Thực tiễn

Chính phủ số: nền tảng đổi mới quản trị quốc gia ở Việt Nam hiện nay

03/07/2026 11:54

Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích vai trò, thực trạng chính phủ số Việt Nam với tư cách là nền tảng đổi mới quản trị quốc gia, bài viết nêu lên một số thách thức và định hướng hoàn thiện chính phủ số để có thể thực hiện tốt vai trò là nền tảng quản trị quốc gia, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

TS NGUYỄN THỊ THU HUYỀN
Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
PGS, TS NGUYỄN BÌNH MINH
Viện Công nghệ và Kinh tế số, Đại học Bách khoa Hà Nội

hopchibo.png
Năm 2026 đánh dấu cột mốc chuyển giao quan trọng với Đại hội XIV, do đó, nền tảng Chính phủ số không chỉ là công cụ hành chính mà đã thực sự trở thành động lực then chốt để bước vào kỷ nguyên mới_Ảnh: IT

1.Mở đầu

Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, đã đề ra ba trụ cột chính: Chính phủ số, Kinh tế số và Xã hội số. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đẩy mạnh xây dựng chính phủ số, xã hội số, đáp ứng yêu cầu kiến tạo phát triển và quản lý phát triển xã hội bền vững” (ĐCSVN, 2026, tr.108).

Trong bối cảnh phát triển mới của đất nước, chuyển đổi số được xác định là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, trong đó xây dựng chính phủ số giữ vai trò trung tâm. Chính phủ số phải đi trước, đi đầu và tạo không gian phát triển cho kinh tế số, xã hội số. Chính phủ số không chỉ nhằm hiện đại hóa nền hành chính nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, mà còn hướng tới mục tiêu phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn, bảo đảm phát triển toàn diện và công bằng xã hội. Vì vậy, phân tích, đánh giá vai trò, thực trạng của chính phủ số; tìm ra những hạn chế, thách thức và định hướng phát triển chính phủ số hiện nay là cấp thiết.

2. Nội dung

2.1. Vai trò của chính phủ số trong đổi mới quản trị quốc gia

Theo khoản 11, điều 3 Luật Chuyển đổi số: “Chính phủ số là mô hình để tổ chức và vận hành các hoạt động của cơ quan nhà nước trên môi trường số, dựa trên dữ liệu số, hạ tầng số, hạ tầng số công cộng, hệ thống số và nền tảng số để ra quyết định kịp thời, điều hành hiệu quả, bảo đảm minh bạch và kết nối, liên thông với tổ chức, doanh nghiệp và người dân” (Quốc hội, 2025). Chính phủ số là bước phát triển cao của chính phủ điện tử, đánh dấu sự chuyển đổi mô hình hoạt động của bộ máy hành chính dựa trên công nghệ số và dữ liệu. Về lý luận, chính phủ điện tử chủ yếu là tin học hóa các quy trình hiện có và cung cấp dịch vụ công trực tuyến dựa trên công nghệ thông tin, thì chính phủ số đòi hỏi một mô hình hoạt động hoàn toàn mới, tận dụng các công nghệ số tiên tiến (công nghệ 4.0 như AI, IoT, Big Data...) để cung cấp các dịch vụ sáng tạo, theo nhu cầu của người dân và doanh nghiệp (Nguyên Minh, 2020). Về bản chất, chính phủ số là chính phủ điện tử, bổ sung những thay đổi về cách tiếp cận, cách triển khai mới nhờ vào sự phát triển của công nghệ số.

Có thể hiểu rằng, chính phủ điện tử là “bốn không”; tức là có khả năng họp không gặp mặt; xử lý văn bản không giấy tờ; giải quyết thủ tục hành chính không tiếp xúc; và thanh toán không dùng tiền mặt. Còn chính phủ số, cùng với các nội hàm của Chính phủ điện tử, thêm “bốn có”: có toàn bộ hành động an toàn trên môi trường số; có khả năng cung cấp dịch vụ mới nhanh chóng; có khả năng sử dụng nguồn lực tối ưu; và có khả năng kiến tạo phát triển, dẫn dắt chuyển đổi số quốc gia, giải quyết hiệu quả những vấn đề lớn trong phát triển và quản lý kinh tế - xã hội (Báo Nhân Dân điện tử, 2026).

Trong tiến trình phát triển hiện nay, chính phủ số đã vượt xa khái niệm về một công cụ kỹ thuật thuần túy để trở thành nền tảng cốt lõi định hình lại phương thức quản trị quốc gia. Không chỉ đơn thuần là số hóa các quy trình sẵn có, chính phủ số tạo ra một không gian vận hành mới, nơi dữ liệu và công nghệ đóng vai trò kiến tạo sự minh bạch, kỷ cương và hiệu quả. Đây chính là “hệ điều hành” mới giúp chuyển đổi từ tư duy quản lý hành chính cứng nhắc sang tư duy phục vụ và kiến tạo phát triển. Cụ thể:

Một là, chính phủ số là tiền đề hiện đại hóa quản trị quốc gia, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, hiệu quả quản lý xã hội và hoạch định chính sách phát triển. Nhờ hệ thống dữ liệu được kết nối, chia sẻ và khai thác đồng bộ, nhà nước có thể nhận diện chính xác các vấn đề xã hội như nghèo đói, thất nghiệp, bất bình đẳng thu nhập, già hóa dân số hay di cư…

Hai là, chính phủ số góp phần quan trọng trong việc nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và phòng, chống tham nhũng. Việc công khai quy trình, thủ tục hành chính, kết quả giải quyết công việc và dữ liệu liên quan giúp hạn chế tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, giảm tiếp xúc trực tiếp giữa người dân và cán bộ công quyền. Qua đó, niềm tin của người dân đối với Nhà nước và hệ thống quản trị được củng cố, tạo nền tảng xã hội vững chắc cho phát triển bền vững.

Ba là, chính phủ số thúc đẩy sự tham gia của người dân vào quản trị và phát triển xã hội. Các nền tảng số tạo điều kiện để người dân tham gia góp ý, phản hồi, giám sát việc thực thi chính sách và chất lượng dịch vụ công. Sự tham gia này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản trị mà còn phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong quá trình phát triển, qua đó tăng cường sự đồng thuận xã hội và tính bền vững của các chính sách.

Bốn là, chính phủ số có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội và cải thiện chất lượng sống của người dân. Việc quản lý dữ liệu dân cư, bảo hiểm, trợ giúp xã hội trên nền tảng số giúp xác định đúng đối tượng thụ hưởng, hạn chế trùng lặp và thất thoát nguồn lực. Đồng thời, Nhà nước có thể triển khai nhanh chóng các gói hỗ trợ xã hội trong các tình huống khẩn cấp như dịch bệnh, thiên tai, khủng hoảng kinh tế, bảo đảm an sinh và ổn định xã hội. Qua đó, chính phủ số giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tính bao trùm của phát triển. Thông qua các nền tảng số và dịch vụ công trực tuyến, người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn có thể tiếp cận các dịch vụ công cơ bản mà không bị hạn chế bởi khoảng cách địa lý. Các nhóm yếu thế như người nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật được tiếp cận thông tin chính sách, dịch vụ an sinh xã hội kịp thời và minh bạch hơn. Việc giảm chi phí thời gian, chi phí tài chính trong tiếp cận dịch vụ công góp phần hạn chế bất bình đẳng xã hội.

2.2. Thực trạng vai trò của chính phủ số đối với đổi mới quản trị quốc gia ở Việt Nam

Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ trong phát triển chính phủ điện tử, tạo tiền đề cho quá trình chuyển đổi sang chính phủ số. Theo báo cáo khảo sát chính phủ điện tử của Liên hợp quốc năm 2022, Việt Nam xếp hạng 86/193 quốc gia, với chỉ số EGDI đạt khoảng 0,68, thuộc nhóm các nước ở mức cao (Hoàng Thị Kim Chi, 2023). Đến năm 2024, nhờ những nỗ lực tăng tốc chuyển đổi số, Việt Nam có vị trí thứ 71/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, tăng 15 bậc so với năm 2022 (VietnamPlus, 2024). Việt Nam lần đầu tiên được Liên hợp quốc xếp vào nhóm quốc gia có chỉ số EGDI “rất cao” (≥0,75) khi đạt 0,7709 điểm vào năm 2024 (Bích Liên, 2024). Trong khu vực ASEAN, Việt Nam đứng thứ 5/11, sau Singapore, Malaysia, Thái Lan và Brunei (VietnamPlus 2024). Sự thăng hạng này phản ánh những thành công của Việt Nam trong việc củng cố hạ tầng số, mở rộng kết nối Internet và cung cấp dịch vụ công trực tuyến ngày càng hiệu quả (Bích Liên, 2024).

Với những thành tựu trên, chính phủ số đang ngày càng khẳng định vai trò nền tảng đổi mới quản trị quốc gia. Điều này được làm rõ từ các khía cạnh sau:

Một là, nâng cao hiệu quả quản lý xã hội và hoạch định chính sách phát triển

Cổng Dịch vụ công quốc gia và các cổng dịch vụ công các bộ, địa phương đã tích hợp hàng nghìn dịch vụ công, trở thành kênh chính để người dân, doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính. Tính đến ngày 31/8/2023, Cổng Dịch vụ công quốc gia đã xử lý hơn 23 triệu hồ sơ trực tuyến (Hoàng Thị Kim Chi, 2023). Một thành tựu nổi bật khác là việc triển khai định danh và xác thực điện tử cho công dân trên quy mô quốc gia. Bộ Công an đã phát triển ứng dụng VneID, trở thành ứng dụng công dân số quốc gia tích hợp nhiều chức năng tiện ích. Nhờ các tiện ích trên VNeID, 2,5 triệu người dân (đặc biệt là nhóm hưởng trợ cấp xã hội, lương hưu) đã nhận hỗ trợ an sinh qua tài khoản ngân hàng với tổng số tiền hơn 24 nghìn tỷ đồng, giúp tiết kiệm 51 tỷ đồng chi phí đi lại cho người dân. VNeID đang dần trở thành “chìa khóa số” của mỗi người dân Việt Nam (Thái Khang, 2025), giúp hiện thực hóa khái niệm công dân số và gắn kết chặt chẽ người dân với hệ sinh thái chính phủ số.

Trong lĩnh vực bảo trợ xã hội, hệ thống cơ sở dữ liệu đã có hơn 3,7 triệu đối tượng, trong đó có gần 3,3 triệu đối tượng đang hưởng trợ cấp đã được cấp định danh cá nhân/căn cước công dân, và gần 2,8 triệu đối tượng bảo trợ xã hội đang hưởng đã được xác thực thành công qua cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Đối với cơ sở dữ liệu về hộ nghèo, hộ cận nghèo, từ dữ liệu của các tỉnh, thành phố, đã tiếp nhận và quản lý dữ liệu của khoảng 1,9 triệu hộ nghèo, cận nghèo, tương đương 7,5 triệu người. Đồng thời, đã xác minh, bổ sung căn cước công dân, hoặc mã định danh cho hơn 5,5 triệu người thuộc các hộ nêu trên. Cũng từ tháng 9/2023, cơ sở dữ liệu về hộ nghèo, hộ cận nghèo chính thức được thực hiện kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Tổng số đối tượng hưởng chính sách an sinh xã hội thuộc ngành lao động quản lý tại các tỉnh, thành phố là hơn 5 triệu người. Trong đó, đã thực hiện rà soát được hơn 4,7 triệu người (chiếm tỷ lệ trên 94% tổng số đối tượng quản lý) (Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên, 2026).

Đối với việc quản lý di cư và dân cư thời gian thực, dữ liệu số thay thế hoàn toàn sổ hộ khẩu giấy, giúp theo dõi biến động dân số chính xác. Hệ thống quản lý cư trú số cho phép người dân khai báo lưu trú, tạm trú trực tuyến. Làm tốt được điều này, chính quyền có thể nhìn thấy dòng người di cư biến động theo từng tháng qua hệ thống số. Từ đó, có căn cứ chính xác để lập quy hoạch nhà ở xã hội và trường học cho con em công nhân di cư, thay vì ước tính cảm tính như trước. Việt Nam đã số hóa hơn 3 triệu sổ hộ tịch với hơn 95,8 triệu dữ liệu, trong đó hơn 79,3 triệu dữ liệu đã được cập nhật chính thức vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử quốc gia (Thời báo Tài chính Việt Nam, 2025).

Trên cơ sở đó, việc xây dựng và điều chỉnh chính sách xã hội được thực hiện dựa trên bằng chứng và dữ liệu thực tiễn, giúp nâng cao tính kịp thời, hiệu quả và bền vững của chính sách.

Hai là, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và phòng, chống tham nhũng

Điều này được thể hiện ở việc minh bạch hóa hoạt động qua các nền tảng số. Đến năm 2025, gần 100% gói thầu tại Việt Nam được triển khai hệ thống mạng quốc gia. Điều này loại bỏ hoàn toàn các rào cản vật lý, ngăn chặn tình trạng “quây thầu” hay sự can thiệp chủ quan của con người, giúp mọi thông tin đấu thầu đều được công khai, minh bạch. Trong y tế, một số hệ thống phần mềm (do UNDP hỗ trợ) đã được thí điểm để tự động nhận diện giá trúng thầu thuốc bất thường dựa trên dữ liệu 12 tháng trước đó, thay vì dựa vào các quyết định cảm tính, giúp đóng lại các lỗ hổng tham nhũng trong đấu thầu ở lĩnh vực này.

Cổng Dịch vụ công Quốc gia đã tích hợp và cung cấp hàng nghìn dịch vụ công trực tuyến. Nhờ đó, người dân và doanh nghiệp làm thủ tục trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, hạn chế tối đa việc tiếp xúc trực tiếp với cán bộ, công chức, từ đó triệt tiêu các cơ hội nhũng nhiễu và “chi phí bôi trơn”.

Chính phủ số góp phần quan trọng trong phòng, chống tham nhũng qua kiểm soát dòng tiền và dữ liệu. Từ ngày 01/6/2025, Việt Nam áp dụng các quy định nghiêm ngặt hơn, tự động ngừng sử dụng hóa đơn điện tử đối với các trường hợp có rủi ro cao về thuế. Việc siết chặt hóa đơn điện tử giúp ngăn chặn tình trạng mua bán hóa đơn khống và trốn thuế, vốn là mầm mống cho nhiều vụ án tham nhũng kinh tế lớn. Chính phủ số cũng đã “gọi tên” được những nguồn thu nhập lớn trước đây chưa được quản lý, đặc biệt là kinh tế số. Năm 2025, tổng thu ngân sách từ thương mại điện tử ước đạt khoảng 208.800 tỷ đồng, tăng 66,5% so với năm 2024 (Nga Phạm, 2025). Kết quả này cho thấy hiệu quả rõ nét của việc hoàn thiện khung pháp lý, đẩy mạnh quản lý thuế theo hướng số hóa, minh bạch và dựa trên dữ liệu, góp phần chống thất thu và bảo đảm công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế. Bên cạnh đó đã truy thu hàng nghìn tỷ đồng thuế từ những cá nhân có thu nhập cực cao trên mạng nhưng chưa kê khai, giúp bảo đảm tính công bằng so với người làm công ăn lương truyền thống. Chỉ tính riêng các vụ việc điển hình, cơ quan chức năng đã truy thu và xử phạt hơn 1.170 tỷ đồng đối với các hành vi vi phạm thuế trong kinh doanh thương mại điện tử (Nga Phạm, 2025).

Việc kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với dữ liệu đất đai, thuế và ngân hàng nhằm thực hiện Đề án 06 (Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030), giúp cơ quan chức năng nhận diện chính xác biến động tài sản của cán bộ, công chức, hỗ trợ đắc lực công tác xác minh tài sản, thu nhập.

Ba là, thúc đẩy sự tham gia của người dân vào quản trị và phát triển xã hội

Việc triển khai các nền tảng số để người dân tham gia góp ý và phản hồi không chỉ là một bước tiến về công nghệ, mà còn là cuộc cách mạng trong quản trị quốc gia, chuyển đổi từ mô hình quản lý truyền thống sang mô hình chính quyền phục vụ và tương tác. Cụ thể:

Thứ nhất, các nền tảng số giúp xóa bỏ rào cản về không gian và thời gian. Trước đây, để đóng góp ý kiến cho một dự thảo luật hay phản ánh về những vấn đề đơn giản như rác thải sinh hoạt, người dân thường phải thông qua các buổi tiếp xúc cử tri định kỳ hoặc gửi đơn thư trực tiếp đến cơ quan công quyền. Quy trình này thường kéo dài, tốn kém chi phí đi lại và dễ bị thất lạc thông tin. Nhưng ngày nay, với những ứng dụng như VNeID hay “iHanoi”, một công dân có thể gửi kiến nghị ngay tại hiện trường kèm theo hình ảnh, video minh chứng chỉ với vài thao tác trên điện thoại. Tính “tức thời” này giúp chính quyền nắm bắt hơi thở cuộc sống một cách chân thực nhất từ mỗi người dân, giúp hệ thống quản lý vận hành nhạy bén hơn.

Thứ hai, công nghệ số tạo ra sự minh bạch và tính trách nhiệm giải trình. Khi một ý kiến được gửi lên Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc các nền tảng như “Hue-S”, quy trình xử lý sẽ được số hóa và công khai trạng thái hiện thực. Người dân có thể theo dõi xem kiến nghị của mình đang ở bước nào, cơ quan nào đang thụ lý và thời hạn trả lời là bao lâu. Điều này tạo ra một áp lực tích cực lên cán bộ công chức, buộc họ phải xử lý công việc đúng hạn và đúng chất lượng. Sự phản hồi hai chiều, nơi chính quyền không chỉ lắng nghe mà còn phải trả lời và người dân có quyền đánh giá mức độ hài lòng chính là cơ chế giám sát quyền lực hiệu quả nhất trong kỷ nguyên số.

Thứ ba, các nền tảng này góp phần huy động trí tuệ tập thể vào quá trình hoạch định chính sách. Thông qua việc lấy ý kiến nhân dân cho các văn kiện quan trọng như dự thảo Hiến pháp hay Luật Đất đai trên môi trường số, Nhà nước có thể thu thập hàng triệu lượt ý kiến từ mọi tầng lớp nhân dân, từ chuyên gia đến người lao động bình dân. Các thuật toán xử lý dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) giúp phân loại, tổng hợp các luồng ý kiến này một cách khoa học, giúp chính sách ban hành sát với thực tiễn và nhận được sự đồng thuận cao.

Thông qua ứng dụng VNeID, đã có 9.365.101 ý kiến tham gia của 3.287.129 công dân góp ý vào các dự thảo văn kiện Đại hội XIV (Hoa Vũ, 2024). Đối với bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội đã rà soát hơn 77 triệu cử tri trên phần mềm quản lý cử tri, tiếp nhận 219.620 yêu cầu cấp Giấy chứng nhận bỏ phiếu ở nơi khác bằng bản điện tử qua ứng dụng VNeID và 110.291 yêu cầu thay đổi nơi bỏ phiếu giữa thường trú và tạm trú. Ứng dụng VNeID được bổ sung các tiện ích phục vụ bầu cử, người dân có thể theo dõi thông tin khu vực bỏ phiếu, danh sách ứng cử viên, cũng như thực hiện thay đổi nơi bỏ phiếu trên môi trường số (Hoa Vũ, 2024).

Bốn là, nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội và cải thiện chất lượng sống của người dân

Việc số hóa giúp chuyển tiền hỗ trợ trực tiếp đến đúng đối tượng, loại bỏ khâu trung gian và sai sót. Tính đến cuối năm 2025, Việt Nam phấn đấu đạt mục tiêu 100% đối tượng an sinh xã hội được cấp tài khoản và thực hiện chi trả không dùng tiền mặt (Phương Nhi, 2025). Theo Thư ký Tổ Công tác triển khai Đề án 06 của Chính phủ cho biết, trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 (từ ngày 19/1 đến 6/2), có 832.665 người đã nhận trợ cấp qua tài khoản (tăng 246.690 người, tăng 4,93% từ 11,67% lên 16,6% số đối tượng được chi trả qua tài khoản trên tổng số đối tượng hưởng an sinh xã hội so với trước ngày 19/1) (Báo Công an nhân dân, 2024).

Bộ Công an đã hoàn thành cung cấp 35 tiện ích trên VNeID, trong đó có tích hợp dữ liệu Sổ sức khỏe điện tử cho hơn 15,8 triệu công dân. Bộ Công an đã hoàn thành cung cấp 35 tiện ích trên VNeID được người dân hưởng ứng, điển hình là: Toàn quốc đã tích hợp 15.822.260 thông tin công dân trên sổ sức khỏe điện tử, 911.696 hồ sơ giấy chuyển tuyến và 2.629.117 hồ sơ giấy hẹn khám lại (Thanh Giang, 2025).

2.3. Những thách thức và định hướng hoàn thiện chính phủ số ở Việt Nam

Những kết quả trên cho thấy, Việt Nam đang đi đúng hướng trong xây dựng chính phủ số. Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam có chỉ số phát triển chính phủ điện tử, chính phủ số ở mức độ cao trên thế giới, thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu theo xếp hạng của Liên hợp quốc (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2025). Để đạt được mục tiêu trên, Việt Nam còn nhiều thách thức cần khắc phục. Cụ thể:

Thứ nhất, mức độ tương tác và tham gia điện tử (e-participation) của người dân vẫn chưa cao so với tiềm năng, đặc biệt ở nhóm dân số cao tuổi, nông thôn. Chẳng hạn, chỉ số vốn nhân lực (HCI) của Việt Nam trong EGDI 2020 - 2022 còn dưới mức trung bình thế giới, cho thấy cần nâng cao kỹ năng số và tỷ lệ người dùng Internet tích cực (Hoàng Thị Kim Chi, 2022).

Thứ hai, kết nối liên thông dữ liệu giữa các bộ, ngành đôi lúc còn chưa thông suốt; việc chia sẻ dữ liệu còn gặp rào cản về kỹ thuật và pháp lý (như vấn đề bảo mật, quyền riêng tư).

Thứ ba, an ninh mạng là nguy cơ thường trực, đã có những sự cố lộ lọt dữ liệu hoặc tấn công vào cổng dịch vụ công, đòi hỏi hệ thống chính phủ số phải được đầu tư bảo mật, an toàn thông tin nghiêm ngặt.

Thứ tư, nguồn nhân lực chuyển đổi số khu vực công còn thiếu về số lượng và hạn chế về chất lượng, đặc biệt ở cấp địa phương; cần có chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho đội ngũ cán bộ, công chức để vận hành hệ thống hiệu quả.

Những thách thức đó đặt ra đòi hỏi cần có những định hướng để hoàn thiện chính phủ số ở Việt Nam, đó là:

Thứ nhất, cần tiếp cận chính sách dựa trên “khoảng cách thực hiện” thay vì mục tiêu hình thức

Một hạn chế phổ biến trong triển khai chuyển đổi số hiện nay là tập trung nhiều vào mục tiêu đầu ra mang tính hình thức (số lượng dịch vụ công được cung cấp trực tuyến, số nền tảng được xây dựng), trong khi chưa đủ trọng tâm vào mức độ sử dụng thực và tác động xã hội. Trong khi đó, Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đã xác định rõ các ngưỡng định lượng cho giai đoạn 2025-2030, đặc biệt là các chỉ tiêu liên quan đến tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, kỹ năng số, tài khoản thanh toán, và chữ ký số cá nhân.

Số liệu thống kê cho thấy một khoảng cách đáng kể giữa mục tiêu và thực tiễn triển khai. Đến cuối năm 2025, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình trên tổng hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính tháng 8/2025 đạt 39,71%, trong đó khối bộ đạt 52,45%, khối tỉnh đạt 15,79% (Mạnh Tuyền, 2025). Khoảng cách này phản ánh một thực tế: chính quyền cấp địa phương - nơi người dân tương tác thường xuyên nhất vẫn là “điểm nghẽn” của chính phủ số. Nếu không có can thiệp chính sách đủ mạnh vào cấp này, mục tiêu xã hội số với trên 70% người trưởng thành sử dụng dịch vụ công trực tuyến vào năm 2030 sẽ khó có thể đạt được.

Do đó, đề xuất chính sách cần chuyển từ tư duy “hoàn thành danh mục nhiệm vụ” sang quản trị theo khoảng cách thực hiện (implementation gap), trong đó mỗi chỉ tiêu quốc gia phải được phân ra thành KPI cụ thể theo cấp, theo lĩnh vực và theo chuỗi giá trị dịch vụ.

Thứ hai, tái định vị trọng tâm chính phủ số, từ “cung cấp dịch vụ” sang “vận hành dịch vụ toàn trình”

Phân tích số liệu cho thấy vấn đề cốt lõi của Chính phủ số hiện nay không nằm ở thiếu nền tảng công nghệ, mà nằm ở năng lực vận hành dịch vụ số toàn trình. Nhiều dịch vụ công đã được cung cấp trực tuyến về mặt hình thức, nhưng trên thực tế vẫn yêu cầu người dân nộp lại giấy tờ đã có trong các cơ sở dữ liệu nhà nước, in hồ sơ giấy để ký tay, hoặc hoàn tất thanh toán bằng phương thức truyền thống,… Trên cơ sở đó, cần triển khai đồng bộ ba nhóm giải pháp có quan hệ nhân - quả rõ ràng: (1) Tái thiết kế quy trình nghiệp vụ theo hướng “số trước - giấy sau”: Mọi thủ tục hành chính có tần suất cao phải được chuẩn hóa quy trình ở mức không yêu cầu bổ sung thông tin mà Nhà nước đã có, áp dụng nguyên tắc “một lần khai báo”. Điều này không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà là cải cách thể chế hành chính dựa trên dữ liệu. (2) Đẩy nhanh tích hợp và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành: Chừng nào dữ liệu dân cư, đất đai, doanh nghiệp, bảo hiểm xã hội, giáo dục chưa được liên thông thực chất, chừng đó dịch vụ công toàn trình vẫn chỉ tồn tại trên lý thuyết. Chính sách cần ưu tiên ngân sách và trách nhiệm giải trình cho các bộ, ngành nắm giữ dữ liệu “gốc”, thay vì dàn trải đầu tư vào giao diện bên ngoài. (3) Mở rộng nhanh độ bao phủ của chữ ký số cá nhân và thanh toán số, coi đây là điều kiện cần của dịch vụ công toàn trình.

3. Kết luận

Năm 2026 đánh dấu cột mốc chuyển giao quan trọng với Đại hội XIV, do đó, nền tảng Chính phủ số không chỉ là công cụ hành chính mà đã thực sự trở thành động lực then chốt để bước vào kỷ nguyên mới. Hành trình xây dựng thành công chính phủ số, hướng tới xã hội phát triển bền vững của Việt Nam tuy đặt ra nhiều thách thức nhưng cũng có rất nhiều triển vọng. Với nền tảng là các chính sách đúng đắn, sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị và sự hưởng ứng của nhân dân, đến năm 2030 Việt Nam sẽ cơ bản trở thành một quốc gia số phát triển, hướng tới năm 2045 sẽ sánh vai cùng các cường quốc năm châu như kỳ vọng - trở thành một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, trong đó mọi người dân đều an toàn và không ai bị bỏ lại phía sau.

_________________

Ngày nhận bài: 23/4/2026; Ngày bình duyệt: 29/5/2026; Ngày duyệt đăng: 01/7/2026.

Email tác giả: huyennguyencnxh@gmail.com.

Tài liệu tham khảo:

Báo Nhân dân điện tử (2026). Chính quyền 4.0 và niềm tin số. https://nhandan.vn.

Báo Công an nhân dân (2024). Cấp tài khoản, chi trả an sinh xã hội không dùng tiền mặt cho 100% đối tượng. Trang Thông tin điện tử Công an tỉnh Đắk Lắk https://congan.daklak.gov.vn.

Bích Liên (2024). Việt Nam thuộc nhóm có Chỉ số Phát triển Chính phủ điện tử rất cao. Thông tấn xã Việt Nam. https://nvsk.vnanet.vn.

Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2025). Quyết định số 942/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030. https://vanban.chinhphu.vn.

Cổng Thông tin điện tử tỉnh Thái Nguyên (2026). Số hóa hoạt động chi trả an sinh xã hội cho người dân vẫn còn gặp khó khăn. https://cms.thainguyen.vn.

ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

Hoàng Thị Kim Chi (2022). Đánh giá của Liên hiệp quốc về chính phủ điện tử tại Việt Nam năm 2022. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn.

Hoàng Thị Kim Chi (2023). Thực trạng và giải pháp xây dựng chính phủ điện tử hướng tới chính phủ số ở Việt Nam. Trang tin điện tử cải cách hành chính thành phố Cần Thơ. http://timhieucaicachhanhchinh.cantho.gov.vn.

Hoa Vũ (2024). VneID ghi nhận hơn 9,3 triệu ý kiến góp ý văn kiện Đại hội Đảng XIV. Báo điện tử VTC NEWS. https://baomoi.com.

Nga Phạm (2025). Thương mại điện tử đóng góp 208.800 tỷ đồng cho ngân sách năm 2025. Tạp chí kinh tế - tài chính Online. https://thuehaiquan.tapchikinhtetaichinh.vn.

Nguyên Minh (2020). Sự khác biệt giữa Chính phủ điện tử và Chính phủ số. https://nhandan.vn.

Phương Nhi (2025). Phấn đấu 100% người dân Việt Nam có tài khoản an sinh xã hội. Báo điện tử Chính phủ. https://baochinhphu.vn.

Quốc hội (2025). Luật số 148/2025/QH15 của Quốc hội: Luật Chuyển đổi số.

Thái Khang (2025). VNeID - từ ứng dụng khai báo y tế đến 'chìa khóa số' của mỗi người dân. Báo Vietnamnet, https://vietnamnet.vn.

Thanh Giang (2025). Quyết liệt, khẩn trương hơn nữa trong triển khai chuyển đổi số quốc gia và Đề án 06. Báo Nhân dân. https://nhandan.vn.

Thời báo Tài chính Việt Nam (2025). Chuyển trạng thái “xin cho” sang trạng thái “chủ động” cung cấp dịch vụ công. Báo điện tử của báo Tài chính - Đầu tư. https://thoibaotaichinhvietnam.vn.

Trung tâm Truyền thông Khoa học và Công nghệ (2025). Chuyển đổi số quốc gia: Động lực mới cho tăng trưởng bền vững. Bộ Khoa học và Công nghệ. https://mst.gov.vn.

VietnamPlus (2024). Việt Nam tăng 15 bậc về Chỉ số Phát triển Chính phủ Điện tử. Thông tấn xã Việt Nam. https://www.vietnamplus.vn.