Nghiên cứu lý luận

Quan điểm mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế tư nhân

13/08/2026 08:20

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.7663
Tóm tắt: Quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của thành phần kinh tế tư nhân đã từng bước được điều chỉnh và hoàn thiện trong thời kỳ đổi mới. Bài viết phân tích những điểm mới về kinh tế tư nhân trong Nghị quyết số 68-NQ/TW và Văn kiện Đại hội XIV, đồng thời đề xuất một số giải pháp phát huy hiệu quả vai trò của kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.

TS LƯƠNG THỊ QUYÊN
Trường Chính trị Tô Hiệu thành phố Hải Phòng

kttn.jpg
Các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu tham quan Triển lãm "Những thành tựu trong phát triển kinh tế tư nhân", năm 2025, tại Hà Nội_Ảnh: TCCS

1. Mở đầu

Sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, khu vực kinh tế tư nhân đã từng bước khẳng định vai trò là một cấu phần quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng kinh tế, huy động nguồn lực xã hội, tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới với mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, yêu cầu phát huy hiệu quả mọi nguồn lực cho tăng trưởng nhanh và bền vững trở thành vấn đề có ý nghĩa chiến lược. Với ưu thế về tính năng động, khả năng đổi mới sáng tạo, mức độ thích ứng cao trước những biến động của thị trường và năng lực huy động các nguồn lực xã hội, khu vực kinh tế tư nhân được xác định là một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 40 năm đổi mới và nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng đã có bước phát triển mới trong tư duy lý luận và hoạch định chính sách đối với khu vực kinh tế này. Đặc biệt, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân đã đánh dấu sự chuyển biến quan trọng trong nhận thức khi xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân”, đồng thời đề ra hệ thống chủ trương, giải pháp mang tính đột phá nhằm hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, khơi thông các nguồn lực và tạo lập môi trường phát triển bình đẳng, minh bạch cho khu vực kinh tế tư nhân. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, phân tích và làm rõ những điểm mới trong quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân không chỉ có ý nghĩa về phương diện lý luận, góp phần làm rõ sự phát triển trong tư duy kinh tế của Đảng, mà còn có giá trị thực tiễn đối với quá trình thể chế hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương phát triển kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới.

2. Nội dung

2.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của chủ trương phát triển kinh tế tư nhân

Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định tính khách quan của sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó có kinh tế tư nhân. Kinh tế tư nhân được xem là một bộ phận có vai trò nhất định trong phát triển lực lượng sản xuất, giải quyết việc làm và thúc đẩy đổi mới, nhưng cần đặt dưới sự quản lý và định hướng của nhà nước xã hội chủ nghĩa. C.Mác và Ph.Ăngghen mặc dù chưa sử dụng khái niệm “kinh tế tư nhân” theo cách hiểu hiện đại, nhưng đã có những phân tích sâu sắc về các phạm trù có liên quan như “sở hữu tư nhân”, “lao động tư nhân” và “chế độ chiếm hữu tư bản chủ nghĩa” trong quá trình nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Theo các ông, bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản bắt nguồn từ chế độ tư hữu tư liệu sản xuất, khi giai cấp tư sản nắm quyền sở hữu tư liệu sản xuất và chiếm đoạt giá trị thặng dư do giai cấp công nhân tạo ra. Tuy nhiên, các nhà kinh điển cũng chỉ ra rằng, sự tồn tại của các hình thức sở hữu khác nhau là tất yếu khách quan ở những giai đoạn mà lực lượng sản xuất chưa phát triển đến mức cho phép xóa bỏ hoàn toàn sở hữu tư nhân. Vấn đề cốt lõi không phải là xóa bỏ ngay lập tức mọi hình thức kinh tế tư nhân, mà là đặt chúng dưới sự quản lý, định hướng và sử dụng hợp lý cho mục tiêu phát triển lực lượng sản xuất, đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây chính là cơ sở lý luận quan trọng để Đảng vận dụng sáng tạo trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Đến V.I.Lênin, quan điểm về vai trò của kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thể hiện rõ nét thông qua Chính sách kinh tế mới (NEP). Đây là sự vận dụng linh hoạt lý luận Mác trong điều kiện nước Nga sau cách mạng, cho phép sự tồn tại và phát triển có sự kiểm soát của các thành phần kinh tế tư nhân nhằm khôi phục, thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa và phát triển thương mại, qua đó tạo những điều kiện cần thiết để từng bước xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin nhấn mạnh: “Phải bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc đi qua chủ nghĩa tư bản nhà nước tiến lên chủ nghĩa xã hội,… bằng cách khuyến khích lợi ích cá nhân, bằng sự quan tâm thiết thân của cá nhân, bằng cách áp dụng chế độ hạch toán kinh tế” (V.I.Lênin, 2006, tr.189).

Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh coi kinh tế tư nhân là một lực lượng góp phần tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho người lao động, thúc đẩy đổi mới kỹ thuật và nâng cao năng lực sản xuất. Người nhấn mạnh: “Công tư đều lợi. Kinh tế quốc doanh là công. Nó là nền tảng và sức lãnh đạo của nền kinh tế dân chủ mới… Tư là những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thợ thủ công nghệ. Đó cũng là lực lượng cần thiết cho cuộc xây dựng kinh tế nước nhà” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.267). Theo Hồ Chí Minh, các thành phần kinh tế này đều là những lực lượng cần thiết, có khả năng đóng góp nguồn lực, sức lao động, kinh nghiệm sản xuất và tinh thần kinh doanh cho công cuộc xây dựng đất nước. Quan điểm này phản ánh tư tưởng nhất quán của Người về việc phát huy mọi nguồn lực xã hội, kết hợp hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, tập thể và cá nhân, không tuyệt đối hóa hay phủ nhận bất kỳ thành phần kinh tế nào khi chúng còn phù hợp và có ích cho sự phát triển của dân tộc.

Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta khẳng định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng” (ĐCSVN, 2021, tr.129) của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi để khu vực kinh tế này phát huy tiềm năng, sức sáng tạo và khả năng huy động các nguồn lực trong xã hội. Nhờ đó, trong những năm qua, kinh tế tư nhân đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, từng bước khẳng định vị trí ngày càng to lớn trong nền kinh tế quốc dân.

Về số lượng và quy mô, kinh tế tư nhân đã có bước phát triển vượt bậc. Nếu như trước đây khu vực này chủ yếu là các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ thì hiện nay đã hình thành cộng đồng doanh nghiệp tư nhân ngày càng lớn mạnh, hoạt động trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Tốc độ gia nhập thị trường của các doanh nghiệp ngày càng cao: giai đoạn 2010-2017, bình quân khoảng 105 nghìn doanh nghiệp được thành lập mỗi năm, giai đoạn 2018-2024 tăng lên hơn 130 nghìn doanh nghiệp mỗi năm, trong đó năm 2024 đạt gần 190 nghìn doanh nghiệp mới đăng ký - mức cao nhất từ trước đến năm 2024 (Lê Thị Minh Phượng, 2025). Đặc biệt, “số lượng doanh nghiệp khu vực tư nhân đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh đã tăng nhanh từ 488.395 doanh nghiệp (năm 2016) lên 940.000 doanh nghiệp (năm 2025). Số lượng hộ kinh doanh (cơ sở sản xuất phi nông nghiệp) tăng từ 4.909 triệu hộ (năm 2016) lên trên 5 triệu hộ (năm 2025)” (ĐCSVN, 2026b, tr.108). Nhiều doanh nghiệp đã vươn ra thị trường nước ngoài, đạt được những thành tựu trong việc xây dựng thương hiệu và nâng cao vị thế trong khu vực cũng như trên thế giới.

Về chất lượng, khu vực kinh tế tư nhân có nhiều chuyển biến tích cực, thể hiện ở việc ngày càng nâng cao trình độ tổ chức, quản trị, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Các tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực được thành lập và từng bước khẳng định năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế... Sự có mặt của các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào hoạt động nghiên cứu, phát triển khoa học - công nghệ và liên kết với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã gia tăng năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế này.

Về đóng góp vào nền kinh tế và tạo việc làm, khu vực kinh tế tư nhân ngày càng thể hiện là lực lượng nòng cốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước. Tỷ trọng đóng góp của khu vực này vào GDP luôn duy trì ở mức cao, “khoảng 50% GDP trong suốt giai đoạn 2016 - 2023 và đến năm 2025 đóng góp 51% GDP” (ĐCSVN, 2026b, tr.108). Những con số này cho thấy, kinh tế tư nhân đã trở thành khu vực tạo ra phần lớn của cải vật chất cho xã hội, tạo chuyển biến tích cực trong quá trình huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế. Không chỉ vậy, khu vực kinh tế tư nhân còn là khu vực tạo việc làm chủ yếu, góp phần khai thác hiệu quả nguồn nhân lực và ổn định đời sống xã hội: “Giai đoạn 2017 - 2024, khu vực kinh tế tư nhân sử dụng bình quân hơn 43,5 triệu lao động, chiếm hơn 82% tổng số lao động có việc làm trong nền kinh tế” (Nhị Hà, 2025).

Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả tích cực, kinh tế tư nhân vẫn bộc lộ một số hạn chế như: chưa phát huy hết tiềm năng, nội lực và đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước,... Phần lớn doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, sức cạnh tranh, hiệu quả hoạt động, kỹ năng quản trị còn yếu; năng suất lao động thấp hơn khu vực doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nhà nước. Xét một cách tổng thể, “kinh tế tư nhân hiện vẫn đối mặt với nhiều rào cản kìm hãm sự phát triển, chưa bứt phá về quy mô và năng lực cạnh tranh, chưa đáp ứng được yêu cầu, kỳ vọng là lực lượng nòng cốt của kinh tế đất nước” (Bộ Chính trị, 2025). Đại hội XIV của Đảng cũng chỉ rõ: “Kinh tế tư nhân phát triển nhưng thiếu tính bền vững, chưa đáp ứng được vai trò là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế” (ĐCSVN, 2026b, tr.117).

Cùng với đó, vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp lớn còn mờ nhạt, chưa có doanh nghiệp lọt vào top 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới. Khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của khu vực kinh tế tư nhân còn thấp; cơ cấu ngành nghề còn bộc lộ những hạn chế, đặc biệt là tỷ trọng tham gia vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo chưa cao. Nguyên nhân sâu xa của những hạn chế trên không chỉ xuất phát từ nội lực của doanh nghiệp, mà còn từ những rào cản thể chế còn tồn tại. Đặc biệt, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về kinh tế tư nhân còn chưa đồng bộ. Đặc biệt, hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tuy đã có nhiều đổi mới nhưng vẫn chưa thực sự đồng bộ, còn tồn tại những rào cản trong tiếp cận nguồn lực, môi trường kinh doanh và một số chi phí không chính thức, ảnh hưởng đến khả năng phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân.

2.2. Những điểm mới trong quan điểm của Đảng về kinh tế tư nhân

Thứ nhất, khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia

Sự chuyển biến về nhận thức của Đảng đối với kinh tế tư nhân được hình thành trên cơ sở tổng kết thực tiễn phát triển của nền kinh tế Việt Nam qua 40 năm đổi mới. Quá trình hình thành và phát triển quan điểm này phản ánh sự kế thừa nhất quán, đồng thời ngày càng hoàn thiện cả về chiều sâu và tính toàn diện trong nhận thức của Đảng về kinh tế tư nhân. Tại Đại hội XII, lần đầu tiên kinh tế tư nhân được khẳng định là “một động lực quan trọng của nền kinh tế” (ĐCSVN, 2016, tr.108). Đây là dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi tư duy của Đảng đã vượt qua cách tiếp cận trước đây vốn chủ yếu nhấn mạnh đến vai trò quản lý đối với kinh tế tư nhân, sang thừa nhận đầy đủ hơn những đóng góp của khu vực này đối với tăng trưởng kinh tế.

Đại hội XIII tiếp tục kế thừa và phát triển quan điểm trên khi nhấn mạnh kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng của nền kinh tế”, “được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao” (ĐCSVN, 2021, tr.130). Mặc dù vẫn sử dụng cách diễn đạt “một động lực quan trọng của nền kinh tế”, nhưng nội hàm của quan điểm đã được mở rộng. Kinh tế tư nhân không chỉ được coi là lực lượng bổ sung nguồn lực cho nền kinh tế mà còn được kỳ vọng trở thành khu vực có khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhân đánh dấu sự chuyển biến căn bản trong quan điểm của Đảng khi xác định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” (Bộ Chính trị, 2025) và được nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: “phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế” (ĐCSVN, 2026a, tr.95); “Kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế” (ĐCSVN, 2026b, tr.108). Việc bổ sung từ “nhất” thể hiện sự thay đổi về chất trong nhận thức của Đảng. Nếu như trước đây kinh tế tư nhân được xem là một trong nhiều động lực của nền kinh tế thì nay khu vực này đã được đặt ở vị trí trung tâm trong việc huy động các nguồn lực xã hội, nâng cao năng suất lao động và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia. Với việc đặt kinh tế tư nhân ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế quốc gia cho thấy sự phát triển và hoàn thiện trong tư duy về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sau 40 năm đổi mới của Đảng.

Lần đầu tiên, Đảng ta lượng hóa rõ vai trò và kỳ vọng đối với khu vực kinh tế tư nhân. Đến năm 2030, khu vực kinh tế tư nhân phấn đấu đóng góp khoảng 55-58% GDP, chiếm khoảng 35-40% tổng thu ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm cho khoảng 84-85% tổng số lao động và đạt tốc độ tăng năng suất lao động bình quân khoảng 8,5-9,5%/năm (Bộ Chính trị, 2025). Đồng thời, mục tiêu phát triển khoảng 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, với ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, cho thấy kỳ vọng của Đảng không chỉ dừng lại ở việc mở rộng quy mô khu vực kinh tế tư nhân mà còn hướng tới nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh và khả năng hội nhập quốc tế của khu vực này.

Thứ hai, nâng cao vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong mối quan hệ phát huy đồng bộ chức năng của các khu vực kinh tế

Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị cho thấy bước phát triển đột phá trong tư duy của Đảng khi khẳng định kinh tế tư nhân “cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh vượng” (Bộ Chính trị, 2025). Đây là điều chỉnh mang tính nguyên tắc, sự phát triển về chất trong nhận thức của Đảng đối với kinh tế tư nhân, Trước đây, chỉ có kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể được xác định là hai lực lượng nòng cốt của nền kinh tế, thì nay, kinh tế tư nhân chính thức được bổ sung vào lực lượng nòng cốt, trở thành bệ đỡ thứ ba của nền kinh tế độc lập, tự chủ. Quan điểm này chính thức chấm dứt cách hiểu cũ coi “kinh tế tư nhân chỉ là lực lượng bổ sung, phụ thuộc, đứng sau các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa”. Vai trò “nòng cốt cùng nhau” có nghĩa là ba khu vực kinh tế này cùng hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, bổ trợ lẫn nhau cho mục tiêu chung: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo về định hướng chiến lược, ổn định vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn; kinh tế tư nhân là động lực tăng trưởng chính, tiên phong trong đổi mới sáng tạo; kinh tế tập thể là chỗ dựa của đa số lao động, đặc biệt ở nông thôn. Sự phối hợp hài hòa ba lực lượng này chính là đặc trưng riêng, bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn mới.

Điểm mới trong quan điểm này thể hiện ở chỗ, kinh tế tư nhân được nhìn nhận với vai trò bao quát hơn, gắn với các mục tiêu phát triển mang tính chiến lược của quốc gia như phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và củng cố nền kinh tế độc lập, tự chủ. Như vậy, kinh tế tư nhân không chỉ là một nguồn lực bổ sung mà đã trở thành một lực lượng quan trọng tham gia cùng các khu vực kinh tế khác vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tinh thần này tiếp tục được thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIV khi Đảng xác định rõ chức năng, vai trò của từng khu vực kinh tế trong nền kinh tế quốc dân: “Phát triển kinh tế nhà nước hiệu quả, thật sự giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng, chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng” (ĐCSVN, 2026a, tr.95). Như vậy, các khu vực kinh tế không tồn tại biệt lập mà đều là những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc gia, cùng tồn tại lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng và bổ trợ lẫn nhau.

Thứ ba, phát triển kinh tế tư nhân gắn với xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và phát triển lực lượng sản xuất mới

Việc đặt phát triển kinh tế tư nhân trong mối quan hệ hữu cơ với xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và phát triển lực lượng sản xuất mới phản ánh sự chuyển biến trong nhận thức của Đảng ta ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn về khu vực kinh tế này, coi đây là lực lượng tiên phong, làm chủ công nghệ, phát triển các mô hình kinh doanh mới. Nghị quyết số 68 chỉ rõ: “Phát triển kinh tế tư nhân nhanh, bền vững, hiệu quả, chất lượng cao,... nhằm phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh, giải phóng toàn bộ sức sản xuất” (Bộ Chính trị, 2025). Cụm từ “giải phóng toàn bộ sức sản xuất” cho thấy quan điểm phát triển mới, trong đó trọng tâm là tháo gỡ các rào cản về thể chế, cơ chế, chính sách và môi trường kinh doanh để tạo điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân phát triển bình đẳng, phát huy tối đa năng lực cạnh tranh và khả năng đổi mới sáng tạo.

Làm rõ hơn nội dung này, Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân; xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp mới; phát triển lực lượng sản xuất mới, các mô hình, phương thức sản xuất kinh doanh mới” (ĐCSVN, 2026b, tr.387-388). Điểm mới ở đây thể hiện ở ba khía cạnh: Một là, từ “khuyến khích đổi mới sáng tạo” theo hướng đơn lẻ, từng doanh nghiệp chuyển sang xây dựng “hệ sinh thái đổi mới sáng tạo” một cách hệ thống, với sự liên kết chặt chẽ giữa bốn bên: doanh nghiệp - Nhà nước - viện nghiên cứu - quỹ đầu tư mạo hiểm; Hai là, lần đầu tiên kinh tế tư nhân được chính thức chỉ định là lực lượng chủ lực hình thành “lực lượng sản xuất mới” dựa trên tri thức, công nghệ cao, dữ liệu số, thay vì chỉ đóng vai trò sản xuất hàng hóa thông thường; Ba là, kỳ vọng được lượng hóa rõ ràng về quốc tế hóa: đến năm 2030 có ít nhất 20 doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đủ năng lực tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đây là lần đầu tiên Đảng ta đặt ra mục tiêu cụ thể về sự vươn ra thế giới của doanh nghiệp tư nhân.

Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, Nhà nước, các quỹ đầu tư và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp sẽ tạo ra môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, tiếp cận tri thức, công nghệ, nguồn vốn và thị trường. Thông qua đó, khu vực kinh tế tư nhân có điều kiện nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, đổi mới mô hình quản trị. Đồng thời phát triển lực lượng sản xuất mới cũng đòi hỏi khu vực kinh tế tư nhân phải chủ động, linh hoạt với sự biến đổi của thị trường, tận dụng lợi thế sẵn có để thử nghiệm, nâng tầm và thương mại hóa các công nghệ mới nhằm nâng cao năng suất lao động và chất lượng tăng trưởng.

2.3. Một số giải pháp phát triển kinh tế tư nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới

Một là, tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế và xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch cho phát triển kinh tế tư nhân

Đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế là giải pháp có ý nghĩa nền tảng nhằm hiện thực hóa quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới. Do vậy, cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý, kiểm soát sang tư duy kiến tạo phát triển, lấy doanh nghiệp và người dân làm trung tâm phục vụ; coi sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân là một trong những động lực quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phát triển lực lượng sản xuất mới. Đặc biệt, cần tổ chức tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong hệ thống chính trị để cán bộ, đảng viên nhận thức đúng đắn rằng, phát triển kinh tế tư nhân mạnh mẽ là thực hiện đường lối của Đảng, góp phần xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tinh thần xuyên suốt của Đảng trong các nghị quyết và Văn kiện Đại hội là yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng đồng bộ, minh bạch, ổn định và dễ dự báo; bảo đảm đầy đủ quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền cạnh tranh bình đẳng và quyền tự do ký kết, thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh không cần thiết, giảm chi phí tuân thủ, nâng cao chất lượng dịch vụ công và tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quản lý nhà nước. Thực hiện tốt những nội dung này sẽ góp phần xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, minh bạch, an toàn để doanh nghiệp tư nhân phát triển nhanh và bền vững.

Hai là, phát triển đồng bộ thị trường các yếu tố sản xuất, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân tiếp cận bình đẳng các nguồn lực phát triển

Đối với khu vực kinh tế tư nhân, việc bảo đảm tiếp cận bình đẳng các nguồn lực phát triển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi trên thực tế nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp không ít khó khăn trong tiếp cận đất đai, tín dụng, nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học - công nghệ và các cơ hội tham gia thị trường. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; đổi mới phương thức phân bổ nguồn lực theo nguyên tắc thị trường, giảm thiểu các rào cản hành chính, xóa bỏ cơ chế phân biệt đối xử và hạn chế tình trạng “xin - cho” trong tiếp cận các nguồn lực phát triển. Trên cơ sở đó, Nhà nước cần phát triển đồng bộ thị trường các yếu tố sản xuất, nhất là thị trường vốn, thị trường khoa học - công nghệ, thị trường lao động và thị trường quyền sử dụng đất; đồng thời phát triển hạ tầng dữ liệu và nâng cao chất lượng dịch vụ công nhằm tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tư nhân tiếp cận thông tin, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt, cần sớm hoàn thiện cơ chế tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, chuyển đổi xanh, công nghiệp hỗ trợ. Đây là những lĩnh vực mà Nghị quyết số 68 xác định là trọng tâm phát triển đến năm 2030.

Ba là, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển lực lượng sản xuất mới trong khu vực kinh tế tư nhân

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, Nghị quyết số 68 xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân. Theo đó, cần xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại, đổi mới quy trình sản xuất, mô hình quản trị và phát triển các sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao.

Để đạt mục tiêu năng suất lao động bình quân tăng 8,5-9,5%/năm đến năm 2030 theo Nghị quyết số 68, cần thiết kế cơ chế đặc thù: khấu trừ 200% chi phí R&D khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp; thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia với quy mô lớn để đồng đầu tư với các doanh nghiệp tư nhân vào các công nghệ cốt lõi; xây dựng 3-5 trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia liên kết trực tiếp với mạng lưới doanh nghiệp tư nhân.

Đồng thời, cần hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, quỹ đầu tư mạo hiểm và thúc đẩy chuyển đổi xanh thông qua ứng dụng công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng, phát triển kinh tế tuần hoàn. Những yếu tố này sẽ góp phần hình thành lực lượng sản xuất mới dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tạo nền tảng để khu vực kinh tế tư nhân nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh.

Bốn là, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân với các khu vực kinh tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu

Việc tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và các doanh nghiệp trong nước là giải pháp quan trọng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các khu vực kinh tế, mở rộng không gian phát triển và tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế. Đặc biệt, quan hệ hợp tác với khu vực FDI sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận công nghệ, phương thức quản trị hiện đại và từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường quốc tế. Đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển công nghiệp hỗ trợ, gia tăng giá trị trong chuỗi sản xuất, cung ứng khu vực và toàn cầu. Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của các hiệp hội ngành nghề, trung tâm xúc tiến thương mại và chương trình kết nối cung - cầu nhằm mở rộng thị trường, thúc đẩy hợp tác và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các chủ thể kinh tế. Qua đó, khu vực kinh tế tư nhân có thêm điều kiện nâng cao giá trị gia tăng, mở rộng phạm vi tham gia vào các chuỗi giá trị và đóng góp thiết thực hơn vào sự phát triển chung của quốc gia.

Năm là, phát triển cộng đồng doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh, đóng vai trò dẫn dắt nền kinh tế

Xây dựng các doanh nghiệp đầu đàn, hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn có năng lực quản trị hiện đại, tiềm lực tài chính vững mạnh và khả năng làm chủ công nghệ là một trong những giải pháp trọng tâm nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Theo đó, Nhà nước cần hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo điều kiện để các doanh nghiệp có tiềm năng phát triển thành những doanh nghiệp quy mô lớn, đủ năng lực tham gia các dự án trọng điểm quốc gia và đầu tư vào những ngành, lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược. Cần xây dựng chương trình quốc gia hỗ trợ 50-70 doanh nghiệp tư nhân có tiềm năng bứt phá giai đoạn 2026-2030, với các gói hỗ trợ đặc thù về vốn, đất đai, công nghệ, đào tạo nhân lực, nhằm phấn đấu đến năm 2030 có ít nhất 2-3 doanh nghiệp tư nhân Việt Nam lọt vào top 500 doanh nghiệp lớn nhất châu Á, tạo tiền đề bước vào top 500 thế giới trong thập niên tiếp theo.

Đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp này phát huy vai trò dẫn dắt và tác động tích cực đối với toàn bộ khu vực kinh tế tư nhân thông qua việc hình thành hệ sinh thái sản xuất, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, chuyển giao công nghệ, chia sẻ kinh nghiệm quản trị và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc xây dựng lực lượng doanh nghiệp đầu đàn không chỉ nâng cao vị thế của khu vực kinh tế tư nhân mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa về đổi mới sáng tạo, năng suất lao động và năng lực tự chủ của nền kinh tế, góp phần hình thành những doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, ngày càng tham gia hiệu quả vào các ngành, lĩnh vực trọng điểm của nền kinh tế.

Sáu là, thể chế hóa quan hệ phối hợp giữa ba khu vực kinh tế cùng giữ vai trò nòng cốt của nền kinh tế

Giải pháp này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trực tiếp thể hiện điểm chuyển biến lớn nhất trong quan điểm của Đảng tại Nghị quyết số 68 và Văn kiện Đại hội XIV. Việc xây dựng cơ chế phối hợp mới giữa ba khu vực trở thành yêu cầu cấp thiết trước tiên. Cụ thể, cần: (1) Xác định rõ bằng pháp luật “bản đồ ngành” của mỗi khu vực: những ngành, lĩnh vực nào kinh tế nhà nước nên giữ độc quyền hoặc nắm cổ phần chi phối để bảo đảm vai trò chủ đạo (tiền tệ, tín dụng, năng lượng cốt lõi, quốc phòng, an ninh...); những ngành nào mở rộng tối đa cho kinh tế tư nhân làm đầu tàu (sản xuất hàng hóa tiêu dùng, dịch vụ, công nghệ cao, xuất khẩu...); những ngành nào kinh tế tập thể giữ ưu thế (nông nghiệp, thủ công...); (2) Xây dựng cơ chế phối hợp thường xuyên giữa đại diện ba khu vực kinh tế trong quá trình xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và trung hạn; (3) Ban hành quy định cụ thể về cơ chế liên kết chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân như đã nêu; (4) Thiết lập cơ chế đối thoại, giải quyết tranh chấp bình đẳng giữa các thành phần kinh tế khi có sự cạnh tranh không lành mạnh. Vấn đề cốt lõi cần làm rõ là: ba khu vực kinh tế “cùng nòng cốt” không có nghĩa là ba khu vực này vai trò như nhau trong mọi lĩnh vực, mà mỗi khu vực có chức năng riêng, bổ trợ cho nhau: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo về định hướng chiến lược và ổn định vĩ mô; kinh tế tư nhân là động lực tăng trưởng chính và tiên phong đổi mới sáng tạo; kinh tế tập thể là chỗ dựa ổn định cho đa số lao động.

3. Kết luận

Quan điểm của Đảng về kinh tế tư nhân đã có sự phát triển nhất quán và ngày càng hoàn thiện, phản ánh sự đổi mới trong tư duy lý luận cũng như tổng kết sâu sắc thực tiễn phát triển đất nước. Từ chỗ thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tư nhân như một thành phần của nền kinh tế nhiều thành phần, Đảng đã xác định khu vực kinh tế này là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân, đồng thời cùng với kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể giữ vai trò nòng cốt trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất và hiệu quả. Sự đổi mới trong quan điểm của Đảng không chỉ thể hiện ở việc nâng tầm vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân mà còn ở việc đề ra những định hướng và giải pháp đồng bộ nhằm tạo lập môi trường thuận lợi để khu vực kinh tế này phát triển. Đây là cơ sở chính trị và lý luận quan trọng để phát huy hiệu quả mọi nguồn lực xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững và xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

_________________

Ngày nhận bài: 9/7/2026; Ngày bình duyệt: 8/8/2026; Ngày quyết định đăng: 11/8/2026.

Email tác giả: quyenthanh76@gmail.com

Tài liệu tham khảo

ĐCSVN (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn phòng Trung ương Đảng.

ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I).Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

ĐCSVN (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

ĐCSVN (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 8). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật

Lê Thị Minh Phượng (21/8/2025). Phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên mới. https://www.quanlynhanuoc.vn.

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/05/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

Nhị Hà (25/5/2025). Kinh tế tư nhân vươn mình. https://daidoanket.vn.

V.I.Lênin (2006). Toàn tập (Tập 44). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.