Tinh thần tự lực dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc
Tóm tắt: Bài viết phân tích những luận điểm của Hồ Chí Minh về tự lực dân tộc gắn với độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, đồng thời làm rõ giá trị lý luận và giải pháp vận dụng tư tưởng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
ThS TRẦN NHẬT MINH
Học viện Chính trị khu vực II
ThS PHẠM TRẦN QUỲNH MAI
Học viện Chính trị khu vực II
PGS, TS VÕ VĂN DŨNG
Trường Đại học Khánh Hòa

1. Mở đầu
Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh thần tự lực dân tộc giữ vị trí quan trọng vì gắn với mục tiêu giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và phát triển đất nước, trên cơ sở phát huy vai trò quyết định của nhân dân và sức mạnh nội lực dân tộc. Trong bối cảnh hiện nay, khi toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, bên cạnh những cơ hội phát triển cũng xuất hiện nhiều thách thức như cạnh tranh chiến lược, phụ thuộc kinh tế, biến động thị trường và an ninh phi truyền thống, yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, giữ vững độc lập, chủ quyền và củng cố sức mạnh nội lực càng trở nên cấp thiết. Vì vậy, nghiên cứu và vận dụng tinh thần tự lực dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có ý nghĩa làm rõ thêm giá trị lý luận của tư tưởng này mà còn góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho hoạch định đường lối, chính sách, khơi dậy ý chí tự cường và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2. Nội dung
2.1. Khái niệm tự lực dân tộc
Quan điểm tự lực dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là dựa vào sức mình là chủ yếu trong việc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Quan điểm này không chỉ là một khẩu hiệu chính trị mà còn là một quan điểm mang tính chiến lược, thể hiện niềm tin vào sức mạnh nội sinh của dân tộc, vào khả năng đoàn kết, sáng tạo và vượt qua khó khăn của nhân dân.
Hồ Chí Minh cho rằng, nhân dân có vai trò quan trọng nhất trong sự nghiệp cách mạng. Nhân dân là chủ thể quyết định thắng lợi của mọi nhiệm vụ lịch sử. Tinh thần tự lực phải được thể hiện trong ý thức tự giác, trách nhiệm và sự tham gia tích cực của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Tự lực dân tộc còn thể hiện ở việc phát huy các nguồn lực trong nước, bao gồm nguồn lực con người, tài nguyên thiên nhiên, truyền thống văn hóa và trí tuệ dân tộc. Hồ Chí Minh cho rằng, một dân tộc muốn phát triển bền vững cần phải dựa trên nền tảng nội lực vững chắc. Nội lực càng mạnh thì khả năng hội nhập và hợp tác quốc tế càng hiệu quả.
Tự lực dân tộc không đồng nghĩa với khép kín hay biệt lập mà phải gắn liền với tinh thần đoàn kết quốc tế. Muốn tự lực, dân tộc phải tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè trên thế giới. Tuy nhiên, sự giúp đỡ từ bên ngoài chỉ có ý nghĩa khi bản thân dân tộc có ý chí và năng lực vươn lên. Vì vậy, tự lực vừa là nguyên tắc, vừa là phương thức để bảo đảm sự phát triển độc lập và bền vững của đất nước.
Theo Hồ Chí Minh, tự lực dân tộc và độc lập dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại và bổ sung cho nhau. Nếu như độc lập dân tộc được xem là mục tiêu thì tự lực dân tộc là điều kiện và động lực quan trọng để đạt được mục tiêu đó. Trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh luôn khẳng định rằng sự nghiệp cách mạng muốn thành công thì trước hết phải dựa vào sức mạnh của chính nhân dân trong nước. Sự giúp đỡ từ bên ngoài chỉ đóng vai trò hỗ trợ, nhưng không thể thay thế cho nỗ lực tự thân của dân tộc. Tự lực dân tộc là yếu tố then chốt nhằm bảo đảm cho độc lập dân tộc được giữ vững và phát triển bền vững.
Sau khi giành được độc lập, nếu không có nội lực mạnh thì rất dễ rơi vào tình trạng phụ thuộc về kinh tế, chính trị hoặc văn hóa. Hồ Chí Minh chỉ rõ “độc lập dân tộc phải gắn với chủ nghĩa xã hội” (Hồ Chí Minh, 2011e, tr.VI). Muốn vậy, phải xây dựng nền kinh tế tự chủ, nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Độc lập dân tộc tạo điều kiện để phát huy tinh thần tự lực của toàn xã hội. Khi đất nước có chủ quyền và quyền tự quyết về đường lối phát triển, các nguồn lực trong nước sẽ được huy động và sử dụng một cách chủ động, hiệu quả hơn.
Từ những phân tích trên cho thấy: tinh thần tự lực dân tộc thể hiện trước hết ở ý thức độc lập, tự chủ của một đất nước trong việc xác định con đường phát triển. Theo quan điểm này, mỗi dân tộc phải chủ động lựa chọn mô hình phát triển phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa và xã hội của mình, không phụ thuộc hoặc rập khuôn máy móc theo các mô hình bên ngoài; tự lực dân tộc gắn liền với việc phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân.
2.2. Vai trò của tinh thần tự lực dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Tinh thần tự lực dân tộc giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Nó không chỉ là một quan điểm mang tính phương pháp mà còn là động lực thúc đẩy sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, xây dựng và phát triển đất nước. Vai trò của tinh thần tự lực dân tộc được thể hiện trên một số phương diện cơ bản như:
Tinh thần tự lực dân tộc là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc. Khi đất nước bị xâm lăng, việc phát huy nội lực, tăng cường đoàn kết để đánh đuổi kẻ thù trở thành một nhân tố quyết định. Hồ Chí Minh khẳng định rằng “đường lối, phương châm kháng chiến của ta là toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.VIII). Để thực hiện được điều đó cần phải khơi dậy lòng yêu nước, ý chí đấu tranh và sự đoàn kết của toàn dân nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp “đưa quần chúng đến một cuộc sống xứng đáng, vẻ vang và ngày càng phồn vinh, làm cho mọi người lao động có một Tổ quốc tự do, hạnh phúc và hùng cường, hướng tới những chân trời tươi sáng” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.XII). để vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong quá trình đấu tranh giành độc lập.
Tinh thần tự lực dân tộc góp phần củng cố và giữ vững độc lập dân tộc. Hồ Chí Minh cho rằng sau khi giành được độc lập, để làm được điều đó, cần phải xây dựng đất nước vững mạnh trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội.
Tinh thần tự lực dân tộc thúc đẩy vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến chủ thể của nhân dân: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” (Hồ Chí Minh, 2011h, tr.66). Người cho rằng nhân dân là chủ thể của lịch sử, là lực lượng quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Vì thế, phải làm cho mỗi con người tự mình chiến thắng được “Chủ nghĩa cá nhân, lợi mình hại người, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật và những tính xấu khác là kẻ địch nguy hiểm của chủ nghĩa xã hội” (Hồ Chí Minh (2011 h), tr.66). Phải làm cho mỗi cá nhân tự giác nâng cao ý thức trách nhiệm đối với bản thân, xã hội và đất nước.
Tinh thần tự lực dân tộc tạo nền tảng cho việc kết hợp giữa nội lực và ngoại lực trong quá trình phát triển đất nước. Theo Hồ Chí Minh, tự lực dân tộc không đồng nghĩa với khép kín hay tách rời khỏi thế giới. Ngược lại, cần phải tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, nhưng trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ. Khi nội lực của dân tộc được củng cố thì việc tiếp nhận sự hỗ trợ từ bên ngoài sẽ trở nên hiệu quả hơn, đồng thời tránh được nguy cơ ỷ lại và lệ thuộc.
Tinh thần tự lực dân tộc gắn với độc lập và chủ quyền quốc gia. “Ý chí độc lập cho dân tộc và khát vọng tự do cho nhân dân là điểm xuất phát của tư tưởng Hồ Chí Minh” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.IX). Tinh thần tự lực dân tộc không thể tách rời độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Độc lập dân tộc không chỉ là khát vọng mà còn là điều kiện tiên quyết để một dân tộc tồn tại, phát triển và khẳng định vị thế của mình trong cộng đồng quốc tế. Vì vậy, con đường đi tới độc lập phải dựa trước hết vào sức mạnh nội sinh của chính dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh cho rằng, không có lực lượng nào có thể thay thế nhân dân một quốc gia trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Để giải phóng dân tộc, Người nhấn mạnh vai trò quyết định của quần chúng nhân dân, coi đó là nguồn sức mạnh to lớn và bền vững nhất. Lịch sử kháng chiến của dân tộc Việt Nam cho thấy tinh thần tự lực và sự đoàn kết toàn dân tộc luôn giữ vai trò trung tâm. Điều đó góp phần khẳng định, chỉ khi dân tộc tự đứng lên bằng chính ý chí, trí tuệ và nguồn lực của mình thì mới có được sự độc lập vững chắc và lâu dài.
Tinh thần tự lực dân tộc thể hiện ở việc không trông chờ, ỷ lại vào bên ngoài. Hồ Chí Minh cho rằng “Để thắng một kẻ địch như thế, chúng tôi trước hết dựa vào sức mình, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế có hiệu quả nhất”(Hồ Chí Minh, 2011k, tr.185). Sự giúp đỡ quốc tế là cần thiết, nhưng đó chỉ có ý nghĩa khi được đặt trên nền tảng tự chủ và tự cường của dân tộc. Nếu quá phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài thì rất dễ rơi vào tình trạng phụ thuộc và bị chi phối. Do đó, Người nhấn mạnh: “Nhân dân Việt Nam chúng tôi dựa vào sức mình là chính, đồng thời đánh giá cao sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, sự ủng hộ mạnh mẽ của tất cả các nước và các dân tộc yêu chuộng hoà bình trên thế giới” (Hồ Chí Minh, 2011k, tr.84).
Quan điểm này cho thấy việc phát huy tinh thần tự lực dân tộc gắn với bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc gia không chỉ thể hiện trong lĩnh vực mà còn phải thể hiện ở tất cả các lĩnh vực. Để đưa đất nước Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới, cần phải xây dựng được nền kinh tế tự chủ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng lực sáng tạo. Việc hội nhập quốc tế phải chú trọng đến việc tự chủ chiến lược, giữ vững độc lập dân tộc và lợi ích quốc gia.
Tinh thần tự lực dân tộc phải phát huy sức mạnh toàn dân. Hồ Chí Minh cho rằng “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào” (Hồ Chí Minh, 2011g, tr.672). Sức mạnh của nhân dân được xem là nền tảng cơ bản quyết định sự thành công của sự nghiệp cách mạng. Vì thế, cần phải khơi dậy và phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân. Nhân dân giữ vai trò là chủ thể của cách mạng, vì vậy “mỗi người chúng ta đều phải biết đặt lợi ích của dân tộc, của giai cấp lên trên lợi ích cá nhân, phải biết quên mình cho nghĩa lớn” (Hồ Chí Minh, 2011i, tr.468). Do đó, mọi đường lối, chủ trương và chính sách muốn đi vào cuộc sống và đạt hiệu quả thì phải xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân, đồng thời dựa vào sức mạnh và sự tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân không chỉ là lực lượng thực hiện mà còn là nguồn động lực trực tiếp thúc đẩy sự vận động và phát triển của xã hội. Thực tiễn cho thấy, khi quyền làm chủ của nhân dân được bảo đảm và phát huy thì tinh thần trách nhiệm xã hội và ý thức cống hiến cũng như khả năng sáng tạo trong lao động, sản xuất được phát huy mạnh mẽ.
Để phát huy tinh thần tự lực, cần phải gắn liền với việc củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân. Người nhiều lần nhấn mạnh rằng “nếu chúng ta đoàn kết thành một khối, thì chúng ta chắc chắn tranh được hòa bình và tự do, vì đoàn kết là sức mạnh…!” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.182). Đoàn kết là nguồn sức mạnh vô cùng to lớn, có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cách mạng. Khối đại đoàn kết ở đây không chỉ bao gồm các giai cấp và tầng lớp trong xã hội mà còn mở rộng tới lực lượng tổ chức, lực lượng yêu chuộng hòa bình trên thế giới, cùng hướng tới mục tiêu chung là phát triển đất nước, giữ vững độc lập và bảo vệ lợi ích quốc gia. Khi tinh thần đoàn kết được củng cố, sức mạnh của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng sẽ được liên kết chặt chẽ, tạo nên sức mạnh chung của toàn dân tộc. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, việc phát huy sức mạnh nội lực dân tộc phải bảo đảm quyền làm chủ của người dân trên tất cả các lĩnh vực. Tạo điều kiện để mọi tầng lớp nhân dân tham gia vào quá trình hoạch định và thực hiện các chính sách phát triển đất nước. Đẩy mạnh việc xây dựng môi trường xã hội dân chủ, đoàn kết, đồng thuận và hợp tác, trong đó mỗi cá nhân đều có cơ hội đóng góp vào sự phát triển chung. Việc phát huy nội lực của nhân dân cần phải kết hợp hài hòa với ngoại lực nhằm tạo nên động lực quan trọng để đất nước phát triển bền vững, nâng cao vị thế quốc gia và chủ động thích ứng với những biến đổi của thế giới.
Tinh thần tự lực dân tộc cần phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Sự phát triển của một quốc gia không chỉ dựa vào nội lực dân tộc mà còn cần phải biết tranh thủ những điều kiện và xu thế tiến bộ của thời đại. Theo Hồ Chí Minh, “Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của lực lượng hòa bình dân chủ, xã hội chủ nghĩa trên thế giới”(Hồ Chí Minh, 2011g, tr.674).Vì thế, phải biết kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại để tạo nên động lực phát triển toàn diện. Quan điểm này thể hiện tầm nhìn chiến lược sâu sắc, vừa đề cao tinh thần độc lập, tự chủ của dân tộc, vừa mở ra khả năng hợp tác và tiếp thu những giá trị tiến bộ của nhân loại. Sức mạnh dân tộc được hình thành từ truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường cùng các giá trị văn hóa - lịch sử lâu đời của dân tộc Việt Nam. Đây là nền tảng quan trọng bảo đảm cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Để phát triển thì cần phải tận dụng sức mạnh của thời đại, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, cần phải chủ động hội nhập quốc tế nhưng phải giữ vững độc lập, tự chủ. Hội nhập không có nghĩa là hòa tan hay phụ thuộc, mà là quá trình tham gia tích cực vào các mối quan hệ hợp tác quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi và tôn trọng lẫn nhau.
Tinh thần tự lực trong phát triển kinh tế, văn hóa và đột phá mạnh mẽ trong khoa học. Hồ Chí Minh cho rằng tự lực dân tộc là một trong những nguyên tắc cơ bản để bảo đảm sự phát triển đất nước bền vững. Hồ Chí Minh nhấn mạnh quan điểm của VI. Lênin, “Để xóa bỏ tàn tích chủ nghĩa thực dân, các nước mới giành được độc lập về chính trị cần phải giải quyết vấn đề kinh tế quốc dân của mình không lệ thuộc vào kinh tế đế quốc, thì mới độc lập hoàn toàn và thật sự” (Hồ Chí Minh, 2011h, tr.382). Quan điểm này cho thấy, một dân tộc muốn thực sự độc lập thì không chỉ độc lập về chính trị mà phải độc lập về kinh tế, văn hóa và khoa học. Hồ Chí Minh cho rằng, cần phải xây dựng được “nền kinh tế tự chủ”(Hồ Chí Minh, 2011i, tr.275). Đó là một nền kinh tế có định hướng phát triển, chủ động khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nước, đồng thời kết hợp với nguồn lực bên ngoài.
Muốn làm được điều đó, đòi hỏi chính quyền các cấp phải chú trọng đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý. Khi nền kinh tế có thể tự chủ được thì đất nước sẽ có điều kiện thuận lợi để thích ứng với những biến động của kinh tế toàn cầu. Hồ Chí Minh cho rằng cần phải “mở mang dân trí” (Hồ Chí Minh, 2011h, tr.380), nhằm phát triển nguồn nhân lực. Người xem đây là yếu tố trung tâm của sự phát triển, vì mọi thành tựu kinh tế, văn hóa hay khoa học đều do con người tạo ra. Do vậy, việc chú trọng giáo dục để đào tạo và bồi dưỡng nhân tài có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ngay sau khi giành được độc lập, Người cho rằng “một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.40).Việc nâng cao dân trí không chỉ giúp người dân tiếp cận tri thức mới mà còn góp phần hình thành ý thức trách nhiệm xã hội và tinh thần sáng tạo trong thực hiện công việc. Để làm được điều đó, cần phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn của xã hội và thị trường lao động, đồng thời khuyến khích nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trong sản xuất và đời sống.
2.3. Giải pháp phát huy tinh thần tự lực dân tộc trong giai đoạn hiện nay
Thứ nhất, kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển đất nước
Tinh thần tự lực dân tộc là một nội dung quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh. Người luôn nhấn mạnh rằng sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước trước hết phải dựa vào sức mình là chính, đồng thời biết tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế. Trong quá trình hội nhập quốc tế, việc nâng cao nhận thức về tư tưởng này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần củng cố bản lĩnh dân tộc, tăng cường nội lực và định hướng phát triển đất nước bền vững. Để làm được điều đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tinh thần tự lực dân tộc nói riêng trong toàn xã hội. Giải pháp này có thể được thực hiện thông qua hệ thống giáo dục quốc dân, các phương tiện truyền thông, cũng như các hoạt động chính trị - xã hội.
Nội dung giáo dục cần làm nổi bật giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh, giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức rõ rằng tự lực không chỉ là truyền thống lịch sử mà còn là yêu cầu tất yếu trong quá trình phát triển đất nước hiện nay.
Đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, việc phát huy nội lực, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là yếu tố có ý nghĩa quyết định. Do đó, việc học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh cần được triển khai một cách thiết thực, tránh hình thức, góp phần hình thành ý thức trách nhiệm, tinh thần sáng tạo và ý chí vươn lên của mỗi người. Chú trọng xây dựng môi trường văn hóa - xã hội lành mạnh, trong đó đề cao tinh thần tự lực, tự cường, ý chí vươn lên và khát vọng cống hiến cho đất nước. Thông qua các phong trào thi đua yêu nước, hoạt động nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và phát triển cộng đồng, tinh thần tự lực dân tộc sẽ được lan tỏa sâu rộng trong xã hội.
Thứ hai, đẩy mạnh việc phát triển nội lực trên tất cả các lĩnh vực
Để phát triển nội lực đất nước, trước hết cần chú trọng phát triển kinh tế và khoa học công nghệ. Cần chú trọng xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế hiệu quả. Để làm được điều này, Nhà nước cần đẩy mạnh tự chủ chiến lược, trong đó ưu tiên nâng cao năng lực sản xuất trong nước, phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp công nghệ cao và các lĩnh vực có giá trị gia tăng lớn. Cần khuyến khích doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh, đổi mới mô hình sản xuất, kinh doanh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Để tiến hành đổi mới, cần xác định khoa học và công nghệ là động lực then chốt của sự phát triển. Cần thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tạo hành lang thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân hợp tác chặt chẽ trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ. Phát huy vai trò của nguồn nhân khoa học, công nghệ trong sự nghiệp phát triển đất nước. Xây dựng chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, tạo môi trường làm việc thuận lợi và khuyến khích sáng tạo góp phần khơi dậy tiềm năng trí tuệ của người Việt Nam. Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, có khả năng thích ứng với sự phát triển của khoa học, công nghệ thế giới. Đẩy mạnh tinh thần tự chủ, sáng tạo và khát vọng vươn lên của dân tộc. Khi mỗi cá nhân đều nhận thức rõ vai trò của mình trong quá trình phát triển chung của đất nước, tinh thần tự lực dân tộc sẽ được chuyển hóa thành những hành động cụ thể trong lao động, sản xuất và nghiên cứu khoa học.
Thứ ba, chú trọng xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao
Đây là yếu tố then chốt nhất trong các yếu tố then chốt nhằm phát huy tinh thần tự lực dân tộc trong giai đoạn hiện nay. Hồ Chí Minh luôn cho rằng, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Người luôn khẳng định, muốn xây dựng đất nước giàu mạnh thì trước hết phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng con người một cách hiệu quả. Quan điểm này vẫn giữ nguyên giá trị trong quá trình phát triển đất nước Việt Nam. Để có một nguồn nhân lực thực sự chất lượng, cần phải bắt đầu từ việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo theo hướng phát triển năng lực người học, gắn lý luận với thực tiễn và đáp ứng nhu cầu của xã hội. Giáo dục không chỉ trang bị kiến thức chuyên môn mà còn phát triển các kỹ năng quan trọng như tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng, làm việc nhóm và năng lực giải quyết vấn đề. Bên cạnh đó, việc tăng cường giáo dục đạo đức, ý thức trách nhiệm xã hội và tinh thần cống hiến cho đất nước có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành nguồn nhân lực vừa “hồng” vừa “chuyên”. Chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực then chốt như khoa học, công nghệ, quản lý, giáo dục, kinh tế và đổi mới sáng tạo. Nhà nước cần có chính sách đầu tư thích đáng cho đào tạo sau đại học, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế trong giáo dục. Việc xây dựng môi trường học thuật và làm việc thuận lợi sẽ giúp đội ngũ trí thức phát huy năng lực sáng tạo nhằm góp phần tích cực vào sự phát triển của đất nước. Cần có chính sách thu hút, trọng dụng và đãi ngộ nhân tài một cách hợp lý. Tôn trọng là điều kiện để các chuyên gia, nhà khoa học, người lao động có trình độ cao yên tâm cống hiến, là yếu tố quan trọng nhằm phát huy nội lực dân tộc. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế đánh giá và sử dụng nhân lực dựa trên năng lực, hiệu quả công việc và tinh thần trách nhiệm, qua đó khuyến khích sự nỗ lực và sáng tạo của mỗi cá nhân. Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cần gắn với khơi dậy tinh thần tự học, học tập suốt đời và ý chí vươn lên của mỗi người.
Thứ tư, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm khơi dậy khát vọng vươn lên ở mỗi con người
Đây là một giải pháp quan trọng nhằm phát huy tinh thần tự lực dân tộc trong giai đoạn hiện nay. Hồ Chí Minh cho rằng, đoàn kết dân tộc là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam. Người khẳng định, đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Thực hiện đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông nhân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Thông qua các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động xã hội và chương trình phát triển cộng đồng để nâng cao tinh thần đoàn kết, tương trợ và cùng nhau phát triển. Đẩy mạnh việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân cũng là yếu tố quan trọng để củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh đoàn kết dân tộc với việc phát huy tinh thần tự lực, tự cường trong mỗi cá nhân và cộng đồng. Làm cho mỗi người dân ý thức được trách nhiệm của mình đối với xã hội và đất nước.
Thứ năm, đẩy mạnh hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ
Hồ Chí Minh cho rằng, “mở rộng sự hợp tác quốc tế về mặt kinh tế, dựa trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi” (Hồ Chí Minh, 2011đ, tr.570). Người nhấn mạnh, trong quá trình hợp tác với các quốc gia khác, Việt Nam phải biết tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế nhưng không được ỷ lại hay phụ thuộc, mà phải dựa vào sức mình là chính. Để hợp tác, cần nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế và hệ thống quản lý nhà nước để chủ động tham gia vào các tiến trình hội nhập quốc tế. Chú trọng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập. Kết hợp hài hòa giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh của thời đại trong quá trình phát triển. Chủ động tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế, tiếp thu tri thức khoa học, công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý hiện đại để Việt Nam rút ngắn khoảng cách phát triển với các quốc gia khác. Tuy nhiên, phải luôn giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ và phát huy nội lực đất nước.
3. Kết luận
Tinh thần tự lực dân tộc là một nội dung quan trọng và xuyên suốt trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Nó có vai trò quyết định đến nội lực quốc gia, ý chí độc lập, tự chủ và khát vọng vươn lên của dân tộc. Về mặt lý luận, tư tưởng này không chỉ phản ánh sự kế thừa truyền thống yêu nước, tinh thần tự cường của dân tộc mà còn là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Vì vậy, tinh thần tự lực dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị định hướng lâu dài đối với sự nghiệp phát triển đất nước.
Hiện nay, khi đất nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới, tinh thần tự lực dân tộc càng có ý nghĩa thời sự sâu sắc. Việc phát huy nội lực sẽ góp phần tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước. Do đó, nghiên cứu và vận dụng tư tưởng này không chỉ có ý nghĩa về lý luận mà còn mang giá trị thực tiễn đối với quá trình hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện các chiến lược phát triển quốc gia.
_________________
Ngày nhận bài: 9/3/2026; Ngày bình duyệt: 13/4/2026; Ngày quyết định đăng: 20/4/2026.
Email tác giả: vovandung@ukh.edu.vn
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 1). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 4). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập (Tập 5). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011d). Toàn tập (Tập 7). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011đ). Toàn tập (Tập 8). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011e). Toàn tập (Tập 11). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011g). Toàn tập (Tập 12). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011h). Toàn tập (Tập 13). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011i). Toàn tập (Tập 14). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011k). Toàn tập (Tập 15). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.