Hệ sinh thái kinh tế khu kinh tế tự do thế hệ mới trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.4973
Tóm tắt: Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Đảng ta khẳng định yêu cầu: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, thúc đẩy đột phá chiến lược, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới…”, trong đó có “Thành lập, phát triển các trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do thế hệ mới có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế” (ĐCSVN, 2026, tr. 86, tr.159). Trên cơ sở khái lược sự phát triển và khái quát những đặc điểm khu kinh tế tự do thế hệ mới, bài viết tập trung nhận diện hệ sinh thái kinh tế khu kinh tế tự do thế hệ mới, từ đó đưa ra kết luận gắn với hàm ý chính sách nhằm phục vụ định hướng phát triển trong giai đoạn mới.
TS VÕ VĂN LỢI
TS MAI HỮU THỈNH
Học viện Chính trị khu vực III

1. Mở đầu
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng đang tạo ra những biến đổi mạnh mẽ trong phương thức tổ chức và vận hành của nền kinh tế toàn cầu, đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy phát triển và kiến tạo các mô hình tăng trưởng mới có năng lực cạnh tranh quốc tế. Trong bối cảnh đó, khu kinh tế tự do (Free Economic Zone - FEZ) thế hệ mới nổi lên như một mô hình phát triển tích hợp, dựa trên nền tảng thể chế vượt trội, đổi mới sáng tạo, hạ tầng hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao và khả năng kết nối sâu rộng với các mạng lưới kinh tế toàn cầu.
Đại hội XIV của Đảng khẳng định yêu cầu tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới; xây dựng các mô hình, phương thức sản xuất kinh doanh mới; phát triển các trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do thế hệ mới có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tiếp cận FEZ như một mô hình thể chế hoặc công cụ thu hút đầu tư, trong khi việc nhận diện FEZ dưới góc độ một hệ sinh thái kinh tế tổng thể, đa tác nhân, đa tầng liên kết và có tính cộng sinh vẫn chưa được quan tâm đầy đủ.
Trên cơ sở khái lược quá trình phát triển và những đặc điểm nổi bật của khu kinh tế tự do thế hệ mới, bài viết tập trung nhận diện hệ sinh thái kinh tế FEZ thông qua việc làm rõ khái niệm, các yếu tố cấu thành, cấu trúc và cơ chế liên kết của hệ sinh thái này; từ đó đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu, hoạch định và triển khai mô hình khu kinh tế tự do thế hệ mới ở Việt Nam trong thời gian tới.
2. Nội dung
2.1. Sự phát triển các mô hình khu kinh tế và đặc điểm khu kinh tế tự do thế hệ mới
2.1.1. Sự phát triển các mô hình khu kinh tế và khu kinh tế tự do thế hệ mới
Các khu kinh tế ngày càng phát triển theo hướng đa dạng về chức năng, hoàn thiện về cấu trúc và mở rộng về không gian
Trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế, các khu kinh tế, khu kinh tế tự do ngày càng đa dạng, phong phú. Các mô hình này có xu hướng chuyển dần từ hoạt động thương mại như khu chế xuất, hoặc sản xuất mang tính chất công nghiệp như khu công nghiệp, sang khu công nghệ cao và mang tính tổng hợp, kết hợp giữa sản xuất, kinh doanh dịch vụ, nghiên cứu khoa học, kỹ thuật; đồng thời tích hợp cả chức năng đô thị như đặc khu kinh tế (SEZ: Special Economic Zone), vùng kinh tế tự do, thành phố mở cửa. Mục tiêu phát triển của các mô hình này bao quát cả về kinh tế lẫn xã hội, qua đó tạo thành đầu mối giao lưu kinh tế của đất nước với bên ngoài (Nguyễn Minh Sang, 1998).
Theo OECD, khu thương mại tự do (FTZ: Free Trade Zone) là khu vực do một quốc gia hoặc khu vực pháp lý chỉ định, trong đó hàng hóa nhập khẩu được miễn thuế hoặc chỉ chịu mức thuế thấp hơn so với hàng hóa lưu thông thông thường (Kiều Mai, 2025).
Nhìn chung, “Các FEZ là tên gọi chung cho tất cả các loại hình khu kinh tế nhằm thu hút đầu tư nước ngoài với các hình thức đa dạng như SEZ, khu chế xuất, FTZ, khu kinh tế cửa khẩu cảng tự do…” (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2009, tr.7). Các loại hình FEZ rất đa dạng, bao gồm: Các FEZ chuyên ngành, chuyên về thương mại; chuyên gia công, chế biến xuất khẩu; chuyên về du lịch; chuyên về tài chính, khoa học - kỹ thuật...; Các FEZ tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực; Các đô thị quốc tế (Võ Đại Lược, 2021).
“Ngày nay, xu thế chung của các SEZ đã lập đang tiến dần theo hướng tổng hợp, đa công năng, quy mô lớn, trong SEZ có chứa đựng cả một số khu công nghiệp, khu chế xuất, khu mậu dịch tự do, hoặc khu CNC… Một SEZ không thể thiếu sự hậu thuẫn của một vùng kinh tế trọng điểm và ngược lại, một vùng kinh tế trọng điểm cũng khó có thể nhanh chóng đi lên nếu thiếu sự tăng trưởng có tính đột biến và lôi kéo của một SEZ” (Trần Tô Tử, 1998).
“FEZ là một khu vực được Nhà nước áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt nhằm thu hút đầu tư, thương mại và dịch vụ quốc tế. Trong FEZ, thường sẽ có ưu đãi thuế (thu nhập doanh nghiệp, xuất nhập khẩu, giá trị gia tăng); thủ tục hành chính đơn giản và nhanh gọn; quy định riêng về xuất nhập khẩu hàng hóa, vốn, nhân lực; hạ tầng đồng bộ (cảng biển, sân bay, logistics, khu công nghiệp, dịch vụ)” (Phương Dung, 2025).
Đặc biệt, FEZ thế hệ mới ngày càng có tính mở và phức hợp, tạo nên một hệ sinh thái kinh tế với sự liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể, chức năng, không gian kinh tế.
FEZ thế hệ mới là khu phức hợp đa chức năng, hội tụ, cộng hưởng hệ sinh thái sản xuất, thương mại, logistics, tài chính quốc tế, dịch vụ chất lượng cao với thể chế và những ưu đãi vượt trội, đặc thù, gắn chặt chẽ với hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo, hướng đến phát triển bền vững, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, nền kinh tế và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.
Theo nghĩa rộng, FEZ thế hệ mới là hệ sinh thái phức hợp, được tích hợp và cộng hưởng bởi tổng thể các yếu tố, điều kiện và chính sách phát triển, bao gồm: thể chế và quản trị; kinh tế - tài chính; hạ tầng; logistics; thương mại và du lịch; công nghiệp công nghệ chiến lược và khu công nghệ cao; nguồn nhân lực chất lượng cao; khoa học và công nghệ; đổi mới sáng tạo; hướng đến xây dựng đô thị quốc tế xanh, thông minh, nhân văn.
2.1.2. Đặc điểm của khu kinh tế tự do thế hệ mới
Thứ nhất, FEZ thế hệ mới (sau đây gọi tắt là FEZ) là khu vực có lợi thế về địa kinh tế, có nhiều tiềm năng phát triển toàn diện kinh tế - xã hội. Đây là tiền đề quan trọng tạo lập không gian và sức bật cho phát triển, thể hiện trên một số phương diện cơ bản sau: (i) Địa bàn có vị trí chiến lược, gắn với hệ thống cảng biển, cảng hàng không quốc tế. (ii) Có diện tích rộng lớn, sở hữu nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển, hội tụ các nhân tố để mở rộng giao lưu, kết nối và hội nhập với nền kinh tế thế giới; (iii) Cơ sở hạ tầng thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và bảo đảm điều kiện sống tốt cho nhà đầu tư, người lao động. (iv) Vùng kinh tế năng động, kết nối cao, có hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ đối với sự phát triển của khu vực và quốc gia.
Thứ hai, FEZ là nơi hội tụ đội ngũ nhân lực chất lượng cao cùng làm việc trong môi trường kinh doanh quốc tế, đa văn hóa. Nguồn nhân lực này hội tụ các yếu tố: sâu về chuyên môn, rộng về đa ngành, nhanh trong thích ứng với sự phát triển của công nghệ và mở để kết nối với toàn cầu. Lãnh đạo quốc gia, địa phương có tầm nhìn chiến lược, tư duy toàn cầu, không chỉ là nhà quản lý mà còn là chủ thể kiến tạo, đồng hành cùng doanh nghiệp. Các nhà quản lý thông thạo tập quán kinh doanh, am hiểu pháp luật và làm việc trong môi trường kinh doanh quốc tế. Đội ngũ nghiên cứu, nhân lực công nghệ làm chủ tri thức mới, công nghệ mới, công nghệ cao. Chuyên gia và người lao động am hiểu đối tác và văn hóa, tri thức bản địa, năng động trong môi trường làm việc đa văn hóa. Nhân lực công nghệ ngày càng đông đảo và là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò trụ cột của FEZ.
Thứ ba, hoạt động nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo trở thành một lĩnh vực kinh tế quan trọng. FEZ là trung tâm hội tụ các công nghệ mới, khu công nghệ cao. Khoa học công nghệ không còn là lĩnh vực thuần túy nghiên cứu cơ bản mà gắn với hoạt động nghiên cứu và phát triển, phát triển công nghệ và các sản phẩm chiến lược, đồng thời gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp. Vì vậy, hoạt động nghiên cứu và phát triển và đổi mới sáng tạo là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ sinh thái kinh tế FEZ.
Thứ tư, FEZ được trao quyền tự chủ cao hơn, linh hoạt hơn về mặt hành chính, kinh tế. Bên cạnh ưu đãi các loại thuế, FEZ thế hệ mới còn có các chính sách linh hoạt, như miễn thị thực nhập cảnh, cho phép cư trú lâu dài đối với các nhà kinh doanh và tạo điều kiện, môi trường làm việc và sinh sống thuận lợi để thu hút nhân tài quốc tế đến đầu tư, kinh doanh.
Thứ năm, thể chế và mô hình quản lý, vận hành linh hoạt. FEZ là nơi thử nghiệm các ý tưởng cải cách thể chế, các chính sách ưu đãi hấp dẫn, vượt trội, có sức cạnh tranh ưu trội mang tính mở đường, hướng theo chuẩn mực quốc tế, để tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy hội nhập và đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, FEZ cho phép thí điểm chính sách mới - cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), và ở đây một số định chế, thiết chế quốc tế được áp dụng, như luật thương mại quốc tế, trọng tài quốc tế, tòa án quốc tế. Theo đó, “Nhà nước chủ động thiết kế cấu trúc phát triển dài hạn, bằng giải pháp xác định ngành chiến lược, phân bổ nguồn lực tập trung, kiến tạo hệ sinh thái và điều phối chính sách liên ngành” (Nguyễn Bích Lâm, 2026a).
Thứ sáu, FEZ là hình thức liên kết theo chiều sâu, thúc đẩy tự do hóa các dòng vốn, xuất nhập khẩu hàng hóa, cung cấp dịch vụ, chuyển giao công nghệ và di chuyển lao động, hướng đến mở rộng và đẩy mạnh liên kết bằng cách thực hiện các dự án chung về xây dựng cơ sở hạ tầng, hợp tác về xã hội, văn hóa, chính trị và an ninh, thúc đẩy “tự do hóa các điều kiện thương mại, các dịch vụ, giảm đánh thuế về đầu tư các bên, cân đối các tiêu chuẩn, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, điều chỉnh và cân đối các nguyên tắc và thủ tục hải quan, cũng như thiết lập các cơ quan trọng tài để giải quyết các tranh chấp và xung đột nảy sinh” (Troekurova, 2006).
Thứ bảy, về lĩnh vực hoạt động, FEZ có tính đa ngành, tích hợp, tập trung vào phát triển công nghiệp công nghệ mới, khu công nghệ cao, công nghệ chiến lược, dịch vụ và nhân lực chất lượng cao, đổi mới sáng tạo nhằm tạo ra tri thức mới, giá trị gia tăng cao. Thực tiễn cho thấy, “Chính sách FEZ là một cột mốc quan trọng trong chính sách khu kinh tế đặc biệt của Hàn Quốc, giúp nước này chuyển đổi nền công nghiệp từ dựa vào chế tạo sang có giá trị gia tăng cao” (Đặng Thị Phương Hoa, 2017).
Thứ tám, về không gian phát triển và hội nhập quốc tế, FEZ hướng đến không gian mở, có tính kết nối, lan tỏa rộng lớn, tác động đến các hoạt động kinh tế - xã hội ở quy mô thành phố,vùng phụ cận, cũng như cả nước. Đồng thời, FEZ hướng đến kiến tạo đô thị thông minh, đô thị quốc tế, dựa trên các giá trị, chuẩn mực ưu trội, tiến bộ của thời đại, và tiến đến hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng thông qua kiến lập các trụ cột tĩnh như đặc điểm tự nhiên, thể chế, cơ sở hạ tầng, văn hóa, đồng thời thúc đẩy các trụ cột động như đầu tư, thương mại, du lịch, con người (Lê Hồng Giang, 2019). Ngay cả “FTZ nằm trong nội địa nhưng lại áp dụng thông lệ quốc tế, thể chế vận hành FTZ hoàn toàn khác, có hàng rào cứng bao quanh nên các nước gọi mô hình FTZ là quốc gia trong quốc gia” (Bảo Ngọc & T. Long, T. Chung, 2024). Quá trình này quốc gia thực hiện mô hình kinh tế mở, tự nguyện tham gia vào các định chế kinh tế và tài chính quốc tế, thực hiện thuận lợi hóa và tự do hóa thương mại, đầu tư và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác như khoa học công nghệ, văn hóa, giáo dục, y tế... FEZ không chỉ dừng lại ở sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu mà còn hướng đến dung hợp với thể chế, thông lệ, tập quán kinh doanh quốc tế, hơn nữa, còn tham gia dẫn dắt các sáng kiến phát triển chung.
Thứ chín, về mục tiêu phát triển, ngoài việc nâng cao sức cạnh tranh, hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp, FEZ còn hướng đến phát triển bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường, gắn với quy định trong các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, tích hợp các yếu tố ESG (Environmental - Social - Governance: Môi trường - Xã hội - Quản trị). Đặc biệt, FEZ chú trọng “thúc đẩy các sáng kiến phát triển xanh, từ việc sử dụng năng lượng tái tạo đến tối ưu hóa chuỗi cung ứng để giảm thiểu tác động môi trường, phù hợp với xu hướng toàn cầu hiện nay” (Trần Thị Hồng Minh, 2024). Doanh nghiệp trực tiếp tham gia đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cũng như chia sẻ tri thức và kinh nghiệm với các đối tác vì mục tiêu phát triển chung, tối ưu hóa quản lý và nâng cao chất lượng cuộc sống người lao động, cộng đồng.
2.2. Hệ sinh thái kinh tế khu kinh tế tự do thế hệ mới
2.2.1. Khái niệm và đặc điểm hệ sinh thái kinh tế
Hệ sinh thái kinh tế là một hệ thống gồm nhiều chủ thể kinh tế - xã hội tương tác với nhau trong một môi trường nhất định, thông qua các mối liên kết sản xuất, trao đổi và phân phối, qua đó tạo ra giá trị và thúc đẩy cùng phát triển.
Đặc điểm cốt lõi của hệ sinh thái kinh tế hiện đại: Có nhiều tác nhân tham gia, như: doanh nghiệp, đối tác, nhà nước, thị trường, tổ chức trung gian, người lao động…; giữa các chủ thể có sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau trong mạng lưới liên kết, thúc đẩy hợp tác và cạnh tranh; hoạt động trong một môi trường kinh doanh với thể chế - hạ tầng cụ thể; hướng tới mục tiêu tạo lập giá trị chung và thúc đẩy phát triển dài hạn. Như vậy, hệ sinh thái kinh tế hiện đại không còn là tập hợp rời rạc của các thành phần riêng biệt, mà là một “hệ sinh thái sống”, mang tính cộng sinh, có mối liên kết hữu cơ với nhau.
Hệ sinh thái kinh tế FEZ là một hệ thống đa tác nhân, đa ngành, đa chức năng, đa không gian, đa tầng liên kết. Trong hệ sinh thái này, Nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo - nghiên cứu, nhân lực, hạ tầng, tri thức, khoa học, công nghệ, hàng hóa, dịch vụ, tài chính tương tác trong môi trường kinh doanh quốc tế, môi trường số với thể chế cạnh tranh vượt trội và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát.
2.2.2. Các yếu tố chính của hệ sinh thái kinh tế khu kinh tế tự do thế hệ mới
Thứ nhất, chủ thể của hệ sinh thái có tính đa dạng, bao gồm: doanh nghiệp (trung tâm tạo giá trị); Nhà nước (thực hiện chức năng quản lý, kiến tạo sự phát triển và đồng hành); tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp; viện nghiên cứu, trường đại học; người lao động, cộng đồng. Đây chính là “tế bào” trung tâm của HST.
Thứ hai, quan hệ phức hợp và mạng lưới đa liên kết: liên kết sản xuất - cung ứng - tiêu thụ; liên kết phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; liên kết chuỗi giá trị (value chain); liên kết cụm ngành (cluster). Đây là sự liên kết các dòng chảy: vốn, hàng hóa - dịch vụ, thông tin - dữ liệu, công nghệ, nhân lực. Các dòng này tạo nên “sự sống” của hệ sinh thái.
Thứ ba, thể chế và môi trường vận hành: chính sách, pháp luật; quy tắc thị trường; cơ chế cạnh tranh và hợp tác; văn hóa kinh doanh tạo thành“khung sinh thái” quyết định hệ vận hành của hệ sinh thái. Đặc biệt, “lõi vận hành” của FEZ hướng đến thể chế vượt trội và thí điểm cơ chế thử nghiệm có kiểm soát nhằm thúc đẩy đổi mới và thích ứng với các xu hướng phát triển mới.
Thứ tư, hạ tầng nhiều lớp, hiện đại, đồng bộ và tích hợp các yếu tố xanh, thông minh:
Hạ tầng cứng: bao gồm hệ thống hạ tầng giao thông đa phương thức (cảng biển, sân bay, đường sắt, đường bộ quốc tế) hiện đại, đồng bộ; hạ tầng logistics xanh - thông minh; hạ tầng năng lượng xanh và tái tạo, hạ tầng khu kinh tế sinh thái - thông minh.
Hạ tầng mềm: các dịch vụ pháp lý, tài chính, công nghệ, giáo dục, y tế, hướng đến chuẩn mực hiện đại, chuyên nghiệp hóa và có tính quốc tế hóa.
Hạ tầng số: dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), nền tảng số, tạo cơ sở cho quá trình chuyển đổi số và phát triển kinh tế số.
Hạ tầng công nghệ: công nghệ nền tảng, công nghệ số, công nghệ chiến lược, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng đổi mới của hệ sinh thái.
Toàn bộ hệ thống hạ tầng này là điều kiện vật chất - kỹ thuật cho hệ sinh thái hoạt động. Đặc trưng của hạ tầng chiến lược này là hướng đến thông minh, xanh và đa kết nối.
Thứ năm, dịch vụ tài chính - thương mại quốc tế và logistics gắn kết với dữ liệu số, Fintech (công nghệ tài chính); tài chính số; ngân hàng quốc tế; thị trường vốn. Trung tâm tài chính quốc tế (IFC: International Financial Center), trung tâm logistics và trung tâm thương mại điện tử xuyên biên giới không chỉ đóng vai trò trung gian vốn và kết nối dịch vụ - thương mại - sản xuất - đầu tư mà còn là cơ chế phân bổ lợi nhuận và chia sẻ rủi ro, gắn kết với chuỗi giá trị toàn cầu, đây là mạch máu của hệ sinh thái kinh tế FEZ.
Thứ sáu, nguồn nhân lực và môi trường kinh doanh, môi trường sống: FEZ đòi hỏi đội ngũ nhân lực chất lượng cao, có trình độ chuyên môn, nhạy bén, năng động, sáng tạo và có khả năng thích ứng nhanh với môi trường kinh doanh quốc tế. Bên cạnh đó là lực lượng lao động đa quốc gia được tạo điều kiện thuận lợi thông qua các chính sách thị thực linh hoạt và cơ chế tự do di chuyển. Cùng với đó, môi trường sống và hệ thống hạ tầng xã hội được phát triển theo hướng đa văn hóa, hiện đại và thông minh; bao gồm hệ thống giáo dục quốc tế, dịch vụ y tế và các dịch vụ chất lượng cao.
Đây là những yếu tố quan trọng và góp phần thu hút, giữ chân tài năng toàn cầu, nâng cao chất lượng cuộc sống, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hội nhập kinh tế quốc tế.
2.2.3. Cấu trúc của hệ sinh thái kinh tế khu kinh tế tự do thế hệ mới
Có thể khái quát hệ sinh thái kinh tế FEZ theo các tầng cấu trúc của trung tâm hệ sinh thái này và các liên kết sau:
Trung tâm của hệ sinh thái kinh tế FEZ: là sự hội tụ của các chủ thể kinh tế đa dạng và năng động; thể chế vượt trội và cạnh tranh quốc tế; nền tảng công nghệ cao và công nghệ số cùng với không gian kinh tế mở. Đây được xem là “bộ não” điều phối, quyết định mức độ hội nhập và năng lực cạnh tranh quốc tế, đóng vai trò tạo động lực tăng trưởng và dẫn dắt các liên kết trong hệ sinh thái.
Các tầng cấu trúc của hệ sinh thái kinh tế FEZ:
(1) Tầng sản xuất - kinh doanh: hệ sinh thái các khu kinh tế đa dạng, dựa trên các mô hình kinh doanh mới, tích hợp, liên kết trong sản xuất - dịch vụ - tài chính - R&D, từ đó hình thành cụm ngành (cluster), chuỗi giá trị nội khu và toàn cầu. Tầng này tạo ra giá trị kinh tế trực tiếp, có vai trò gắn kết, dẫn dắt, thúc đẩy các tầng khác của cả hệ sinh thái cùng phát triển.
(2) Tầng đổi mới sáng tạo: tạo ra các cơ chế, phương thức, mô hình kinh tế mới, công nghệ mới (Sandbox, Fintech, công nghệ xanh, tài chính xanh, tài sản số, dữ liệu số,…), hướng tới kinh tế tri thức, kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Tầng này tạo ra giá trị tri thức và công nghệ kỹ thuật, quản lý kinh doanh, gắn với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đổi mới sáng tạo.
(3) Tầng hỗ trợ - xã hội: bao gồm hệ thống đô thị, nhà ở; giáo dục, y tế; dịch vụ chất lượng cao; môi trường sống. Tầng này tạo ra điều kiện và nền tảng phát triển của hệ sinh thái.
Đặc trưng nổi bật của cấu trúc hệ sinh thái kinh tế FEZ là các quan hệ và mạng lưới được tổ chức theo mô hình mạng (network), mang tính cộng sinh, hướng đến liên kết mở, có tính tương tác và hiệu ứng lan tỏa cao.
Các trục liên kết (liên thông hệ sinh thái):
Liên kết nội khu: là sự liên kết giữa doanh nghiệp - cơ sở nghiên cứu - tài chính - nhân lực - hạ tầng. Trong đó, liên kết ngang giữa các doanh nghiệp cùng ngành, tạo cụm ngành, liên kết dọc được thiết lập theo chuỗi giá trị, từ nguyên liệu, tri thức, sản xuất đến thương mại, và liên kết chéo giữa các ngành tạo thành liên kết mạng. Những dạng liên kết này tạo nên sự cộng hưởng và nâng cao hiệu quả vận hành của hệ sinh thái kinh tế FEZ.
Liên kết quốc gia: được thể hiện thông qua kết nối với các vùng kinh tế trong nước, qua đó thúc đẩy liên kết vùng, lan tỏa động lực tăng trưởng và phát huy hiệu quả phân công lao động trên phạm vi quốc gia. Liên kết quốc tế: thể hiện qua sự tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu gắn kết với các công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia và các thiết chế, định chế kinh tế quốc tế. Đây là cơ sở quan trọng để FEZ nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng không gian phát triển và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.
2.2.4. Mô phỏng hệ sinh thái kinh tế khu kinh tế tự do thế hệ mới
Có thể mô phỏng những thành tố chính yếu của hệ sinh thái này qua các tầng cấu trúc và liên kết (Hình 1). Trong đó, các hình tại giữa tầng là trung tâm của hệ sinh thái, các tầng lần lượt là hệ sinh thái sản xuất kinh doanh, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái hỗ trợ - xã hội, và mối liên kết giữa chúng. Trong các lĩnh vực, ngành nghề cụ thể cùng với sự liên kết chuỗi giá trị và liên kết cụm ngành lại hình thành nên một hệ sinh thái bên trong, như hệ sinh thái logistics, hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn.
Hình 1: Hệ sinh thái kinh tế khu kinh tế tự do thế hệ mới



2.3. Một số hàm ý chính sách đối với phát triển khu kinh tế tự do thế hệ mới ở Việt Nam
Thứ nhất, tiếp tục đột phá về thể chế phát triển, xây dựng môi trường thể chế cạnh tranh, minh bạch và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế. Cần nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý đặc thù đối với FEZ theo hướng phân quyền, phân cấp hợp lý; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; mở rộng áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với các mô hình kinh doanh, công nghệ và dịch vụ mới, qua đó tạo dư địa cho đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.
Thứ hai, FEZ là một đột phá trong kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới - một “Hệ sinh thái phát triển có chủ đích, không phải là tập hợp chính sách rời rạc, mà là một cấu trúc đồng bộ giữa thiết kế thể chế; phân bổ nguồn lực; cơ chế cạnh tranh; trách nhiệm giải trình” (Nguyễn Bích Lâm, 2026b). Theo đó, vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển của hệ sinh thái kinh tế FEZ không chỉ dừng lại ở chức năng quản lý, mà trọng tâm là kiến tạo thể chế, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi và đồng hành cùng doanh nghiệp. Nhà nước cần trở thành đối tác phát triển của doanh nghiệp trong đầu tư kết cấu hạ tầng chiến lược; phát triển khoa học, công nghệ; xây dựng hệ thống dữ liệu số; thúc đẩy ứng dụng AI, IoT và quá trình chuyển đổi xanh.
Thứ ba, từ góc độ hoạch định chính sách, FEZ cần được nhìn nhận như một hệ sinh thái kinh tế toàn diện và bao trùm, vừa là hạt nhân vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong chiến lược phát triển quốc gia. Trên cơ sở phát huy lợi thế địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao, cần thúc đẩy quá trình nội sinh hóa ngoại lực; đồng thời tăng cường các đột phá về thể chế, chính sách phát triển, khoa học và công nghệ, cũng như đổi mới sáng tạo nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn phát triển mới.
3. Kết luận
Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, khu kinh tế tự do thế hệ mới không chỉ được nhìn nhận như một mô hình thể chế nhằm thu hút đầu tư, thương mại và dịch vụ quốc tế, mà đã phát triển thành một hệ sinh thái kinh tế tổng thể, đa tác nhân, đa tầng liên kết và có tính cộng sinh cao. Quá trình phát triển đó phản ánh sự chuyển dịch từ tư duy phát triển dựa trên các ưu đãi đơn lẻ sang tư duy kiến tạo hệ sinh thái phát triển tích hợp, lấy đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc tế làm động lực.
Trên cơ sở khái lược quá trình phát triển và làm rõ đặc điểm của FEZ thế hệ mới, bài viết không chỉ góp phần bổ sung cơ sở lý luận về mô hình khu kinh tế tự do thế hệ mới, mà còn cung cấp thêm luận cứ tham khảo cho quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển ở Việt Nam. Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc kiến tạo và phát triển các hệ sinh thái kinh tế FEZ hiệu quả, có khả năng thích ứng và cạnh tranh toàn cầu sẽ trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững.
_________________
Ngày nhận: 8/5/2026; Ngày bình duyệt: 22/6/2026; Ngày quyết định đăng: 5/7/2026.
Email tác giả: maihuuthinh@gmail.com
Tài liệu tham khảo:
Bảo Ngọc, T Long, T Chung (29/6/2024). Lập khu thương mại tự do Đà Nẵng: Động lực tăng trưởng mới. https://tuoitre.vn.
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đặng Thị Phương Hoa (2017). Nhìn lại vai trò của khu ngoại thương và khu kinh tế tự do trong quá trình công nghiệp hóa và chuyển đổi mô hình phát triển ở Hàn Quốc. Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 6 (496), tr. 83.
Kiều Mai (23/8/2025). Chuyên gia đề xuất hình thành khu kinh tế tự do tại Huế. https://theleader.vn.
Lê Hồng Giang (2019). Đổi mới mô hình phát triển Khu kinh tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong hội nhập kinh tế quốc tế (Luận án tiến sĩ kinh tế).
Nguyễn Bích Lâm (16/3/2026). Từ tăng trưởng theo quán tính đến tăng trưởng theo kiến trúc. Tạp chí Kinh tế Việt Nam, số 11 (6404).
Nguyễn Bích Lâm (02/4/2026). Thể chế kiến tạo: Thiết kế lại vai trò Nhà nước trong cấu trúc tăng trưởng mới. Tạp chí Kinh tế Việt Nam.
Nguyễn Minh Sang (1998). Đặc khu kinh tế - mô hình mới cần được nghiên cứu, thí điểm ở Việt Nam. Tạp chí Phát triển kinh tế, số 88-2/1998, tr. 30.
Phương Dung (12/8/2025). Hưng Yên nghiên cứu đề án thành lập khu kinh tế tự do. https://vnexpress.net.
Troekurova (2006). Thành lập khu vực thương mại tự do - Động lực thúc đẩy tự do hóa toàn cầu. Thông tin phục vụ lãnh đạo, số 12 (6/2007), tr.45.
Trần Thị Hồng Minh (2024). Báo cáo tham luận tại Diễn đàn:“Khu thương mại tự do Đà Nẵng - Động lực phát triển của ngành logistics, từ mô hình thế giới đến kinh nghiệm áp dụng cho Đà Nẵng” (tổ chức ngày 14/11/2024).
Trần Tô Tử (1998). Hình thành đặc khu kinh tế: cuộc chạy đua với thời gian. Tạp chí Phát triển kinh tế, số 95 tháng 9/1998, tr. 19, tr. 20.
Trung tâm Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương - Bộ Khoa học và Công nghệ (2009). Các khu kinh tế tự do ở Dubai, Hàn Quốc và Trung Quốc. Nxb Khoa học xã hội.
Võ Đại Lược (2021). Khái quát về sự phát triển các khu kinh tế tự do trên thế giới và một số kiến nghị đối với Việt Nam. https://tapchimattran.vn.