, trước thực tiễn đòi hỏi phải nâng cao chất lượng phục vụ và khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân, doanh nghiệp. Việc ứng dụng công nghệ số và khai thác dữ liệu trong quản lý nhà nước đã được đẩy mạnh, nhưng chưa thực sự trở thành nền tảng cốt lõi của hoạt động điều hành. Cơ chế phối hợp, liên thông giữa các cơ quan còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả cung ứng dịch vụ công.

Những vấn đề trên cho thấy, cải cách hành chính cần tiếp tục được đẩy mạnh, gắn với nâng cao chất lượng phục vụ và hiệu quả quản lý nhà nước trong điều kiện mới.

Tiếp cận quản trị công hiện đại - hướng phát triển của cải cách hành chính

Trong khoa học quản lý công, quản trị công hiện đại được hiểu là cách thức tổ chức và vận hành nhà nước theo hướng hiệu lực, hiệu quả, minh bạch, đề cao trách nhiệm giải trình và sự tham gia của xã hội. Theo cách tiếp cận phổ biến, quản trị công hiện đại được đặc trưng bởi các yếu tố cơ bản, như: lấy người dân làm trung tâm phục vụ; quản lý dựa trên dữ liệu và công nghệ số; tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và tương tác giữa Nhà nước với xã hội.

Ở Việt Nam, yêu cầu đổi mới phương thức quản trị quốc gia đã được Đảng ta đặt ra ngày càng rõ nét trong Văn kiện Đại hội XIII và Đại hội XIV. Đại hội XIII của Đảng xác định nhiệm vụ “đổi mới phương thức quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả” (ĐCSVN, 2021, tr.203), đồng thời xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dân, chuyên nghiệp, hiện đại. Đây là bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý nhà nước, từ chỗ nhấn mạnh chức năng quản lý sang coi trọng chất lượng phục vụ và hiệu quả điều hành. Trên cơ sở đó, Đại hội XIV tiếp tục phát triển sâu sắc hơn tư duy về quản trị quốc gia, không chỉ dừng ở yêu cầu hiện đại hóa nền hành chính, mà đặt ra định hướng xây dựng “hệ thống quản lý nhà nước, quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, phục vụ và kiến tạo phát triển, xây dựng chính phủ số, chính quyền số” (ĐCSVN, 2026, tr.129), đồng thời nhấn mạnh yêu cầu “xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả” (ĐCSVN, 2026, tr.126).

Điều đó cho thấy, đổi mới quản trị quốc gia trong giai đoạn hiện nay không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, mà còn hướng tới xây dựng một nền quản trị lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, tăng cường tính công khai, minh bạch, khả năng thích ứng và năng lực kiến tạo phát triển của Nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Từ góc độ đó, cần nhận thức rõ, quản trị công hiện đại không phải là một mô hình tách rời hay thay thế cải cách hành chính, mà là hướng phát triển của cải cách hành chính trong điều kiện mới.

Yêu cầu tiếp tục cải cách hành chính theo chủ trương của Đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là mục tiêu được xác định rõ trong các văn kiện của Đảng. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã nhấn mạnh yêu cầu xây dựng nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp, hiện đại, đồng thời đổi mới phương thức quản trị quốc gia.

Đại hội XIV của Đảng tiếp tục đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng quản trị nhà nước gắn với phát triển chính quyền số, kinh tế số, xã hội số và tăng cường kiểm soát quyền lực. Điều này cho thấy, cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay không chỉ nhằm hoàn thiện bộ máy và thủ tục, mà cần hướng tới nâng cao chất lượng phục vụ, hiệu quả điều hành và khả năng thích ứng của nhà nước trước những biến đổi nhanh của xã hội.

Từ góc độ đó, cải cách hành chính không chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện thể chế, thủ tục và tổ chức bộ máy, mà cần tiếp tục được đẩy mạnh theo hướng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời từng bước tiếp cận các nguyên tắc của quản trị công hiện đại phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam.

2.2. Kết quả cải cách hành chính và sự hình thành một số yếu tố của quản trị công hiện đại tại Bắc Ninh

Thực tiễn triển khai cải cách hành chính tại tỉnh Bắc Ninh trong năm 2025 cho thấy một xu hướng vận động đáng chú ý: cải cách hành chính không chỉ được triển khai đồng bộ trên các lĩnh vực, mà còn đạt tới mức độ chuẩn hóa cao trong tổ chức và vận hành nền hành chính địa phương. Tuy nhiên, chính quá trình này cũng làm bộc lộ những hạn chế xuất phát từ bản thân mô hình cải cách hành chính, đồng thời bước đầu xuất hiện một số yếu tố tiếp cận với tư duy quản trị công hiện đại.

Trước hết, xét trên phương diện cải cách hành chính, Bắc Ninh đã đạt được những kết quả nổi bật, thể hiện sự phát triển tương đối toàn diện trên các trụ cột của nền hành chính nhà nước. Trong lĩnh vực cải cách thể chế, việc ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong năm 2025 không chỉ phản ánh khối lượng công việc lớn, mà cho thấy năng lực phản ứng chính sách của chính quyền địa phương trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Các văn bản được ban hành đúng quy trình, kịp thời cập nhật trên cơ sở dữ liệu quốc gia, bảo đảm tính công khai, minh bạch và khả năng tiếp cận của người dân, doanh nghiệp. Điều này góp phần củng cố nền tảng pháp lý cho quản lý nhà nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.

Trong cải cách thủ tục hành chính, kết quả đạt được có tính đột phá về cả quy mô và chất lượng: Việc cắt giảm, đơn giản hóa 742 thủ tục hành chính, tương ứng giảm 34,3% thời gian giải quyết, cùng với việc thay thế thành phần hồ sơ bằng khai thác dữ liệu đối với 46,59% thủ tục, cho thấy nỗ lực mạnh mẽ trong việc giảm chi phí tuân thủ và nâng cao hiệu quả phục vụ; đặc biệt, việc triển khai thực hiện 100% thủ tục hành chính không phụ thuộc địa giới hành chính với 2.176/2.176 thủ tục được áp dụng trên toàn tỉnh đã làm thay đổi căn bản phương thức cung ứng dịch vụ công, từ mô hình hành chính theo lãnh thổ sang mô hình phục vụ theo nhu cầu của người dân và doanh nghiệp (UBND tỉnh Bắc Ninh, 2025).

Hiệu quả của cải cách thủ tục hành chính được thể hiện rõ qua quy mô và chất lượng giải quyết hồ sơ. Năm 2025 toàn tỉnh tiếp nhận trên 1,15 triệu hồ sơ, trong đó tỷ lệ giải quyết đúng và trước hạn đạt 99,61%. Con số này không chỉ phản ánh năng lực xử lý công việc của hệ thống hành chính, mà còn cho thấy mức độ ổn định và tính chuyên nghiệp trong vận hành. Đồng thời, tỷ lệ số hóa hồ sơ đạt trên 94%, tỷ lệ khai thác, sử dụng lại dữ liệu đạt trên 91% cho thấy chuyển đổi số đã trở thành một cấu phần quan trọng của cải cách hành chính (UBND tỉnh Bắc Ninh, 2025).

Trong cải cách tổ chức bộ máy, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp gắn với sắp xếp đơn vị hành chính đã tạo ra sự thay đổi có tính cấu trúc. Việc giảm từ 28 sở xuống còn 14 sở và tương đương; giảm 47,42% số phòng; đồng thời sắp xếp 313 đơn vị hành chính cấp xã còn 99 đơn vị (UBND tỉnh Bắc Ninh, 2025) không chỉ nhằm tinh gọn bộ máy, mà còn hướng tới nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Việc tổ chức lại bộ máy theo hướng tinh gọn, phân cấp mạnh cho cơ sở là điều kiện quan trọng để nâng cao tính chủ động và linh hoạt trong quản lý.

Từ những kết quả trên, cải cách hành chính ở Bắc Ninh đã đạt tới mức độ chuẩn hóa cao trên các phương diện thể chế, thủ tục và tổ chức bộ máy. Tuy nhiên, dưới góc độ lý luận, cải cách hành chính về bản chất vẫn là quá trình hoàn thiện phương thức quản lý hành chính nhà nước theo hướng hợp lý hóa và hiệu quả hóa hệ thống. Khi đạt tới một trình độ nhất định, mô hình này bắt đầu bộc lộ giới hạn, thể hiện ở việc các cải tiến chủ yếu vẫn tập trung vào quy trình và tổ chức nội bộ, trong khi chưa chuyển hóa đầy đủ sang tạo lập giá trị công - đặc trưng cốt lõi của quản trị công hiện đại.

Trên nền tảng đó, thực tiễn Bắc Ninh đã xuất hiện một số yếu tố bước đầu tiếp cận với quản trị công hiện đại, song còn mang tính cục bộ, rời rạc chưa hình thành một hệ thống hoàn chỉnh, đó là:

Yếu tố “phục vụ” ngày càng được đề cao trong hoạt động của nền hành chính. Việc đặt mục tiêu duy trì tỷ lệ hài lòng của người dân và doanh nghiệp ở mức tối thiểu 90%, cùng với các mô hình như: hỗ trợ thực hiện thủ tục hành chính tại nhà, ngoài giờ hành chính, cho thấy sự chuyển biến trong nhận thức từ “quản lý” sang “phục vụ”. Tuy nhiên, sự chuyển biến này mới chủ yếu diễn ra trong khâu thực thi, trong khi quá trình xây dựng chính sách vẫn mang tính hành chính truyền thống.

Yếu tố quản lý dựa trên dữ liệu từng bước được hình thành thông qua quá trình số hóa và tích hợp hệ thống thông tin. Việc xây dựng quy trình điện tử đối với 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện và tỷ lệ số hóa hồ sơ ở mức cao tạo nền tảng cho chính quyền điện tử và chính quyền số. Tuy nhiên, dữ liệu hiện vẫn chủ yếu được sử dụng để phục vụ xử lý thủ tục hành chính, chưa thực sự trở thành công cụ hỗ trợ ra quyết định, phân tích chính sách - một đặc trưng quan trọng của quản trị công hiện đại.

Yếu tố tương tác giữa chính quyền với người dân và doanh nghiệp được mở rộng thông qua các hoạt động đối thoại và tiếp nhận phản ánh, kiến nghị. Việc tiếp nhận và xử lý 1.343 phản ánh, kiến nghị trong năm 2025 (UBND tỉnh Bắc Ninh, 2025) cho thấy, kênh phản hồi xã hội đã được chú trọng. Tuy nhiên, các hoạt động này vẫn chủ yếu mang tính phản ứng hành chính, chưa hình thành cơ chế tham gia thực chất của người dân và doanh nghiệp trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách.

Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình cải cách hành chính tại Bắc Ninh cũng bộc lộ những khó khăn, thách thức. Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức phải làm việc với cường độ cao để bảo đảm hoạt động thông suốt. Điều này cho thấy áp lực lớn trong quá trình chuyển đổi tổ chức và phương thức vận hành.

Đồng thời, mặc dù chuyển đổi số được đẩy mạnh, nhưng năng lực khai thác, sử dụng dữ liệu trong quản lý, điều hành còn hạn chế; việc phân cấp, phân quyền chưa đi đôi với cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình tương xứng. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là ở cấp cơ sở, vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu của cải cách hành chính trong bối cảnh chuyển đổi số và hiện đại hóa nền hành chính.

Tóm lại, cải cách hành chính ở Bắc Ninh đã đạt được những kết quả nổi bật, tạo nền tảng quan trọng cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Tuy nhiên, quá trình này vẫn đang vận hành chủ yếu trong khuôn khổ của cải cách hành chính, trong khi việc tiếp cận các yếu tố của quản trị công hiện đại mới ở giai đoạn hình thành, chưa mang tính hệ thống. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính theo chiều sâu, gắn với từng bước đổi mới phương thức quản lý nhà nước, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới.

2.3. Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn Bắc Ninh

Từ thực tiễn triển khai cải cách hành chính và sự hình thành một số yếu tố của quản trị công hiện đại tại tỉnh Bắc Ninh, có thể rút ra một số vấn đề mang tính khái quát, phản ánh yêu cầu tiếp tục đổi mới phương thức quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay.

Trước hết, cải cách hành chính cần được tiếp tục đẩy mạnh theo hướng chuyển đổi tư duy từ “quản lý” sang “phục vụ”. Mặc dù tỷ lệ giải quyết hồ sơ đúng hạn đạt 99,61% và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đạt từ 90% trở lên (UBND tỉnh Bắc Ninh, 2025), song các kết quả này chủ yếu phản ánh hiệu quả của việc chuẩn hóa quy trình và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công. Điều đó đặt ra yêu cầu cần chuyển đổi sâu hơn về tư duy quản trị, trong đó việc lấy người dân làm trung tâm không chỉ dừng ở khâu thực hiện thủ tục hành chính, mà phải được thể hiện xuyên suốt trong quá trình xây dựng và tổ chức thực thi chính sách.

Thứ hai, đẩy mạnh cải cách hành chính đòi hỏi phải chuyển từ số hóa quy trình sang quản trị dựa trên dữ liệu. Thực tiễn cho thấy, Bắc Ninh đã đạt được những kết quả đáng kể trong số hóa với 100% thủ tục hành chính được thực hiện không phụ thuộc địa giới hành chính, 100% quy trình nội bộ được điện tử hóa và tỷ lệ số hóa hồ sơ đạt trên 94% (UBND tỉnh Bắc Ninh, 2025). Tuy nhiên, dữ liệu hiện vẫn chủ yếu phục vụ xử lý thủ tục hành chính, chưa được khai thác hiệu quả trong công tác phân tích, dự báo và ra quyết định. Điều này đặt ra yêu cầu phải phát triển đồng bộ hạ tầng dữ liệu, thể chế dữ liệu và năng lực khai thác dữ liệu, để từng bước hình thành quản trị công dựa trên dữ liệu.

Thứ ba, quá trình đẩy mạnh cải cách hành chính ở tỉnh Bắc Ninh gắn với tinh gọn bộ máy và phân cấp, phân quyền cần đi đôi với hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy đã được triển khai mạnh mẽ, cụ thể: giảm số đầu mối cấp sở và tương đương, đồng thời thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp với việc sắp xếp cấp xã. Tuy nhiên, khi quyền hạn được phân cấp mạnh hơn, yêu cầu về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình và minh bạch hóa hoạt động công vụ cũng trở nên cấp thiết hơn, trong khi cơ chế kiểm soát vẫn chủ yếu dựa trên phương thức hành chính truyền thống.

Thứ tư, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là yếu tố quyết định hiệu quả của cải cách hành chính. Thực tiễn tại Bắc Ninh cho thấy, tỉnh đã phải thành lập các tổ công tác hỗ trợ, tổ chức tập huấn, hướng dẫn thực hiện cải cách hành chính và chuyển đổi số cho các cơ quan, đơn vị, đặc biệt ở cấp cơ sở. Điều này phản ánh khoảng cách giữa yêu cầu của quá trình chuyển đổi với năng lực thực tế của đội ngũ cán bộ, công chức, đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng theo hướng nâng cao năng lực số, năng lực quản trị và khả năng thích ứng.

Thứ năm, cải cách hành chính cần gắn với việc mở rộng sự tham gia thực chất của người dân và xã hội trong quản lý nhà nước. Trong năm 2025, Bắc Ninh đã tiếp nhận và xử lý trên 1 nghìn phản ánh, kiến nghị của người dân, đồng thời tổ chức nhiều hội nghị đối thoại với doanh nghiệp và các nhóm xã hội. Tuy nhiên, các hoạt động này vẫn chủ yếu mang tính tương tác một chiều theo hướng “tiếp nhận - xử lý”, chưa hình thành cơ chế để người dân và doanh nghiệp tham gia sâu vào quá trình xây dựng chính sách. Điều đó đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện các thiết chế bảo đảm sự tham gia của xã hội, qua đó nâng cao tính công khai, minh bạch và hiệu quả quản trị.

Từ thực tiễn Bắc Ninh cho thấy, cải cách hành chính đã đạt được những kết quả quan trọng và đang từng bước hình thành một số yếu tố của quản trị công hiện đại. Tuy nhiên, các yếu tố này mới mang tính cục bộ, chưa đồng bộ và chưa cấu thành một mô hình quản trị công hoàn chỉnh. Do đó, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn hiện nay không phải là thay thế cải cách hành chính, mà là tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, từng bước tiếp cận và vận dụng các nguyên tắc của quản trị công hiện đại trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2.4. Một số giải pháp nâng cao chất lượng quản trị nhà nước trong đẩy mạnh cải cách hành chính hiện nay

Trước hết, cần chuyển mạnh từ tư duy “quản lý hành chính” sang tư duy “quản trị phục vụ”. Đây không đơn thuần là thay đổi cách thức điều hành, mà là sự chuyển đổi trong quan niệm về vai trò của Nhà nước. Nếu trước đây, hiệu quả quản lý chủ yếu được đánh giá ở tính tuân thủ và kiểm soát, thì hiện nay hiệu quả quản trị cần được đo bằng khả năng phục vụ người dân, chất lượng cung ứng dịch vụ công và mức độ tạo dựng niềm tin xã hội. Điều này đòi hỏi bộ máy hành chính không chỉ hoạt động đúng quy trình, mà phải thực sự minh bạch, linh hoạt và lấy người dân làm trung tâm.

Thứ hai, cần chuyển từ “số hóa hành chính” sang “quản trị dựa trên dữ liệu”. Thực tiễn cho thấy, nhiều địa phương đã đạt kết quả cao trong điện tử hóa quy trình, nhưng dữ liệu vẫn chủ yếu phục vụ xử lý hồ sơ hành chính, chưa trở thành nền tảng cho điều hành và hoạch định chính sách. Vì vậy, vấn đề trọng tâm trong giai đoạn tới không chỉ là xây dựng chính quyền số về mặt kỹ thuật, mà là hình thành năng lực quản trị số của Nhà nước, trong đó dữ liệu phải trở thành công cụ hỗ trợ dự báo, phân tích và ra quyết định.

Thứ ba, đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước phải gắn với kiểm soát quyền lực và giải trình trách nhiệm. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và tinh gọn bộ máy là xu hướng tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý; tuy nhiên, cần kèm với cơ chế minh bạch và giám sát hiệu quả nhằm tránh phát sinh khoảng trống trong kiểm soát quyền lực. Do đó, cải cách hành chính trong giai đoạn mới cần đồng thời nâng cao tính công khai, trách nhiệm công vụ và khả năng giám sát xã hội đối với hoạt động của cơ quan công quyền.

Thứ tư, cần coi nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ là khâu đột phá của cải cách hành chính trong bối cảnh có nhiều thay đổi về tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan gắn liền với xây dựng chính phủ điện tử, chính quyền số. Trong điều kiện chuyển đổi số và tiếp cận quản trị công hiện đại, yêu cầu đối với cán bộ, công chức không chỉ là năng lực chuyên môn, mà còn là tư duy phục vụ, năng lực số và khả năng thích ứng với môi trường quản trị mới. Đây không chỉ là yêu cầu về kỹ năng hành chính, mà là sự thay đổi về chất trong năng lực quản trị của đội ngũ thực thi công vụ.

3. Kết luận

Cải cách hành chính trong thời gian qua đã tạo dựng nền tảng quan trọng cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và hoàn thiện các yếu tố cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, thực tiễn phát triển cho thấy, khi cải cách hành chính đạt tới mức độ chuẩn hóa cao, những cải tiến về thể chế, thủ tục và tổ chức bộ máy tuy cần thiết nhưng không còn đủ để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng quản trị nhà nước. Trong bối cảnh Đại hội XIV của Đảng xác định rõ yêu cầu đổi mới phương thức quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, việc nhận diện đúng xu hướng này từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh không chỉ về mặt lý luận, mà còn góp phần định hướng thực tiễn triển khai cải cách hành chính trong giai đoạn mới, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện đại và phát triển bền vững.

_________________

Ngày nhận bài: 02/4/2026;

Ngày bình duyệt: 7/6/2026;

Ngày quyết định đăng: 29/6/2026.

Email tác giả: hieudong1976@gmail.com

Tài liệu tham khảo

ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

UBND tỉnh Bắc Ninh (2025). Báo cáo số 84/BC-UBND về kết quả cải cách hành chính năm 2025.