Xây dựng lực lượng đối ngoại nhân dân chuyên nghiệp, hiện đại, đa chủ thể trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.7348
Tóm tắt: Xây dựng lực lượng đối ngoại nhân dân chuyên nghiệp, hiện đại, đa chủ thể là yêu cầu cấp thiết nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại. Bài viết đánh giá thực trạng tổ chức, năng lực đội ngũ và mạng lưới đối tác hiện nay, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nâng tầm đối ngoại nhân dân trong bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Bài viết là kết quả nghiên cứu của nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ năm 2026: “Công tác đối ngoại nhân dân của Việt Nam trong kỷ nguyên mới: vấn đề và giải pháp”, mã nhiệm vụ BNG/NV/2026-05.
LÊ THỊ HỒNG VÂN
TỐNG THỊ THANH THỦY
Cục Ngoại vụ và Ngoại giao văn hóa, Bộ Ngoại giao

1. Mở đầu
Sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã tích lũy được thế và lực mới, quy mô nền kinh tế và đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao. Đại hội XIV của Đảng đã chính thức định vị đất nước trước khởi điểm lịch sử - “kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” (ĐCSVN, 2026, tr.148). Trong giai đoạn cách mạng quan trọng này, vấn đề tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế được khẳng định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị nhằm tiên phong kiến tạo, bảo đảm môi trường quốc tế thuận lợi nhất cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội XIV đã đề ra, bao gồm việc bứt phá tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm đạt tối thiểu 10% và tỷ trọng kinh tế số đóng góp khoảng 30% GDP vào năm 2030 - đòi hỏi nền ngoại giao nước nhà phải phát huy tối đa vai trò của cấu trúc ba trụ cột thống nhất là “đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân” (ĐCSVN, 2026, tr.118). Trong chỉnh thể đó, đối ngoại nhân dân với đặc trưng lấy lòng dân làm bệ đỡ, lấy tình cảm và sự tin cậy làm cầu nối phi chính phủ, giữ vị trí then chốt xây dựng nền tảng xã hội vững bền cho các mối quan hệ đối ngoại. Vì thế, việc xây dựng lực lượng đối ngoại nhân dân chuyên nghiệp, hiện đại, đa chủ thể theo hướng linh hoạt, thích nghi cao là đòi hỏi tất yếu về mặt thực tiễn để phục vụ trực tiếp các đột phá chiến lược của quốc gia.
Trước sự chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ phát triển chiều rộng dựa vào tài nguyên sang phát triển chiều sâu dựa vào tri thức, công nghệ số đòi hỏi một tư duy đối ngoại tương thích (Bộ Chính trị, 2024). Lực lượng đối ngoại nhân dân phải chuyển mình thành một lực lượng tiên phong khai thông các dòng chảy tri thức, công nghệ, kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia với các trung tâm công nghệ tiên tiến của nhân loại. Sự bứt tốc phát triển kinh tế đòi hỏi sự bứt tốc tương ứng trong tư duy tập hợp lực lượng, biến đối ngoại nhân dân thành một kênh thực lực kinh tế và công nghệ thực chất.
2. Nội dung
2.1. Nhận thức lý luận và cơ sở chính trị xây dựng lực lượng đối ngoại nhân dân
Một là, tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nhân dân
Cội nguồn tri thức trực tiếp quy định bản sắc cách mạng hòa hiếu của đối ngoại nhân dân chính là tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Người căn dặn: “Ngoại giao là nghệ thuật, mà nghệ thuật thì phải biết tùy cơ ứng biến”, do vậy, phương châm ngoại giao của chúng ta là “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “hòa hiếu”, “lấy chí nhân thay cường bạo”, “thêm bạn, bớt thù”; tránh đối đầu và “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới” (Tô Lâm, 2024).
Sức mạnh của đối ngoại nhân dân Việt Nam được xây dựng vững chắc trên khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới ngọn cờ tập hợp chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, khác biệt hoàn toàn với các lý thuyết ngoại giao công chúng hay ngoại giao kênh hai của phương Tây - những mô hình thường tách bạch nhà nước với xã hội dân sự tự phát mang tính truyền thông thương mại ngắn hạn. Mô hình thể chế của Việt Nam bảo đảm tính thống nhất cao độ về mặt mục tiêu chính trị, loại bỏ nguy cơ mâu thuẫn hay phân tán nguồn lực giữa các kênh đối ngoại như đôi khi xảy ra ở các nước có xã hội dân sự vận hành độc lập, tự phát, phản ánh rõ nét đặc trưng ưu việt của hệ thống chính trị Việt Nam.
Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc luôn là mục tiêu bất biến, cao nhất của hoạt động đối ngoại. Tuy nhiên, lợi ích đó không được nhìn nhận một cách biệt lập, vị kỷ mà được hòa quyện biện chứng với các giá trị nhân văn phổ quát của nhân loại, thông qua tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng.
Trong kỷ nguyên mới, “dĩ bất biến” chính là nền độc lập, tự chủ quốc gia và hạnh phúc của nhân dân; “ứng vạn biến” là sự linh hoạt, uyển chuyển về phương thức tổ chức, tập hợp đa dạng các lực lượng nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam. Thế trận lòng dân toàn cầu được tạo lập trên nền tảng đó chính là thành tố cấu thành sức mạnh mềm quốc gia vững chắc nhất, giúp vô hiệu hóa các áp lực địa chính trị từ bên ngoài, củng cố vững chắc năng lực tự chủ chiến lược của đất nước.
Hai là, tiến trình phát triển lý luận của Đảng về đối ngoại nhân dân
Đối ngoại nhân dân không phải là một phương thức bổ trợ mang tính phong trào ngắn hạn, mà là một sáng tạo lý luận độc đáo, nhất quán của cách mạng Việt Nam. Ngay từ Đại hội II (tháng 2/1951), Đảng ta đã xác định nhiệm vụ phát triển ngoại giao nhân dân nhằm thắt chặt liên hệ tổ chức giữa các đoàn thể cách mạng Việt Nam với thế giới, tạo lập tiền đề đầu tiên cho lý luận đối ngoại quần chúng: “Phát triển ngoại giao nhân dân, đặc biệt chú trọng tham gia các cuộc vận động lớn trên thế giới, và thắt chặt liên hệ tổ chức và hoạt động giữa những đoàn thể của nhân dân Việt Nam với các đoàn thể nhân dân thế giới” (ĐCSVN, 2001, tr.147).
Trong thời kỳ đổi mới, nhận thức này được bổ sung, phát triển không ngừng. Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/9/1994 của Ban Bí thư về mở rộng và đổi mới hoạt động đối ngoại nhân dân đã khẳng định: “Công tác đối ngoại nhân dân là bộ phận cấu thành công tác đối ngoại nói chung” (ĐCSVN, 2007, tr.634); “Hoạt động đối ngoại nhân nhân nhằm: a) Làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ đất nước và con người Việt Nam, chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước, tranh thủ thiện cảm, sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân các nước đối với công cuộc đổi mới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta” (ĐCSVN, 2007, tr.635). Đại hội VIII (năm 1996) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước, góp phần thúc đẩy xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển (ĐCSVN, 2015, tr.401). Đặc biệt, Đại hội XIII (năm 2021) đã đánh dấu bước phát triển hoàn chỉnh về mặt lý luận khi định vị đối ngoại nhân dân là một trong ba trụ cột chiến lược cấu thành nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp, phối hợp chặt chẽ cùng đối ngoại đảng và ngoại giao nhà nước dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng (ĐCSVN, 2021, tr.162). Tại Đại hội XIV (năm 2026), Đảng ta tiếp tục yêu cầu “phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước” (ĐCSVN, 2026, tr.117).
Sự phát triển lý luận của Đảng về vị trí của đối ngoại nhân dân phản ánh bước chuyển dịch mang tính biện chứng trong tư duy phát triển quốc gia. Đường lối của Đảng đã chỉ rõ sự chuyển dịch từ việc xem đối ngoại nhân dân là công tác “giao lưu hữu nghị, đổi mới nâng cao hiệu quả” sang việc định danh đây là “trụ cột” chính thức trong chỉnh thể ngoại giao ba trụ cột thống nhất, và hiện nay tại Đại hội XIV là định hướng nâng tầm tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa của quốc gia. Bước chuyển lý luận này khẳng định đối ngoại nhân dân chính là “tuyến đầu mềm” và “tuyến hậu bền vững”, gánh vác trọng trách kiến tạo nền tảng xã hội và lòng tin vững bền giữa các dân tộc, bảo đảm cho sự tự chủ chiến lược và phát triển trường tồn của đất nước.
2.2. Thực trạng phát triển và các vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng lực lượng đối ngoại nhân dân Việt Nam hiện nay
a) Những kết quả nổi bật trong giai đoạn 2021 - 2026
Thứ nhất, thành tựu trong xây dựng mạng lưới đối ngoại nhân dân. Thực tế triển khai Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 5/1/2022 của Ban Bí thư khóa XIII đã khẳng định vai trò tiên phong của đối ngoại nhân dân trong việc phát triển mạng lưới đối tác đa chủ thể, đa tầng nấc. Mạng lưới giao lưu quần chúng của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội đã vươn rộng và kết nối mật thiết với hơn 1.200 tổ chức nhân dân và tổ chức phi chính phủ nước ngoài. Sự phát triển này bổ trợ cho kênh ngoại giao nhà nước với mạng lưới 195 quốc gia và vùng lãnh thổ và 40 đối tác toàn diện trở lên và kênh đối ngoại đảng kết nối với 259 chính đảng tại 115 quốc gia, hình thành nên một thế trận lòng dân toàn cầu vô cùng vững chắc. Quy mô mạng lưới đa chủ thể này được tường minh, trực quan. Cụ thể:
Hình 1. Quy mô mạng lưới đối tác của các kênh đối ngoại Việt Nam tính đến năm 2026 (nguồn Bộ Ngoại giao)
Quy mô mạng lưới của lực lượng đối ngoại nhân dân với hơn 1.200 tổ chức đối tác quốc tế là “lớp đệm xã hội” rộng lớn và đa dạng nhất, giúp tạo dựng dư địa hành động linh hoạt cho ngoại giao chính thức. Khi các kênh chính thống gặp rào cản do các biến động địa chính trị nhạy cảm, kênh phi chính phủ nước ngoài và giao lưu hữu nghị nhân dân vẫn luôn bền bỉ, giúp duy trì dòng chảy thông tin và lòng tin chiến lược của Việt Nam.
Thứ hai, đối ngoại nhân dân đã chứng minh năng lực thực tiễn thông qua việc huy động đắc lực các nguồn vốn quốc tế phục vụ các mục tiêu an sinh xã hội, giảm nghèo và phát triển xanh tại các địa phương. Dòng viện trợ từ các tổ chức phi chính phủ nước ngoài duy trì hằng năm đạt mức trên 200 triệu USD bất chấp các xung đột địa chính trị cắt giảm dòng tài chính nhân đạo. Bên cạnh đó, lực lượng cầu nối của khoảng 6 triệu người Việt Nam sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đóng góp một nguồn lực to lớn cho đất nước. Lũy kế đến cuối năm 2024, lượng kiều hối gửi về nước đạt gần 250 tỷ USD, đi kèm với 422 dự án đầu tư trực tiếp đạt tổng số vốn đăng ký 1,725 tỷ USD. Nguồn vốn xã hội và tài chính này đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, hỗ trợ chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao. Chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia (ĐCSVN, 2026, tr.51). Quy mô các nguồn đóng góp tài chính này được thể hiện rõ nét qua hình 2.
Bảng 2. Các nguồn lực từ kiều bào và phi chính phủ nước ngoài (PCPNN) đầu tư năm 2026
Đơn vị tính: tỷ USD
| STT | Nội dung | Kinh phí | Ghi chú |
| 1 | Tổng lượng kiều hối gửi về nước (tính đến cuối năm 2024) | 250 | |
| 2 | Tổng vốn đầu tư của kiều bào tại Việt Nam | 1,725 | |
| 3 | Viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài | 0,2 | |
| Tổng cộng | 251,925 |
Dòng kiều hối và dự án đầu tư trực tiếp của kiều bào chứng minh rằng sức mạnh mềm văn hóa và tình cảm gắn kết quốc gia đã được chuyển hóa thành các nguồn thực lực kinh tế trong thực tế, trực tiếp cải thiện chỉ số phát triển con người HDI (0,766 điểm) và củng cố vững chắc chỉ số hạnh phúc của nhân dân.
Đặc biệt, cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đã mang lại những thuận lợi vượt bậc về thể chế. Việc Bộ Ngoại giao tiếp nhận chức năng quản lý nhà nước thống nhất đối với đối ngoại nhân dân, sáp nhập các ban chuyên trách và định hình lại các tổ chức trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã xóa bỏ tình trạng chồng chéo trước đây, kiến tạo nên một đầu mối chỉ đạo thống nhất, tinh nhuệ và hiệu năng, hiệu quả cao.
b) Những điểm nghẽn và thách thức đặt ra đối với việc xây dựng lực lượng đối ngoại nhân dân
Mặc dù đạt được những thành tích rất đáng tự hào, thực tiễn xây dựng lực lượng đối ngoại nhân dân hiện nay vẫn đang đối mặt với những nút thắt và điểm nghẽn như tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 12-CT/TW đã thẳng thắn chỉ ra các nguy cơ (Đảng ủy Bộ Ngoại giao, 2026), đó là:
Thứ nhất, tình trạng già hóa và suy giảm ảnh hưởng của mạng lưới bạn bè hữu nghị truyền thống, tạo ra nguy cơ hình thành khoảng trống thế hệ nếu tiến trình kết nối, trẻ hóa đối tác sang thế hệ trẻ quốc tế diễn ra chậm chạp.
Thứ hai, nội dung hoạt động ở một số nơi vẫn mang nặng tính phong trào, lễ tân bề nổi, thiếu tính thực chất, chưa gắn chặt với các bài toán phát triển chiến lược của địa phương như chuyển đổi xanh, thu hút công nghệ lõi và chuyển dịch tri thức mới.
Thứ ba, cơ chế phối hợp thông tin và nền tảng dữ liệu dùng chung giữa ba trụ cột đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân còn mỏng, gây chồng chéo hoặc bỏ sót cơ hội thu hút nguồn lực.
Thứ tư, lực lượng cán bộ làm đối ngoại nhân dân chuyên trách sau tinh giản bộ máy có xu hướng mỏng về biên chế, chưa được trang bị đầy đủ các kỹ năng đàm phán đa phương, ngoại ngữ và kỹ năng số để phản ứng kịp thời trước các biến động địa chính trị phức tạp.
Thứ năm, tình trạng hành chính hóa và sự thiếu liên thông về cơ sở dữ liệu giữa ba trụ cột đối ngoại làm suy giảm đáng kể tính phản ứng nhanh nhạy đặc trưng của kênh nhân dân. Các quy trình phê duyệt hành chính rườm rà đối với hoạt động đoàn ra, đoàn vào và tổ chức hội thảo quốc tế đã vô hình trung biến các tổ chức nhân dân thành các cơ quan hành chính thụ động, triệt tiêu tính sáng tạo và linh hoạt cần có. Nguy cơ “khoảng trống thế hệ” trong lực lượng đối tác truyền thống không chỉ là sự già hóa về tuổi tác của bạn bè quốc tế, mà còn phản ánh sự thiếu hụt các thông điệp truyền thông hiện đại, giàu tính tương tác để thu hút thế hệ trẻ toàn cầu - những chủ thể đang định hình dòng chảy dư luận trên không gian số.
2.3. Một số giải pháp xây dựng lực lượng đối ngoại nhân dân chuyên nghiệp, hiện đại, đa chủ thể trong kỷ nguyên mới
Để tháo gỡ các điểm nghẽn nêu trên và nâng tầm đối ngoại nhân dân tương xứng với tầm vóc lịch sử của dân tộc trong kỷ nguyên mới, toàn hệ thống phải quán triệt, bám sát phương châm hành động mới của Đảng, đó là “chủ động kiến tạo, thích ứng linh hoạt, đột phá phát triển, thực chất hiệu quả” (Ban Bí thư, 2026) và triển khai quyết liệt bốn nhóm giải pháp đột phá.
Một là, đột phá thể chế hành chính, đơn giản hóa quy trình và tăng cường hậu kiểm. Trọng tâm trước tiên là phải cải cách triệt để quy trình quản lý hành chính trong công tác đối ngoại nhân dân. Cần cụ thể hóa và thể chế hóa nghiêm túc Quy định số 392-QĐ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại theo hướng phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho các địa phương có đủ năng lực tự làm, tự chịu trách nhiệm (Bộ Chính trị, 2026). Chuyển dịch mạnh mẽ phương thức quản lý từ tư duy nặng về “tiền kiểm” sang cơ chế kiểm soát rủi ro gắn liền với tăng cường “hậu kiểm”. Đơn giản hóa tối đa các thủ tục phê duyệt hành chính đối với hoạt động đón đoàn vào, đoàn ra, tiếp nhận tài chính nhân đạo và tổ chức hội thảo khoa học quốc tế.
Việc cải cách thể chế cần đi đôi với việc thiết lập các hành lang thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho các mô hình liên kết nhân dân mới nổi. Chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy “không quản được thì cấm” sang cơ chế quản lý rủi ro hiện đại, phân loại các hoạt động theo mức độ rủi ro chính trị để áp dụng quy trình rút gọn, đồng thời phân cấp, phân quyền cho các địa phương trong mô hình quản trị tinh gọn theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp nhằm giúp các tổ chức quần chúng ở cơ sở chủ động tự làm, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật, tăng tính tự chủ và khả năng phản ứng chính sách nhanh nhạy trước các cơ hội hợp tác quốc tế.
Hai là, chuyển dịch tư duy kết nối nguồn lực, đẩy mạnh mô hình đồng kiến tạo giá trị. Cần thay đổi căn bản triết lý tập hợp nguồn lực quốc tế bám sát Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 28/6/2025 của Ban Bí thư về công tác phi chính phủ nước ngoài (Ban Bí thư, 2025). Chuyển mạnh từ tư duy thụ động vận động viện trợ nhân đạo ngắn hạn sang xây dựng mô hình “đối tác phát triển, đồng kiến tạo giá trị” có chiều sâu. Xây dựng các cơ chế thu hút tri thức, công nghệ, kinh nghiệm quản trị và nguồn vốn của các tổ chức quốc tế (INGO) và các tập đoàn công nghệ lớn phục vụ trực tiếp cho chuyển đổi số, phát triển xanh và nâng cao hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Gắn kết chặt chẽ việc thu hút nguồn tài chính với chuyển giao công nghệ nguồn và nâng cao năng lực tự lực, tự cường của lực lượng trong nước.
Mô hình “đồng kiến tạo giá trị” đòi hỏi sự kết nối liên thông giữa các dự án viện trợ phi chính phủ với các chương trình mục tiêu quốc gia về chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và phát triển bền vững tại địa phương. Cần chủ động hướng dòng vốn tri thức và công nghệ của các tổ chức quốc tế vào các lĩnh vực ưu tiên như đào tạo kỹ năng số cho nông dân, phát triển nông nghiệp xanh, sinh thái, nâng cao năng lực y tế dự phòng và thích ứng với biến đổi khí hậu tại các vùng đặc biệt khó khăn. Mỗi dự án nhân đạo cần được thiết kế như một bệ phóng công nghệ, giúp nâng cao năng lực tự thân và năng lực sản xuất nội sinh của người dân tại địa bàn thụ hưởng.
Ba là, hiện đại hóa thông tin đối ngoại, xây dựng năng lực số toàn diện. Cần xây dựng và vận hành một hệ sinh thái dữ liệu số dùng chung về đối tác đối ngoại nhân dân toàn quốc. Hệ thống này cần tích hợp bản đồ đối tác, dữ liệu mạng lưới bạn bè quốc tế, kiều bào chuyên gia và thông tin nhu cầu công nghệ của các địa phương để phục vụ công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược chính xác nhất. Ứng dụng mạnh mẽ trí tuệ nhân tạo (AI) và Big Data để cá nhân hóa nội dung truyền thông đa ngôn ngữ, tăng tính thuyết phục đối với bạn bè quốc tế. Đồng thời, chủ động thiết lập cơ chế phản ứng nhanh, định hình dòng thông tin tích cực nhằm đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và bảo đảm an ninh văn hóa trên không gian số.
Cần xây dựng các chiến dịch truyền thông đa nền tảng, đa ngôn ngữ, sử dụng các hình thức trực quan như đồ họa, video ngắn giàu cảm xúc để giới thiệu những câu chuyện thành công chân thực về con người Việt Nam. Lực lượng đối ngoại nhân dân chủ động phát hiện, cảnh báo sớm và cung cấp các luận cứ lý luận, thực tiễn sắc bén để đấu tranh phản bác các dòng thông tin sai lệch về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, bảo vệ vững chắc chủ quyền văn hóa số của đất nước.
Bốn là, đổi mới công tác đào tạo cán bộ, phát triển mạng lưới “đại sứ xã hội” và kiều bào trẻ. Xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại nhân dân chuyên trách hội đủ các yếu tố bản lĩnh chính trị vững vàng, thông thạo ngoại ngữ, tinh thông kỹ năng đa phương và công nghệ số (Ban Bí thư, 2022). Đồng thời, phát triển lực lượng đối ngoại nhân dân theo mô hình hệ sinh thái mở đa chủ thể thông qua việc xây dựng mạng lưới “đại sứ xã hội” gồm các nhân sĩ, học giả, chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân, nghệ sĩ có uy tín và ảnh hưởng trên môi trường số để lan tỏa sức hấp dẫn của giá trị văn hóa quốc gia. Đổi mới phương thức vận động kiều bào theo hướng thiết lập các nhóm dự án nghiên cứu linh hoạt để thu hút tri thức kiều bào trẻ hiến kế phục vụ chuyển giao công nghệ lõi mà không bị ràng buộc bởi địa lý hành chính.
Công tác đào tạo cán bộ chuyên trách phải được thiết kế theo hướng tích hợp đa ngành, chú trọng bồi dưỡng năng lực nghiên cứu, dự báo chiến lược, kỹ năng ngoại giao số, và khả năng làm việc trong môi trường đa chủ thể phức tạp. Cần xây dựng cơ chế cởi mở để kiều bào trẻ và các chuyên gia công nghệ đóng góp chất xám thông qua các nhóm dự án trực tuyến, các hội đồng tư vấn khoa học linh hoạt mà không cần dịch chuyển địa lý. Sự gắn kết hữu cơ giữa lực lượng chuyên trách tinh nhuệ và lực lượng “đại sứ xã hội” rộng khắp sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp cho kênh đối ngoại nhân dân trong kỷ nguyên mới.
3. Kết luận
Xây dựng lực lượng đối ngoại nhân dân chuyên nghiệp, hiện đại, đa chủ thể là một nhiệm vụ mang tính chiến lược lâu dài và cấp bách trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Khi những điểm nghẽn thể chế hành chính được tháo gỡ dứt điểm, khi tư duy đồng kiến tạo phát triển được khơi thông và lực lượng đa chủ thể được quy tụ có tổ chức dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, đối ngoại nhân dân nhất định sẽ phát huy xuất sắc vai trò là một trụ cột vững chắc cùng đối ngoại đảng và ngoại giao nhà nước kiến tạo sức mạnh tổng hợp vượt trội của nền ngoại giao quốc gia, góp phần đưa đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thắng lợi các khát vọng phát triển bứt phá của dân tộc.
Ngày nhận bài: 24/7/2026; Ngày bình duyệt: 27/7/2026; Ngày quyết định đăng: 30/7/2026.
Email tác giả: thanhthuymofa@gmail.com
Tài liệu tham khảo
Ban Bí thư Trung ương Đảng (20/9/1994). Chỉ thị số 44-CT/TW về mở rộng và đổi mới hoạt động đối ngoại nhân dân.
Ban Bí thư Trung ương Đảng (6/7/2011). Chỉ thị số 04-CT/TW về tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới.
Ban Bí thư Trung ương Đảng (15/01/2022). Chỉ thị số 12-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả đối ngoại nhân dân trong tình hình mới. Văn phòng Trung ương Đảng.
Ban Bí thư Trung ương Đảng (26/8/2025). Chỉ thị số 49-CT/TW về công tác phi chính phủ nước ngoài.
Bộ Chính trị (22/12/2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (24/01/2025). Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
Bộ Chính trị (6/01/2026). Quy định số 392-QĐ/TW về quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại.
ĐCSVN (2001). Văn kiện Đảng Toàn tập (Tập 12). Nxb Chính trị quốc gia
ĐCSVN (2007). Văn kiện Đảng Toàn tập (Tập 53). Nxb Chính trị quốc gia
ĐCSVN (2015). Văn kiện Đảng Toàn tập (Tập 55). Nxb Chính trị quốc gia
ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng ủy Bộ Ngoại giao (2026). Báo cáo Sơ kết 05 năm thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TW của Ban Bí thư khóa XIII.
Tô Lâm (29/8/2024 ). Ngoại giao phải vươn lên xứng đáng là 'đội quân tiên phong', binh chủng hợp thành của cách mạng Việt Nam. https://baotintuc.vn.