Tư duy phát triển mới của Đảng trong văn kiện Đại hội XIV - Từ nhận thức đột phá đến kiến tạo hành động
Tóm tắt: Đại hội XIV của Đảng đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lý luận về phát triển đất nước, phản ánh sự vận động và hoàn thiện nhận thức của Đảng trước những yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới. Bài viết phân tích những nội dung phát triển mới trong tư duy của Đảng được thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIV, qua đó góp phần làm rõ bước chuyển từ tư duy định hướng sang tư duy hành động và kiến tạo phát triển của Đảng trong giai đoạn mới.
TS NGUYỄN HUY ĐẠI
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

1. Mở đầu
Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều biến động nhanh, phức tạp và khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng; đồng thời, làn sóng phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc kinh tế, phương thức quản trị, mô hình tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của các quốc gia. Những biến đổi đó vừa mở ra thời cơ phát triển mới, vừa đặt ra không ít thách thức đối với Việt Nam trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế.
Đại hội XIV đã kế thừa những thành tựu lý luận của các kỳ Đại hội trước, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về mô hình phát triển, thể chế, quản trị quốc gia và phương thức lãnh đạo, cầm quyền. Đặc biệt, yêu cầu phát triển nhanh, bền vững được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với các đột phá chiến lược, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được xác định là động lực trung tâm của tăng trưởng và phát triển.
Điểm nổi bật của Đại hội XIV là sự chuyển dịch rõ rệt từ nhấn mạnh định hướng sang đề cao hành động, từ chú trọng ban hành chủ trương sang tập trung tổ chức thực hiện hiệu quả. Sự thống nhất giữa tầm nhìn, mục tiêu phát triển và giải pháp phản ánh bước phát triển trong tư duy lãnh đạo của Đảng theo hướng thực chất, hiệu quả và thích ứng với yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Bài viết tập trung nghiên cứu Văn kiện Đại hội XIV, nhận rõ những điểm mới về tư duy lý luận của Đảng, đồng thời làm rõ phương thức tư duy và năng lực kiến tạo phát triển của Đảng trong điều kiện hiện nay.
2. Nội dung
2.1. Xác lập mô hình phát triển mới - bước chuyển căn bản trong tư duy kinh tế của Đảng
Một trong những điểm nổi bật của Văn kiện Đại hội XIV là sự phát triển trong nhận thức của Đảng về mô hình phát triển đất nước. Thay vì nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, Văn kiện Đại hội XIV đặt ra yêu cầu từng bước xác lập mô hình phát triển mới với hệ tiêu chí và động lực phù hợp với bối cảnh hiện nay. Theo đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là nền tảng và động lực chủ yếu của quá trình phát triển. Văn kiện chỉ rõ: “…xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính gắn với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế” (ĐCSVN, 2026, tr.385-386).
Điểm phát triển mới của Đại hội XIV là xác lập mô hình phát triển mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Từ chủ trương phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, Đại hội XIV xác định các yếu tố này là động lực trung tâm của phát triển, đồng thời gắn với yêu cầu xây dựng lực lượng sản xuất mới và tạo nền tảng cho phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Sự thay đổi này phản ánh bước chuyển quan trọng trong tư duy kinh tế của Đảng. Từ mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào mở rộng các yếu tố đầu vào như vốn, tài nguyên và lao động, thì giai đoạn hiện nay xác lập, mô hình phát triển dựa trên chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Điều này đồng nghĩa với việc lấy tri thức, công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo làm cơ sở để tạo ra giá trị gia tăng cao hơn, đồng thời nâng cao tính tự chủ và khả năng thích ứng của nền kinh tế trước những biến động của môi trường quốc tế.
Mô hình phát triển mới được đặt trong mối liên hệ với các quá trình chuyển đổi mang tính chiến lược như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng và tái cơ cấu nền kinh tế. Điều đó phản ánh bước phát triển trong nhận thức của Đảng về con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong điều kiện mới. Trong định hướng phát triển mới, Đảng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng lực lượng sản xuất mới dựa trên tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhận thức đó được khái quát trong Văn kiện Đại hội XIV khi xác định: “Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển” (ĐCSVN, 2026, tr.398).
Như thế, đằng sau việc xác lập mô hình phát triển mới là sự chuyển dịch mang tính bản chất trong tư duy phát triển: từ chú trọng quy mô sang đề cao chất lượng; từ phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài sang phát huy nội lực và năng lực sáng tạo; từ mục tiêu tăng trưởng đơn thuần sang hướng tới phát triển nhanh, bền vững và có khả năng thích ứng cao. Đây chính là cơ sở quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hạn chế nguy cơ tụt hậu và tạo lập vị thế phát triển mới của Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số toàn cầu. Cũng vì thế, Văn kiện gắn xác lập mô hình tăng trưởng mới với việc “Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; thu hút, trọng dụng nhân tài, đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất mới” (ĐCSVN, 2026, tr.373).
2.2. Đột phá thể chế - chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển
Mô hình phát triển mới xác định mục tiêu và động lực của tăng trưởng, thì thể chế là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với việc hiện thực hóa các mục tiêu đó. Văn kiện Đại hội XIV thể hiện bước phát triển trong nhận thức của Đảng khi thẳng thắn chỉ ra những hạn chế của hệ thống thể chế hiện hành và nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển theo hướng tạo lập môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và khơi thông, phát huy hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển. Theo đó, Đại hội XIV xác định: “Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, kiên quyết tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn, nút thắt, khơi thông và giải phóng sức sản xuất, mọi nguồn lực, phát huy mọi động lực” (ĐCSVN, 2026, tr.373).
Từ chủ trương hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở các Đại hội trước, Đại hội XIV đi xa hơn khi trực tiếp đặt vấn đề tháo gỡ điểm nghẽn, nút thắt, khơi thông và giải phóng mọi nguồn lực phát triển. Cách tiếp cận này phản ánh bước phát triển trong nhận thức của Đảng từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển, tạo lập môi trường thuận lợi cho phát triển, đổi mới sáng tạo và phát huy các động lực tăng trưởng.
Trong Văn kiện Đại hội XIV, nhận thức về thể chế đã được nâng lên ở một trình độ mới, không còn dừng ở cách hiểu thể chế như khuôn khổ pháp lý để quản lý xã hội, mà được đặt vào đúng vị trí của một nhân tố có khả năng tạo lập, dẫn dắt và thúc đẩy phát triển. Ở Đại hội XIV, thể chế được nhìn nhận là khuôn khổ điều chỉnh hoạt động của nền kinh tế, mà là cấu phần bên trong quyết định chất lượng vận hành của toàn bộ quá trình phát triển. Bởi lẽ, nguồn lực của đất nước, dù là vốn, đất đai, khoa học, công nghệ, dữ liệu hay con người, chỉ có thể chuyển hóa thành động lực tăng trưởng khi được đặt trong một môi trường thể chế hợp lý, minh bạch và ổn định. Như vậy, vấn đề cốt lõi là xây dựng được một hệ thống cơ chế, chính sách đủ đồng bộ, đủ thông thoáng, đủ khả năng dự báo để dẫn dắt hành vi của các chủ thể phát triển, giảm chi phí thể chế, khắc phục tình trạng chồng chéo, cản trở và làm cho các nguồn lực được lưu thông thông suốt, phân bổ đúng chỗ, sử dụng đúng mục tiêu và phát huy cao nhất hiệu quả. Chính vì thế, thể chế không còn là công cụ quản lý, mà thực sự trở thành “đòn bẩy mềm” của tăng trưởng, của đổi mới sáng tạo và của năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thực tiễn cho thấy, nhiều điểm nghẽn trong phát triển bắt nguồn từ những bất cập của thể chế và cơ chế vận hành, như hệ thống pháp luật còn chồng chéo, thủ tục hành chính phức tạp, phân cấp, phân quyền chưa rõ ràng và trách nhiệm chưa gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả. Khi thể chế không theo kịp yêu cầu phát triển, chính nó trở thành lực cản đối với đổi mới sáng tạo và làm suy giảm động lực đầu tư, sản xuất. Bởi vậy, điểm mới của Đại hội XIV là không xem thể chế chỉ như khung pháp lý, mà xem đó là điều kiện mở đường, đòn bẩy giải phóng nguồn lực và lợi thế cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới. Đại hội XIV khẳng định: “Tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các nút thắt, điểm nghẽn, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm sự đồng bộ, hài hòa giữa tăng trưởng và phát triển” (ĐCSVN, 2026, tr.384).
Chính vì vậy, tư duy thể chế tại Đại hội XIV đã chuyển từ “quản lý để kiểm soát” sang “kiến tạo để phát triển”. Nhà nước giữ vai trò tạo lập môi trường phát triển thuận lợi để thị trường vận hành thông suốt, các chủ thể được khuyến khích sáng tạo, đồng thời bảo đảm công bằng và ổn định xã hội. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo phát triển, doanh nghiệp là lực lượng sản xuất quan trọng và người dân là chủ thể của quá trình phát triển.
Ở bình diện sâu hơn, cải cách thể chế gắn chặt với đổi mới bộ máy, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và tăng cường kiểm soát quyền lực. Một hệ thống thể chế hiệu quả không thể tách rời một bộ máy tinh gọn, vận hành minh bạch và trách nhiệm giải trình rõ ràng. Vì vậy, điểm đột phá của Đại hội XIV thể hiện ở việc nhận thức đúng về vai trò của thể chế, yêu cầu hoàn thiện thể chế với tổ chức thực hiện đồng bộ, bảo đảm thể chế thực sự trở thành động lực và đòn bẩy cho sự phát triển trong kỷ nguyên mới.
2.3. Phát triển bền vững, toàn diện - sự tích hợp giữa kinh tế, văn hóa và con người
Một điểm phát triển đáng chú ý trong tư duy của Đảng tại Đại hội XIV là sự chuyển dịch từ cách tiếp cận phát triển theo từng lĩnh vực riêng lẻ sang cách tiếp cận tích hợp, trong đó các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và quốc phòng, an ninh được đặt trong mối quan hệ thống nhất. Phát triển bền vững không còn là nguyên tắc mang tính định hướng, mà trở thành trục xuyên suốt chi phối toàn bộ mô hình phát triển quốc gia. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh, bền vững gắn với nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Đại hội tiếp tục khẳng định: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại” (ĐCSVN, 2026, tr.56).
Tại Đại hội XIV, con người được đặt vào vị trí trung tâm của toàn bộ tiến trình phát triển. Phát triển được tiếp cận như một quá trình nâng cao đồng bộ chất lượng sống của con người trên mọi phương diện. Điều đó góp phần tăng thu nhập, mở rộng cơ hội việc làm hay cải thiện điều kiện vật chất, góp phần bảo đảm công bằng xã hội, tiếp cận dịch vụ cơ bản, phát triển văn hóa, bồi đắp giá trị con người và giữ gìn môi trường sống an toàn, lành mạnh cho hiện tại và tương lai. Cách tiếp cận ấy cho thấy một bước tiến trong tư duy phát triển: kinh tế vẫn giữ vai trò nền tảng, nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng. Mục tiêu cao nhất của sự phát triển là sự phát triển toàn diện của con người. Con người được xác định vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu, đồng thời là động lực của sự phát triển. Con người vừa là đối tượng thụ hưởng thành quả đổi mới, vừa là nguồn lực nội sinh quyết định sức sống, chiều sâu và tính bền vững của quá trình phát triển đất nước.
Tư duy phát triển tại Đại hội XIV thể hiện rõ hơn xu hướng tích hợp giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, con người, môi trường và an ninh phát triển. Từ khơi dậy khát vọng phát triển đất nước và phát huy sức mạnh con người Việt Nam, Đại hội XIV đi sâu hơn vào yêu cầu phát triển con người toàn diện, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại. Cách tiếp cận này thể hiện sự nâng tầm nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành phát triển. Kinh tế tạo nền tảng vật chất; văn hóa giữ vai trò định hướng giá trị và nền tảng tinh thần; môi trường bảo đảm điều kiện tồn tại lâu dài; quốc phòng, an ninh là yếu tố giữ vững ổn định cho quá trình phát triển. Sự gắn kết hữu cơ giữa các lĩnh vực này cho thấy tư duy phát triển đã vượt khỏi khuôn khổ tăng trưởng kinh tế đơn thuần để hướng tới phát triển hài hòa, bền vững và bao trùm.
Đặc biệt, Đại hội XIV đặt các quá trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng trong cùng một logic phát triển. Đây là cách tiếp cận mang tính hiện đại, phù hợp với xu thế toàn cầu, đồng thời phản ánh khả năng thích ứng của tư duy phát triển trong bối cảnh mới. Việc tích hợp các quá trình chuyển đổi này nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững dài hạn, hạn chế những tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội.
Từ góc độ lý luận, tư duy lấy con người làm trung tâm thể hiện ở mục tiêu phát triển, cách thức tổ chức thực hiện, mọi chính sách đều phải hướng tới nâng cao chất lượng sống, phát triển con người toàn diện và bảo đảm sự hài hòa giữa các yếu tố kinh tế - xã hội - môi trường. Đây chính là nền tảng để xây dựng một xã hội phát triển bền vững, văn minh và giàu bản sắc trong kỷ nguyên mới.
2.4. Phát huy dân chủ và vai trò của nhân dân - nền tảng của sức mạnh chính trị và phát triển
Đại hội XIV tiếp tục khẳng định: “Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (ĐCSVN, 2026, tr.382), đồng thời nhấn mạnh phương châm xây dựng quy chế, quy định để thực hiện “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” (ĐCSVN, 2026, tr.238). Điểm mới không nằm ở chiều sâu nhận thức và yêu cầu thực thi dân chủ trong điều kiện mới. Điểm phát triển mới của Đại hội XIV là đặt phát huy dân chủ trong mối quan hệ chặt chẽ hơn với pháp quyền, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Từ phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng, Đại hội XIV nhấn mạnh việc lấy sự hài lòng và hạnh phúc của nhân dân làm thước đo hiệu quả quản trị và năng lực cầm quyền.
Đề nghị xem lại chỗ đánh dấu màu vàng trong đoạn trên: có chữ KHÔNG nữa không, sau khi cắt bỏ cụm từ trước đó???
Một là, dân chủ được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với pháp quyền, kỷ luật và trách nhiệm giải trình. Điểm mới nổi bật của Đại hội XIV là việc tiếp tục khẳng định quan điểm: nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, mà ở chỗ đặt phát huy dân chủ trong mối quan hệ hữu cơ với pháp quyền, kỷ luật, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Văn kiện nhấn mạnh yêu cầu thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân và tăng cường kiểm soát quyền lực. Điều đó cho thấy, dân chủ được nhận thức theo nghĩa thực chất. Nhân dân là lực lượng tham gia, trực tiếp giám sát quyền lực, đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chính vì vậy, dân chủ trong tinh thần Đại hội XIV chính là giá trị chính trị của chế độ, là động lực phát triển, là nền tảng củng cố niềm tin xã hội, tăng cường đồng thuận và nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng.
Thứ hai, dân chủ được coi là một động lực phát triển. Khi quyền làm chủ của nhân dân được bảo đảm trên thực tế, niềm tin xã hội được củng cố, sự đồng thuận được tăng cường, thì đó chính là nguồn lực chính trị - xã hội to lớn để huy động trí tuệ, ý chí, trách nhiệm và sức sáng tạo của toàn dân vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV nhấn mạnh: “Quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu” (ĐCSVN, 2026, tr.382).
Từ góc độ lý luận, có thể nhận thấy sự chuyển dịch rõ rệt từ tư duy lấy tăng trưởng làm trung tâm sang tư duy lấy con người làm trung tâm của Đảng. Nhân dân là đối tượng vận động, tập hợp và thụ hưởng chính sách; là nền tảng xã hội của quyền lực chính trị, là nguồn gốc sức mạnh của Đảng, đồng thời là thước đo tính chính danh và năng lực cầm quyền của Đảng. Vì vậy, phát huy dân chủ thực chất cũng chính là củng cố mối quan hệ máu thịt giữa ý Đảng và lòng dân, tăng cường sự gắn bó giữa ý Đảng và lòng dân. Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu: Thắt chặt mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân,...
Ba là, dân chủ được nhấn mạnh ở quyền tham gia và giám sát, ở quyền thụ hưởng thành quả phát triển của nhân dân. Đây là bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng, bởi dân chủ không chỉ là bảo đảm cho nhân dân được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra, giám sát, mà còn phải bảo đảm để nhân dân thực sự được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, công bằng, an sinh và chất lượng cuộc sống ngày càng cao. Điều đó cho thấy dân chủ theo tinh thần Đại hội XIV chính là giá trị chính trị của chế độ, gắn trực tiếp với mục tiêu phát triển vì con người, lấy hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo. Như vậy, phát huy dân chủ thực chất là góp phần củng cố niềm tin xã hội, tăng cường đồng thuận, khẳng định rõ hơn bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa. Mọi thành quả đổi mới cuối cùng đều phải hướng tới nhân dân, vì nhân dân và do nhân dân thụ hưởng.
Bốn là, dân chủ được Đại hội XIV đặt trong yêu cầu thể chế hóa ngày càng đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trong quản trị quốc gia và quản lý xã hội. Đây là bước tiến mới trong nhận thức của Đảng, bởi dân chủ chỉ có ý nghĩa thực chất khi được bảo đảm bằng cơ chế vận hành cụ thể, để nhân dân là chủ thể về mặt chính trị, là chủ thể tham gia vào quá trình hoạch định, phản biện, giám sát và đánh giá chính sách công. Vì vậy, phát huy dân chủ theo tinh thần Đại hội XIV cũng đồng thời là quá trình xây dựng một nền quản trị hiện đại, công khai, minh bạch, gần dân, trọng dân và vì dân. Điều đó góp phần làm sâu sắc hơn bản chất dân chủ của chế độ xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phòng ngừa sự tha hóa quyền lực và tăng cường tính chính danh, tính bền vững của Đảng cầm quyền.
2.5. Đổi mới phương thức lãnh đạo - nâng tầm Đảng cầm quyền hiện đại
Một trong những nội dung mang tính đột phá của Đại hội XIV là yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng thực chất, hiệu quả và gắn chặt với kết quả thực tiễn. Cùng với yêu cầu ban hành chủ trương, nghị quyết đúng đắn, thì trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu được đặt ra là phải bảo đảm các chủ trương đó được triển khai hiệu quả trong đời sống xã hội. Văn kiện khẳng định: “Đảng ta đã thể hiện sự đột phá về tư duy, tầm nhìn và hành động, đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, quản trị và kiến tạo phát triển, chủ động nắm bắt, tận dụng thời cơ, tạo tiền đề vững chắc cho giai đoạn phát triển mới của đất nước” (ĐCSVN, 2026, tr.368).
Đại hội XIV thể hiện bước phát triển rõ hơn khi đặt trọng tâm vào hiệu quả thực thi, năng lực tổ chức thực hiện và trách nhiệm đến cùng trong hành động. Điều đó phản ánh bước chuyển sang tư duy quản trị và kiến tạo phát triển.
Điểm cốt lõi của sự đổi mới này là chuyển từ chú trọng đúng về nhận thức sang đề cao hiệu quả trong hành động. Điều đó đòi hỏi Đảng phải có tầm nhìn chiến lược, phải có năng lực tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và điều hành một cách quyết liệt, đồng bộ. Năng lực cầm quyền vì thế được đo lường bằng uy tín chính trị, bằng khả năng chuyển hóa chủ trương thành kết quả cụ thể. Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu hành động với tinh thần “biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành kết quả cụ thể; nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm hiệu quả” (ĐCSVN, 2026, tr.397) .
Tinh thần Đại hội XIV là yêu cầu tổ chức thực hiện phải được tiến hành với quyết tâm cao, nhịp độ khẩn trương và trách nhiệm đến cùng. Điều đó cho thấy, Đảng đã đặt ra yêu cầu đúng về phương hướng, đồng thời nhấn mạnh ngày càng rõ hơn đến năng lực biến chủ trương thành hành động cụ thể trong thực tiễn. Đây là biểu hiện của bước chuyển trong tư duy lãnh đạo: từ chỗ chủ yếu coi trọng việc ban hành nghị quyết đúng, sang coi trọng đồng thời cả khâu triển khai, kiểm tra, đôn đốc và chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng. Cách tiếp cận ấy cũng nhằm khắc phục những biểu hiện từng làm giảm hiệu quả lãnh đạo như hành động chậm, làm việc hình thức, né tránh trách nhiệm hoặc bị chi phối bởi lợi ích cục bộ, ngắn hạn. Vì vậy, giá trị của lãnh đạo không chỉ được xác định ở chủ trương đúng, mà còn được kiểm chứng bằng hiệu quả thực tế, bằng chuyển biến cụ thể trong đời sống xã hội và bằng mức độ tin tưởng, đồng thuận của nhân dân.
Ở bình diện sâu hơn, đổi mới phương thức lãnh đạo gắn liền với xây dựng Đảng cầm quyền hiện đại. Đó là mô hình lãnh đạo dựa vào định hướng chính trị, năng lực kiến tạo phát triển, khả năng điều hành hiệu quả và cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Sự kết hợp giữa tầm nhìn chiến lược và năng lực tổ chức thực hiện chính là yếu tố quyết định để nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới.
2.6. Hội nhập quốc tế chủ động, có trách nhiệm - nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế
Đại hội XIV tiếp tục khẳng định nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng. Điểm mới nổi bật là cách tiếp cận hội nhập nhằm mở rộng quan hệ và tranh thủ nguồn lực bên ngoài, hướng tới nâng cao vị thế và vai trò của Việt Nam trong các cơ chế khu vực và toàn cầu. Đại hội chỉ rõ: “từng bước chuyển sang đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ đối ngoại; từ chủ trương “muốn là bạn” đến “sẵn sàng là bạn”, “là bạn, là đối tác tin cậy”, là “thành viên có trách nhiệm” của cộng đồng quốc tế; coi trọng quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn, quan tâm đúng mức quan hệ với các nước bạn bè truyền thống” (ĐCSVN, 2026, tr.85).
Trong tư duy mới, hội nhập quốc tế được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với việc giữ vững độc lập, tự chủ và bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc. Điều này thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa mở rộng không gian phát triển với củng cố năng lực nội sinh. Hội nhập quốc tế là quá trình chủ động tham gia, đóng góp và từng bước nâng cao vai trò của Việt Nam trong hệ thống quốc tế.
Đáng chú ý là sự gắn kết giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân và đối ngoại quốc phòng. Cách tiếp cận này cho thấy tư duy đối ngoại đã được mở rộng theo hướng toàn diện, đồng bộ và hiệu quả hơn, qua đó tạo ra sức mạnh tổng hợp trong triển khai đường lối đối ngoại.
Ở góc độ chiến lược, hội nhập quốc tế phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, góp phần nâng cao “quyền lực mềm”, tăng cường uy tín và vị thế quốc gia. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy đối ngoại của Đảng, phản ánh sự chủ động thích ứng với bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt.
3. Kết luận
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đánh dấu một bước phát triển mới có ý nghĩa quan trọng cả về tư duy lý luận lẫn định hướng hành động thực tiễn. Điểm nổi bật không chỉ là sự bổ sung một số nội dung mới, mà là sự chuyển động ở tầm phương thức tư duy: từ tư duy định hướng sang tư duy hành động; từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển; từ tư duy tăng trưởng đơn thuần sang tư duy phát triển nhanh, bền vững, bao trùm và lấy con người làm trung tâm. Chính vì vậy, Đại hội XIV không chỉ trả lời câu hỏi phát triển bằng gì, mà sâu hơn là trả lời câu hỏi phát triển theo mô hình nào, bằng động lực nào, với cơ chế nào và vì mục tiêu nào. Tinh thần xuyên suốt được thể hiện rất rõ trong yêu cầu biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành kết quả cụ thể, đồng thời quán triệt quan điểm nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tư duy của Đảng tại Đại hội XIV đã thể hiện rõ bản lĩnh của một đảng cầm quyền trong điều kiện mới: nhận diện đúng các điểm nghẽn phát triển, nhất là điểm nghẽn thể chế; xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát huy dân chủ, vai trò chủ thể của nhân dân; đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng thực chất, hiệu quả; đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia, dân tộc. Nói cách khác, đây là tư duy phát triển không dừng ở tầm nhận thức, mà đã chuyển mạnh sang tư duy tổ chức thực hiện, lấy hiệu quả thực tiễn, sự hài lòng của nhân dân và vị thế quốc gia làm thước đo năng lực lãnh đạo, cầm quyền.
Như vậy, tư duy của Đảng tại Đại hội XIV là tư duy của đảng cầm quyền hiện đại, bản lĩnh, sáng tạo, dám nghĩ lớn, hành động quyết liệt và chịu trách nhiệm đến cùng trước dân tộc và nhân dân. Đó là tư duy hướng tới giải phóng mọi nguồn lực, phát huy tối đa nhân tố con người, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nhằm hiện thực hóa khát vọng xây dựng nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, hùng cường, văn minh, phồn vinh và hạnh phúc trong kỷ nguyên phát triển mới.
_________________
Ngày nhận bài: 25/4/2026; Ngày bình duyệt: 14/6/2026; Ngày quyết định đăng: 7/7/2026.
Email của tác giả: huydaikq@gmail.com
Tài liệu tham khảo
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.