Đào tạo - Bồi dưỡng

Tăng cường truyền thông chính sách trên báo chí về mục tiêu phát triển giáo dục đại học

13/08/2026 16:44

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.6460
Tóm tắt: Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo mở ra những cơ hội mới cho ngành giáo dục Việt Nam, trong đó có giáo dục đại học. Để đưa Nghị quyết vào cuộc sống, đồng thời bảo đảm tính đồng thuận và thực thi hiệu quả, cần tăng cường công tác truyền thông trên báo chí. Bài viết đề cập đến trách nhiệm của báo chí trong truyền thông chính sách giáo dục đại học; đề xuất những thông điệp chính sách cốt lõi cần được truyền thông, phù hợp với Nghị quyết 71-NQ/TW.

TS HOÀNG LÊ THUÝ NGA
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế

cdn-i.vtcnews.vn-upload-2025-07-28-_dai-hoc-08511088.png
Sinh viên trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội_Ảnh: Nhà trường

1. Mở đầu

Với vai trò đồng hành, phản biện và giám sát thực thi chính sách, những năm qua, báo chí đã có nhiều đóng góp trong việc lan tỏa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, tạo đồng thuận xã hội, thúc đẩy triển khai chính sách vào thực tiễn. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo được ban hành, đặt ra yêu cầu đối với công tác báo chí phải tiếp tục thực hiện tốt vai trò truyền thông chính sách giáo dục, trong đó có giáo dục đại học.

2. Nội dung

2.1. Truyền thông chính sách là hoạt động quan trọng trong tổng thể công tác truyền thông của Đảng, Nhà nước

Truyền thông và chính sách có mối quan hệ chặt chẽ. Truyền thông là quá trình tương tác, chia sẻ thông tin giữa các cá nhân, nhóm xã hội để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức và điều chỉnh hành vi. Chính sách là định hướng, giải pháp để giải quyết vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Chính sách là “một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” (Vũ Cao Đàm & cộng sự, 2017, tr.15). Khi nói đến chính sách, các nhà nghiên cứu thường đề cập chính sách công.

Có nhiều cách hiểu khác nhau về truyền thông chính sách, như: “Truyền thông chính sách là một phần trong hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước nhằm tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân, thông tin tuyên truyền về mọi hoạt động điều hành xã hội của Nhà nước phù hợp với lợi ích của người dân, từ đó định hướng và nâng cao nhận thức của công chúng, tạo ra sự đồng thuận xã hội” (Phạm Minh Tuấn, 2022, tr.14).

Từ góc nhìn quy trình, “Truyền thông chính sách là một trong những hoạt động quan trọng của các công chức chính phủ trong quy trình chính sách ngay từ khâu xây dựng chương trình nghị sự cho đến khâu thực thi và đánh giá chính sách. Truyền thông chính sách không chỉ truyền đạt thông điệp mà chính phủ muốn gửi gắm đến người dân mà còn kêu gọi sự hợp tác của người dân trong quá trình thực thi chính sách” (Bùi Thu Hương, 2018, tr.30).

Ở góc độ quyền tiếp cận của công dân, “Truyền thông chính sách là quá trình chủ thể thông tin về chính sách đến người dân thông qua các phương tiện truyền thông nhằm thực hiện mục tiêu của mình. Ở Việt Nam, truyền thông chính sách nhằm bảo đảm quyền làm chủ của người dân với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát và dân thụ hưởng” (ĐCSVN, 2026, tr.121).

Truyền thông chính sách hướng đến ba mục tiêu chính: 1- giúp người dân hiểu biết để thực thi chính sách; 2- tạo diễn đàn để các nhóm xã hội tham gia phản biện chính sách, từ đó nhà hoạch định chính sách điều chỉnh nội dung phù hợp với thực tiễn: 3- tạo sự đồng thuận xã hội trong quá trình thực thi chính sách.

Truyền thông chính sách luôn gắn liền với các phương tiện truyền thông đại chúng. Đó là quá trình chủ thể chính sách thông báo, chia sẻ nội dung, thông điệp chính sách đến các nhóm công chúng thông qua các phương tiện truyền thông, giúp công chúng biết đến chính sách, tham gia góp ý, thảo luận, đồng tình, ủng hộ thực thi chính sách.

Truyền thông chính sách được tiếp cận ở các bình diện, như: chủ thể truyền thông, thông điệp truyền thông, phương tiện truyền thông và công chúng truyền thông. Trong đó, thông điệp truyền thông chính sách tác động rất lớn đến cảm xúc, nhận thức của người dùng truyền thông, dẫn đến những thay đổi đáng kể trong hành vi, thói quen và đặc biệt là cách thức tương tác với nhau giữa các chủ thể truyền thông (De Vries & cộng sự, 2012, tr.83-91). Như vậy, chủ thể truyền thông muốn tác động đến công chúng qua các kênh thì cần có những thông điệp nhất định.

Thông điệp là yếu tố cốt lõi của quá trình truyền thông, “có thể chấp nhận nội hàm khái niệm thông điệp truyền thông chính sách là một phát ngôn hoàn chỉnh cả về nội dung lẫn hình thức về chính sách, dành cho một nhóm đối tượng trong hoàn cảnh cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu của chiến dịch truyền thông của chính phủ hoặc các cơ quan có chức năng truyền thông chính sách” (Nguyễn Đình Trung & Nghiêm Văn Trọng, 2025). Thông điệp đề cập đến thông tin và ý tưởng. Thông điệp truyền thông chính sách cũng có thể là “một tuyên bố ngắn gọn, phù hợp với đối tượng, truyền tải những nội dung cốt lõi của một chính sách, với mục đích thông tin, thuyết phục và định hình hành vi/thái độ trong suốt chu trình chính sách. Thông điệp này nhấn mạnh sự rõ ràng, độ tin cậy và sự phù hợp với đối tượng” (PEP, 2020).

Như vậy, truyền thông chính sách là một phần quan trọng trong tổng thể công tác truyền thông của Đảng, Nhà nước, hướng đến các tầng lớp nhân dân để hình thành cầu nối trao đổi giữa chính quyền và người dân. Truyền thông chính sách gắn với toàn bộ chu trình chính sách. Trong chu trình chính sách, công tác truyền thông nếu tổ chức thực hiện tốt thì chính sách mới được phổ biến và nhận được sự đồng thuận. Sử dụng báo chí vào các bước của chu trình chính sách, kết hợp sự tham gia của toàn xã hội sẽ góp phần vào sự thành công của chính sách.

2.2. Trách nhiệm của báo chí trong truyền thông chính sách giáo dục đại học

Luật Giáo dục năm 2019 quy định, giáo dục đại học là một trong các trình độ đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Chính sách giáo dục đại học là hệ thống các quan điểm, mục tiêu, phương hướng của Nhà nước về giáo dục đại học để thực hiện các mục tiêu phát triển phù hợp với thực tiễn. Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo được ban hành trong bối cảnh ngành Giáo dục đang triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Để hiện thực hóa các định hướng lớn mà Nghị quyết đề ra, việc thực hiện truyền thông chính sách đến toàn xã hội, tập trung đối với giảng viên, người học và các nhà quản lý có ý nghĩa quan trọng.

Là kênh truyền thông đại chúng, báo chí góp phần tạo hiệu quả truyền thông chính sách, “báo chí và các loại hình truyền thông khác là kênh thông tin, là phương thức cơ bản, quan trọng để thực hiện việc truyền thông chính sách” (Thủ tướng Chính phủ, 2023). Báo chí lưu chuyển thông tin hai chiều, từ các cơ quan quản lý đến công chúng và ngược lại nhằm tạo sự đồng thuận xã hội trong quá trình triển khai, thực thi, đánh giá chính sách.

Ngày 15/9/2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 281/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW. Trong Chương trình hành động này, “Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo các cơ quan báo chí, truyền thông tăng cường thời lượng, chất lượng tin bài tuyên truyền thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW và các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, thể hiện nhất quán quan điểm giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc, phát triển giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân” (Chính phủ, 2025).

Báo chí thực hiện truyền thông chính sách giáo dục đại học bằng các phương thức sau:

Thứ nhất, thông tin và giải thích chính sách. Việc thông tin, giới thiệu được thực hiện thông qua hình thức đăng toàn văn, trích đăng hoặc giới thiệu một phần của Nghị quyết số 71-NQ/TW. Bằng việc bám sát nội dung Nghị quyết, báo chí thực hiện giải thích nội dung, làm rõ nội hàm của từng nội dung, phản ánh điểm chính, điểm mới, điểm tiến bộ, đột phá để phát triển giáo dục đại học. Thời gian qua, nhiều tờ báo đăng tải thông tin theo từng góc cạnh, lát cắt của Nghị quyết hoặc nhấn mạnh về nhiệm vụ, giải pháp, mà không chỉ dẫn các mục, điều, khoản một cách khô cứng, do vậy giúp người đọc dễ tiếp cận và nắm bắt thông tin.

Thứ hai, góp ý, phản biện chính sách. Với khả năng phản biện xã hội, báo chí góp phần tác động đến nhận thức chính trị của người dân. Phản biện xã hội của báo chí vừa là hoạt động mang tính xã hội, vừa là hoạt động mang tính khoa học. Khi Nghị quyết số 71-NQ/TW được ban hành, nhiều báo đã tăng các bài viết có tính chất phân tích, đánh giá với hàm lượng thông tin có giá trị cao. Phương thức truyền thông trên báo chí là thông tin đa chiều từ các ý kiến của chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý, giảng viên,… để giúp công chúng nhận thức được những vấn đề cần được giải quyết, hướng tới mục tiêu phát triển. Một số vấn đề được nhiều báo phản ánh và được dư luận quan tâm, thảo luận, như: quy hoạch mạng lưới các trường đại học, tái cấu trúc, sắp xếp hệ thống các trường công lập, tự chủ đại học, quản lý, quản trị đại học, chất lượng đào tạo, đổi mới chương trình đào tạo trong bối cảnh số, năng lực và trình độ của giảng viên đại học… Thông qua việc trích dẫn ý kiến của các chuyên gia, báo chí đã giải thích rõ về quan điểm chỉ đạo, đồng thời phản ánh được kỳ vọng của xã hội đối với sự bứt phá của giáo dục đại học trong thời gian tới.

Thứ ba, tạo sự ủng hộ, đồng thuận thực thi chính sách. Đồng thuận xã hội không chỉ là mục tiêu, mà còn là nguồn lực xã hội quan trọng nhằm góp phần triển khai thành công Nghị quyết trong thực tiễn. Đồng thuận xã hội thể hiện ở các tiêu chí: 1-sự nhất trí và gắn kết giữa các bên liên quan đến chủ trương của Nghị quyết; 2- lợi ích chung phải được bảo đảm và có sự thống nhất. Đồng thuận xã hội trong quá trình thực thi chính sách thực chất là phát huy vai trò của giám sát xã hội, chống các biểu hiện làm “biến dạng” chính sách. Truyền thông chính sách muốn thành công còn cần đến nghệ thuật thuyết phục. Do vậy, báo chí cần tham gia thuyết phục xã hội đồng thuận, ở đó người dân cùng tham gia, chia sẻ trong quá trình thực thi chính sách. Bằng việc lắng nghe và tiếp nhận phản hồi từ phía công chúng, báo chí là kênh dẫn chính sách vào cuộc sống, giúp rút ngắn khoảng cách giữa nghị trường và nhóm xã hội thực thi chính sách, đồng thời phản ánh hơi thở của thực tiễn đến các nhà hoạch định chính sách.

2.3. Đề xuất thông điệp truyền thông cốt lõi

Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ là “quốc sách hàng đầu” (Ban Chấp hành Trung ương, 2025). Giáo dục đại học giữ vai trò trung tâm trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học - công nghệ và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết số 71-NQ/TW khẳng định, “giáo dục đại học là nòng cốt phát triển lực lượng trình độ cao, nhân tài, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo” (Ban Chấp hành Trung ương, 2025). Do đó, giáo dục đại học phải đột phá phát triển để góp phần thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết.

Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện đang dự thảo Khung chiến lược phát triển giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045, là bước cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW. Dự thảo Khung chiến lược nhằm hoàn thiện định hướng phát triển hệ thống giáo dục đại học hiện đại, hội nhập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Phấn đấu đến năm 2030, có ít nhất 08 cơ sở giáo dục đại học thuộc 200 đại học hàng đầu châu Á; ít nhất 01 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín. Mục tiêu đến năm 2035, có ít nhất 02 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín. Đến năm 2045, Việt Nam đặt mục tiêu vào nhóm quốc gia có hệ thống giáo dục đại học tiên tiến trên thế giới, góp phần đưa đất nước trở thành nước phát triển, có thu nhập cao.

Để góp phần thực hiện mục tiêu đột phá phát triển giáo dục đại học, các cơ quan báo chí cần tăng cường truyền thông chính sách, đặc biệt chú trọng vào nội dung, thông điệp truyền thông. Các thông điệp cần được làm nổi bật, nhắc lại nhiều lần để thu hút sự chú ý, quan tâm của công chúng. Một số đề xuất về nội dung, thông điệp cần được đẩy mạnh truyền thông:

Thứ nhất, các cơ quan báo chí cần đặc biệt chú trọng đến truyền thông về quyết tâm chính trị để đột phá phát triển giáo dục đại học, trong đó “phải bắt đầu từ đổi mới tư duy, nhận thức và thể chế”. Báo chí cần lan tỏa thông điệp phát triển giáo dục đại học là nhiệm vụ chính trị của toàn xã hội, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Cùng với đó, xây dựng niềm tin xã hội đối với định hướng, chiến lược, mục tiêu, giải pháp của Đảng, Nhà nước trong đột phá, phát triển giáo dục đại học. Nội dung truyền thông cần trung thực, khách quan, mang tính xây dựng. Tăng cường truyền thông những mô hình, cách làm hay, hiệu quả của các địa phương, cơ sở giáo dục đại học; tăng tính tương tác giữa báo chí với công chúng.

Thứ hai, thông điệp truyền thông về vai trò của giáo dục đại học trong xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cần hướng đến những vấn đề cốt lõi: vai trò dẫn dắt của giáo dục đại học trong phát triển kinh tế tri thức, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế; giáo dục đại học phải thực sự trở thành động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới; cơ sở giáo dục đại học phải là những tổ chức khoa học - công nghệ, thực hiện nghiên cứu, triển khai và ứng dụng khoa học - công nghệ trình độ cao, đóng vai trò trung tâm trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW.

Thứ ba, báo chí cần làm nổi bật thông điệp: tự chủ đại học là nền tảng, đầu tư của Nhà nước là động lực, hiện đại hóa chương trình đào tạo và chuyển đổi số là đột phá. Trong đó, nhấn mạnh quan điểm các cơ sở giáo dục đại học phải đẩy mạnh tự chủ đại học gắn với trách nhiệm giải trình. Cơ chế tự chủ giúp các cơ sở giáo dục đại học phát huy sáng tạo, hội nhập, cạnh tranh quốc tế. Giải trình công khai là công cụ bảo đảm chất lượng, trách nhiệm xã hội và khẳng định thương hiệu. Nội dung thông tin cần đa dạng, phản ánh những mô hình tự chủ thành công, chỉ ra những nhận thức chưa đúng về tự chủ đại học và phản biện những cách làm tự chủ hình thức.

Thứ tư, cơ quan báo chí mở thêm chuyên mục để tập trung và tăng cường tin, bài truyền thông về đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong giáo dục đại học, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, tạo môi trường giáo dục mở, học tập suốt đời. Nghị quyết số 71-NQ/TW mở ra cơ hội cho các cơ sở giáo dục đại học hoàn thiện mô hình giáo dục số, quản trị số, dữ liệu số và cơ sở hạ tầng số. Do vậy, nội dung truyền thông cần phản ánh các mô hình thành công để lan tỏa.

Thứ năm, truyền thông về yêu cầu phát triển đội ngũ và năng lực số. Báo chí cần lan tỏa thông điệp: giảng viên, nhà khoa học là lực lượng tiên phong trong chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Tập trung nhấn mạnh nhiệm vụ nâng cao năng lực số, năng lực công nghệ, sử dụng trí tuệ nhân tạo trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy của giảng viên trong bối cảnh chuyển đổi số.

Thứ sáu, báo chí cần làm rõ quan điểm, mục tiêu của việc sắp xếp, tái cấu trúc hệ thống giáo dục đại học công lập là hướng đến sự phát triển, chấn hưng giáo dục đại học Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Do vậy, việc truyền thông phải tập trung vào hai thông điệp cốt lõi: một là, sắp xếp các cơ sở giáo dục đại học để hình thành các đại học, trường đại học mạnh, tinh gọn. Hai là, tái cấu trúc để hiện đại hóa, nâng tầm giáo dục đại học đa ngành, liên ngành, bảo đảm chất lượng đào tạo và dẫn dắt nghiên cứu, đổi mới sáng tạo trong giai đoạn chuyển đổi, hội nhập quốc tế. Nội dung tin, bài phải cho công chúng thấy được việc tái cấu trúc hệ thống các trường công lập theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW là bước đi chiến lược mang tính lâu dài. Điều này giúp các cơ sở giáo dục đại học và những người thực thi đồng thuận, ủng hộ chủ trương.

Trong quá trình chuyển tải thông điệp, các cơ quan báo chí cần tuân thủ một số yêu cầu:

Một là, phải hiểu đúng và hiểu sâu quyết sách của Đảng và chính sách của Nhà nước về đột phá, phát triển giáo dục đại học để thông tin đúng đắn, có những bài viết phân tích, phản biện tốt, có tính chất định hướng.

Hai là, đưa tin phải chính xác. Ưu tiên đăng tải thông tin “đúng”, sau đó mới đến “nhanh”. Việc báo chí thông tin đúng đắn về chủ trương, chính sách, giúp các nhà quản lý thuận lợi trong việc triển khai chính sách vào thực tiễn, cơ sở giáo dục đại học nhận thấy lợi ích và trách nhiệm đối với xã hội, từ đó đồng thuận thực thi.

Ba là, đa dạng các phương thức truyền thông. Cơ quan báo chí linh hoạt tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo về những vấn đề liên quan đến giáo dục đại học; các thông điệp được truyền thông bằng nhiều hình thức, đa nền tảng, sinh động, hấp dẫn, trực quan; các tòa soạn tăng cường dạng bài báo chuyên sâu, phân tích, phản biện từ các chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực giáo dục đại học.

Bốn là, các cơ quan quản lý báo chí tiến hành đánh giá tác động của các bài báo, tuyến đề tài liên quan đến quá trình thực hiện mục tiêu của Nghị quyết 71-NQ/TW. Điều này góp phần giúp cơ quan chức năng và báo chí có sự phối hợp trong chiến lược truyền thông, giúp các tòa soạn có định hướng tốt hơn trong kế hoạch xây dựng tin, bài trên các nền tảng khác nhau.

3. Kết luận

Báo chí có vai trò và trách nhiệm đưa Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo vào cuộc sống, thông qua thực hiện việc lưu chuyển dòng thông tin hai chiều: từ các nhà quản lý đến công chúng và ngược lại. Quá trình này giúp cả hai phía có thông tin đầy đủ, tạo ra sự đồng thuận xã hội, do vậy, công tác truyền thông phải được chú trọng từ nguồn tin, kênh truyền đến nội dung thông điệp. Trong đó, thông điệp truyền thông là yếu tố cốt lõi của chu trình truyền thông chính sách, góp phần tạo nên sự thành công, hiệu quả của quá trình thực thi Nghị quyết số 71-NQ/TW trong thực tiễn.

_________________

Ngày nhận bài: 09/11/2025; Ngày bình duyệt: 17/7/2026; Ngày quyết định đăng:13/8/2026.

Email tác giả: hoanglethuynga@husc.edu.vn

Tài liệu tham khảo:

Ban Chấp hành Trung ương (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Bùi Thu Hương (2018). Nghiên cứu công chúng trong truyền thông chính sách. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Truyền thông chính sách trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế”.

Chính phủ (2025). Nghị quyết số 281/NQ-CQ ngày 15/9/2025 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

De Vries, Lisette, Gensler, Sonja, Leeflang & Peter S.H (2012). Popularity of Brand Posts on Brand Fan Pages: An Investigation of the Effects of Social Media Marketing. Journal of Interactive Marketing, vol.26, no.2).

Vũ Cao Đàm, Trịnh Ngọc Thạch & Đào Thanh Trường (2017). Kỹ năng đánh giá chính sách. Nxb Thế giới.

PEP (2020, September 22-24). Evidence-informed policy briefing: Effective policy communication - Developing a convincing policy proposal (Session 2 background note). Partnership for Economic Policy.

Thủ tướng Chính phủ (2023). Chỉ thị số 7/CT-TTg ngày 21/3/2023 về việc tăng cường công tác truyền thông chính sách.

Nguyễn Đình Trung & Nghiêm Văn Trọng (12/01/2025). Năm nguyên tắc cơ bản về truyền tải thông điệp chính sách. Tạp chí Ngân hàng. https://sbv.gov.vn/en/w/sbv622856/-/categories/93921

Phạm Minh Tuấn (2022). Đóng góp của xuất bản, phát hành sách lý luận, chính trị, pháp luật với truyền thông chính sách trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế từ thực tiễn của nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Truyền thông chính sách trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế”.