Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân là kết quả sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình vận động và phát triển tư duy lý luận của Đảng
Tóm tắt: Bài viết phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế tư nhân, trong đó làm rõ quá trình hình thành, kế thừa và phát triển quan điểm của Đảng qua các thời kỳ; luận giải nội dung cốt lõi của Nghị quyết 68-NQ/TW và ý nghĩa của việc chuyển hóa quan điểm thành chính sách trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Qua đó, bài viết góp phần khẳng định giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh và tính đúng đắn, sáng tạo của đường lối phát triển kinh tế tư nhân hiện nay.
TS TRẦN THỊ HÀ GIANG
Khoa Triết học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

1. Mở đầu
Trong quá trình đổi mới và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, đồng thời không ngừng hoàn thiện tư duy lý luận về phát triển kinh tế. Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững, tự chủ, việc phát huy mọi nguồn lực xã hội và các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân, trở thành đòi hỏi khách quan và cấp thiết.
Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân được ban hành đã đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra, xác lập vị thế của kinh tế tư nhân, là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”. Sự thay đổi mang tính đột phá về tư duy này không chỉ là sự tiếp nối tư tưởng từ nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế mà còn thể hiện sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế tư nhân trong tiến trình lãnh đạo phát triển đất nước.
Bài viết phân tích nội dung Nghị quyết 68 - NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm khẳng định giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh và tính đúng đắn, sáng tạo của đường lối phát triển kinh tế tư nhân của Đảng ta hiện nay.
2. Nội dung
2.1. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về vai trò kinh tế tư nhân
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phát triển kinh tế luôn được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với các mục tiêu cốt lõi về độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Hướng tiếp cận trong tư tưởng Hồ Chí Minh đối với vai trò kinh tế tư nhân thể hiện tư duy biện chứng, thực tiễn cùng tinh thần nhân văn sâu sắc.
Một là, phát triển kinh tế nhằm nâng cao đời sống nhân dân
Theo Người: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.64). Xuất phát từ quan điểm đó, Hồ Chí Minh nhấn mạnh việc khuyến khích sản xuất, kinh doanh và làm giàu chính đáng của nhân dân là một yêu cầu tất yếu đối với sự nghiệp cách mạng. Trong nhận thức của Người, mọi thành phần kinh tế có khả năng tạo ra giá trị vật chất nhằm cải thiện cuộc sống đều cần được trân trọng và khai thác hữu hiệu. Chính tư tưởng này đã định hình nên cách nhìn cởi mở của Người đối với kinh tế tư nhân, coi đây như một lực lượng quan trọng đóng góp vào mục tiêu chiến lược của cách mạng là xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh”.
Hai là, thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần và sự tồn tại khách quan của kinh tế tư nhân như một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân trong một giai đoạn lịch sử cụ thể
Hồ Chí Minh không đặt bất kỳ hình thức sở hữu nào ở vị trí tuyệt đối, mà nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xuất phát từ các điều kiện lịch sử và kinh tế cụ thể của đất nước. Cụ thể, Người đã chỉ rõ rằng:
“Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau:
A- Kinh tế quốc doanh (thuộc Chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân).
B- Các hợp tác xã (nó là nửa Chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến Chủ nghĩa xã hội).
C- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa Chủ nghĩa xã hội).
D- Tư bản của tư nhân.
E- Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh)” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.293-294).
Đối với khu vực kinh tế tư nhân, Hồ Chí Minh đã nhận định rằng kinh tế tư nhân là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân trong một giai đoạn lịch sử cụ thể. Người khuyến khích “đối với những nhà tư sản công thương, Nhà nước không xóa bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ; mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước. Đồng thời Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo chủ nghĩa xã hội bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.373). Như vậy, việc sử dụng các hình thức kinh tế tư nhân như một công cụ chủ yếu nhằm thúc đẩy lực lượng sản xuất, tạo điều kiện vật chất cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Ba là, tôn trọng quyền làm giàu chính đáng và gắn kinh tế tư nhân với lợi ích xã hội
Tư tưởng Hồ Chí Minh tôn trọng quyền làm giàu chính đáng của nhân dân. Người khẳng định: “Đối với người làm thủ công và lao động riêng lẻ khác, Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.373). Bên cạnh đó, Người cũng nhấn mạnh: “Đẩy mạnh cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công, những người lao động riêng lẻ khác và đối với thành phần kinh tế tư bản tư doanh, đồng thời nó mở mang và tăng cường lực lượng của thành phần kinh tế quốc doanh, thúc đẩy việc phát triển kinh tế theo chủ nghĩa xã hội” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.374). Như vậy, theo Người, làm giàu thông qua lao động hợp pháp không chỉ phù hợp với lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà còn góp phần vào sự thịnh vượng của xã hội và đất nước.
Theo Người, phát triển kinh tế tư nhân phải gắn liền với trách nhiệm xã hội, đạo đức kinh doanh và lợi ích của dân tộc, từ đó đã thể hiện sự hài hòa giữa các mục tiêu kinh tế và giá trị nhân văn. Những định hướng như phát triển kinh tế vì con người, thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, và bảo vệ quyền làm giàu chính đáng của nhân dân đã trở thành nền tảng tư tưởng quan trọng. Đây cũng chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa và định hình đường lối phát triển kinh tế tư nhân qua các giai đoạn cách mạng, đặc biệt trong kỷ nguyên phát triển mới.
2.2. Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế tư nhân
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của kinh tế tư nhân là kết quả của một hành trình vừa tổng kết thực tiễn vừa phát triển nhận thức, lý luận. Quan điểm này kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh và được hình thành từ những yêu cầu khách quan của từng giai đoạn lịch sử phát triển đất nước.
a) Giai đoạn trước đổi mới: nhận thức thận trọng trong bối cảnh kinh tế kế hoạch hóa tập trung
Trong giai đoạn này, Đảng ta không hoàn toàn phủ nhận vai trò của các hình thức kinh tế nằm ngoài khu vực quốc doanh. Trên thực tế, nhiều Văn kiện Đại hội vẫn thừa nhận sự tồn tại của kinh tế cá thể hay kinh tế tiểu chủ trong phạm vi các giới hạn nhất định, phù hợp với trình độ phát triển còn thấp của lực lượng sản xuất lúc bấy giờ. Đại hội III mặc dù chưa bàn đến kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân một cách trực tiếp, nhưng đã nhấn mạnh một số điểm về phát triển vai trò của những “người buôn bán nhỏ” - là những tiểu thương, trên tinh thần phát huy điểm mạnh, khắc phục hạn chế của họ: “Đối với người buôn bán nhỏ, dùng các hình thức tổ hợp tác mua và bán, tổ hợp tác vừa mua bán vừa sản xuất và cửa hàng hợp tác, v.v. để cải tạo họ theo chủ nghĩa xã hội, chuyển dần phần lớn những người buôn bán nhỏ sang sản xuất (ĐCSVN, 2022, tr.924-925)”. “Đối với thợ thủ công và những người buôn bán nhỏ đã được tổ chức, cần tiến hành giáo dục tư tưởng và đấu tranh chống những tư tưởng và tập quán xấu của xã hội cũ; giúp họ không ngừng cải tiến quản lý sản xuất, cải tiến kỹ thuật và cải tiến kinh doanh” (ĐCSVN, 2002, tr.935).
Đại hội IV đề ra đường lối phát triển kinh tế: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới; kết hợp kinh tế với quốc phòng; tăng cường quan hệ phân công, hợp tác, tương trợ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên cơ sở chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, đồng thời phát triển quan hệ kinh tế với các nước khác trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền và các bên cùng có lợi; làm cho nước Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có kinh tế công - nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học, kỹ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh, hạnh phúc” (ĐCSVN, 2004, tr.524). Cách tiếp cận này nhất quán với tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ phản ánh sự linh hoạt trong tư duy lãnh đạo thời kỳ đầu mà còn minh chứng cho sự kết nối giữa lý luận và thực tiễn trong đường lối phát triển kinh tế của đất nước vì sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân.
b) Giai đoạn từ mở đầu đổi mới đến trước đại hội X năm 2006: Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân.
Đại hội VI (1986) đánh dấu bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử trong tư duy kinh tế của Đảng. Trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn, Đại hội khẳng định: “Để tháo gỡ khó khăn, tạo ra động lực mới, phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế với nội dung chủ yếu là xoá bỏ tập trung quan liêu, bao cấp, sửa đổi các chính sách đòn bẩy kinh tế, hình thành cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; thiết lập trật tự, kỷ cương” (ĐCSVN, 2006, tr.486); và “Sử dụng kinh tế tư bản tư nhân (tư sản nhỏ) trong một số ngành nghề đi đôi với cải tạo họ từng bước bằng nhiều hình thức kinh tế tư bản nhà nước (...) Mở rộng nhiều hình thức liên kết giữa các thành phần kinh tế theo nguyên tắc củng cố có lợi, bình đẳng trước pháp luật” (ĐCSVN, 2006, tr.554). “Phải có chính sách mở đường cho người lao động tự tạo ra việc làm, kích thích mọi người đưa vốn vào sản xuất, kinh doanh, tiết kiệm tiêu dùng để tích lũy, mở rộng tái sản xuất trên quy mô toàn xã hội (…) đi đôi với việc phát triển kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, tăng cường nguồn tích lũy tập trung của Nhà nước và tranh thủ vốn nước ngoài, cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác” (ĐCSVN, 2006, tr.389). Đây là lần đầu tiên nền kinh tế nhiều thành phần được xác định rõ ràng như một đặc trưng khách quan của thời kỳ quá độ.
Tiếp đó, Đại hội VII (1991) thống nhất quan điểm: “Nền kinh tế có nhiều thành phần với nhiều dạng sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển có hiệu quả nền sản xuất xã hội. Mọi đơn vị kinh tế, không phân biệt quan hệ sở hữu đều hoạt động theo cơ chế tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau bình đẳng trước pháp luật” (ĐCSVN, 2007, tr.155). Quan điểm này có ý nghĩa đặc biệt, bởi lần đầu tiên Đảng chính thức xác lập địa vị pháp lý và tính lâu dài của các thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân.
Đại hội VIII (1996) tiếp tục nhấn mạnh kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước: “Khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh” (ĐCSVN, 2015, tr.322). Điều đó là sự kế thừa và tiếp tục phát triển quan điểm của Đại hội VII (1991): “Khuyến khích mọi doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước khai thác các tiềm năng, ra sức đầu tư phát triển, yên tâm làm ăn lâu dài, hợp pháp, có lợi cho quốc kế dân sinh; đối xử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế trước pháp luật, không phân biệt sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh” (ĐCSVN, 2015, tr.320-321), để hướng tới “Tạo thế và lực cho doanh nghiệp Việt Nam phát triển, tăng khả năng hợp tác và cạnh tranh” (ĐCSVN, 1996, tr.322).
Đại hội IX (2001) phát triển thêm bước mới về tư duy kinh tế, Đảng khẳng định: “Kinh tế cá thể, tiểu chủ ở cả nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài. Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước” (ĐCSVN, 2019a, tr.919). Những quan điểm này cho thấy sự phát triển nhất quán trong tư duy của Đảng, đồng thời phản ánh sự vận dụng ngày càng đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy mọi nguồn lực xã hội cho phát triển đất nước.
c) Giai đoạn từ Đại hội X đến trước khi ra đời Nghị quyết 68-NQ/TW: khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng
Bước sang giai đoạn mới, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, quan điểm của Đảng về vai trò của kinh tế tư nhân không ngừng được nâng lên ở những tầm cao mới. Tại Đại hội X năm 2006, Đảng đã nhấn mạnh: “Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế” (ĐCSVN, 2019b, tr.103). Trong nhiệm kỳ Đại hội X, vấn đề đảng viên tham gia hoạt động kinh tế tư nhân được Đảng ta chính thức đặt ra và ban hành các quy định cụ thể. Tại Hội nghị Trung ương 3, khóa X, nội dung này đã được đưa ra thảo luận kỹ và thông qua “Quy định về việc đảng viên làm kinh tế tư nhân”.
Đến Đại hội XI (năm 2011), Đảng tiếp tục khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân bằng cách nhấn mạnh: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế. Phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật” (ĐCSVN, 2019b, tr.416). Đại hội XII khẳng định: “tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế” (ĐCSVN, 2016, tr.107-108). Đại hội XIII tiếp tục quan điểm trên nhấn mạnh “Phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân của người Việt Nam cả về số lượng, chất lượng, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế. Xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân; hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động. Khuyến khích hình thành, phát triển những tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế. Phấn đấu đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp với tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP đạt 60 - 65%” (ĐCSVN, 2021, tr.240).
Đây là những chủ trương mang tính đột phá trong tư duy lý luận, nâng tầm vai trò của khu vực kinh tế tư nhân từ một “bộ phận cấu thành” thành “động lực quan trọng” cho sự tăng trưởng kinh tế và phát triển của đất nước. Những chuyển biến về nhận thức này thể hiện sự thống nhất trên cơ sở kế thừa, phát triển quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh, nêu cao tinh thần phát huy sức mạnh toàn dân. Đồng thời, đây cũng là minh chứng rõ nét cho khả năng đổi mới không ngừng và quyết tâm tự hoàn thiện của Đảng về vai trò của kinh tế tư nhân nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết thúc đẩy sự nghiệp phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
2.3. Nghị quyết 68-NQ/TW khẳng định giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh và tính đúng đắn, sáng tạo của đường lối phát triển kinh tế tư nhân của Đảng
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xu hướng phát triển xanh, kinh tế số và kinh tế tri thức khiến mô hình tăng trưởng truyền thống không còn phù hợp. Ở nước ta, “Kinh tế tư nhân hiện vẫn đối mặt với nhiều rào cản kìm hãm sự phát triển, chưa bứt phá về quy mô và năng lực cạnh tranh, chưa đáp ứng được yêu cầu, kỳ vọng là lực lượng nòng cốt của kinh tế đất nước” (Bộ Chính trị, 2025, tr.1). Trong khi đó, khu vực kinh tế nhà nước dù giữ vai trò chủ đạo nhưng khó có thể một mình đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Chính vì vậy, việc khơi thông và phát huy tối đa nguồn lực từ kinh tế tư nhân trở thành yêu cầu khách quan và cấp thiết cả về kinh tế lẫn chiến lược phát triển quốc gia.
Có thể thấy, Nghị quyết 68-NQ/TW không chỉ là sự tiếp nối tinh thần đổi mới từ Đại hội VI đến Đại hội XIII mà còn là bước chuẩn bị quan trọng về mặt lý luận và thể chế cho Đại hội XIV của Đảng. Nếu Đại hội VI mở đường cho kinh tế nhiều thành phần, Đại hội XIII xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng”, thì đến Nghị quyết 68-NQ/TW nhận thức của Đảng đã phát triển lên một tầm cao mới, khẳng định: “Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững” (Bộ Chính trị, 2025, tr.2).
Đại hội XIV đặc biệt nhấn mạnh: “phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng” (ĐCSVN, 2026, tr.95); “Chú trọng phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân Việt Nam lớn, mạnh, ngang tầm khu vực và thế giới” (ĐCSVN, 2026, tr.96) và “lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh” (ĐCSVN, 2026, tr.91). Đây chính là bước đột phá mang tính lịch sử trong tư duy phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ mới.
Thứ nhất, đột phá về nhận thức lý luận đối với vai trò của kinh tế tư nhân
Điểm đột phá đầu tiên của Nghị quyết 68-NQ/TW là trong nhận thức về vị trí và vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết 68-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu phải: “Xoá bỏ triệt để nhận thức, tư tưởng, quan niệm, thái độ định kiến về kinh tế tư nhân Việt Nam; đánh giá đúng vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân đối với phát triển đất nước” (Bộ Chính trị, 2025, tr.2). Điều này cho thấy sự chuyển biến rất sâu sắc trong tư duy của Đảng, từ “thừa nhận sự tồn tại” sang “khuyến khích phát triển mạnh mẽ”, xem kinh tế tư nhân là động lực phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
Quan điểm này là sự kế thừa sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế dân tộc và đường lối của Đảng về kinh tế tư nhân được phát triển từng bước qua các kỳ Đại hội. Điều đó cho thấy, Nghị quyết 68-NQ/TW là kết quả của cả quá trình phát triển nhận thức lý luận của Đảng về kinh tế tư nhân, đồng thời thể hiện bước phát triển đột phá của Đại hội XIV trong việc nhìn nhận vai trò của khu vực kinh tế này.
Thứ hai, đột phá về thể chế và tư duy quản trị phát triển
Một điểm đột phá rất quan trọng của Nghị quyết 68-NQ/TW là chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang tư duy “kiến tạo phát triển”. Nhà nước không chỉ quản lý doanh nghiệp mà còn chủ động “Tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, ổn định, an toàn, dễ thực thi, chi phí thấp, đạt chuẩn quốc tế, bảo đảm khả năng cạnh tranh khu vực, toàn cầu” (Bộ Chính trị, 2025, tr.2)
Đây là bước phát triển rất mới trong tư duy quản trị quốc gia. Nếu trước đây, cơ chế quản lý còn mang tính “xin - cho”, thì nay Đảng hướng tới xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển “lấy doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ doanh nhân có đạo đức, văn hoá kinh doanh, bản lĩnh, trí tuệ, năng động, sáng tạo, nỗ lực vươn lên; tôn vinh, cổ vũ, phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, khát vọng cống hiến, thượng tôn pháp luật, tích cực thực hiện trách nhiệm xã hội” (Bộ Chính trị, 2025, tr.2-3). Điều này phù hợp với tinh thần đổi mới mà Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh, đó là đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, quản trị và kiến tạo phát triển.
Thứ ba, đột phá về chính sách thực tiễn và xây dựng đội ngũ doanh nhân dân tộc
Không chỉ định hướng chung, Nghị quyết 68-NQ/TW đưa ra hệ thống giải pháp khá toàn diện và thực tiễn để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới. Nghị quyết 68-NQ/TW: “cho phép các địa phương sử dụng ngân sách địa phương để hỗ trợ chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vườn ươm công nghệ” (Bộ Chính trị, 2025, tr.8) cụ thể như hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, đất đai, khoa học công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao; thúc đẩy chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế xanh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đặc biệt, Nghị quyết 68-NQ/TW thể hiện bước đột phá rất mới khi nhấn mạnh cần mạnh dạn đặt hàng, giao một số việc lớn cho các tập đoàn, doanh nghiệp tư nhân. Điều này cho thấy Đảng và Nhà nước tin tưởng đối với khu vực kinh tế tư nhân, xem đây không chỉ là lực lượng hỗ trợ mà còn là lực lượng tiên phong trong nhiều lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng đặc biệt chú trọng: “Xây dựng đội ngũ doanh nhân có đạo đức, văn hoá kinh doanh, trung thực, thanh liêm, trách nhiệm xã hội, gắn với bản sắc dân tộc, tiếp cận tinh hoa văn hoá kinh doanh thế giới, mang trong mình khát vọng xây dựng đất nước giàu mạnh, hùng cường, thịnh vượng” (Bộ Chính trị, 2025, tr.13). Đây là sự kế thừa sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của giới công thương trong công cuộc kiến thiết quốc gia, đồng thời phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
Như vậy, có thể khẳng định rằng Nghị quyết 68-NQ/TW đã đánh dấu một bước đột phá toàn diện trong tư duy và hành động của Đảng đối với kinh tế tư nhân, từ việc nâng tầm nhận thức lý luận đến việc thiết lập hệ thống chính sách cụ thể và đồng bộ. Đây chính là cơ sở quan trọng để phát huy tối đa tiềm năng của khu vực kinh tế tư nhân, góp phần đưa Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và hội nhập sâu rộng trong kỷ nguyên mới.
3. Kết luận
Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân là kết quả của một quá trình vận động và phát triển không ngừng trong tư duy lý luận cũng như thực tiễn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên cơ sở kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế tư nhân, thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần và tôn trọng quyền làm giàu chính đáng, Đảng đã từng bước hoàn thiện nhận thức về vai trò của kinh tế tư nhân qua các giai đoạn lịch sử, từ chỗ thừa nhận sự tồn tại, đến khuyến khích phát triển và đến nay là khẳng định vị thế là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, việc phát huy vai trò của kinh tế tư nhân không chỉ là yêu cầu kinh tế, mà còn mang ý nghĩa chiến lược đối với tương lai dân tộc. Nghị quyết 68-NQ/TW đã thể hiện tầm nhìn, bản lĩnh và khát vọng phát triển của Việt Nam trong thế kỷ XXI, hướng tới một quốc gia giàu mạnh, tự chủ, sáng tạo và phát triển bền vững.
_________________
Ngày nhận bài: 10/6/2026; Ngày bình duyệt: 14/7/2026; Ngày duyệt đăng: 17/7/2026.
Email tác giả: giangtth@hnue.edu.vn
Tài liệu tham khảo
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4 tháng 5 năm 2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
ĐCSVN (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2002). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 21). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2004). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 37). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2006). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 47). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2007). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 51). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2015). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 55). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2019a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (Phần 1: Khóa VI, VII, VIII, IX, X). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2019b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (Phần 2: Khóa VI, VII, VIII, IX, X). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 8). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập (Tập 12). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.