Sự phát triển tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong thời kỳ đổi mới
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.2556
Tóm tắt: Bài viết phân tích quá trình phát triển tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong thời kỳ đổi mới. Trên cơ sở đó, đúc kết một số kinh nghiệm góp phần bổ sung cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện thể chế và hoạch định chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam.
TS LÊ TUẤN ANH
Trường Đại học Thủ Dầu Một

1. Mở đầu
Nhận thức của Đảng về vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là kết quả của quá trình phát triển tư duy lý luận gắn với thực tiễn 40 năm đổi mới. Từ việc coi khoa học và kỹ thuật là động lực phục vụ phát triển sản xuất, Đảng ta từng bước khẳng định khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, nền tảng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời mở rộng nhận thức về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và làm chủ công nghệ trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là “đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội” (Bộ Chính trị, 2024), phản ánh bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về vai trò của khoa học, công nghệ đối với phát triển đất nước.
Bài viết phân tích quá trình phát triển tư duy của Đảng về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong thời kỳ đổi mới (1986-2026) trên cơ sở nghiên cứu các Văn kiện Đại hội VI đến Đại hội XIV và các nghị quyết chuyên đề. Qua đó, góp phần làm rõ sự kế thừa và phát triển trong tư duy lý luận của Đảng, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm có ý nghĩa đối với việc tiếp tục hoàn thiện chủ trương, chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn phát triển mới.
2. Nội dung
2.1. Sự phát triển tư duy của Đảng về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo qua các kỳ Đại hội (1986-2026)
a) Khoa học và kỹ thuật phục vụ công cuộc đổi mới đất nước (1986-1995)
Đại hội VI của Đảng (năm 1986) mở đầu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đồng thời đánh dấu sự điều chỉnh trong nhận thức của Đảng về vai trò của khoa học và kỹ thuật đối với phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh nền kinh tế lâm vào khủng hoảng, năng suất lao động thấp và cơ sở vật chất - kỹ thuật còn lạc hậu, khoa học và kỹ thuật được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với nhiệm vụ ổn định sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân. Đại hội VI của Đảng ghi nhận việc áp dụng những thành tựu về khoa học, kỹ thuật cùng với thực hiện khoán sản phẩm đã “góp một phần quan trọng tạo nên bước phát triển của sản xuất nông nghiệp” (ĐCSVN, 2006, tr.349); đồng thời khẳng định “các hoạt động khoa học, kỹ thuật được triển khai, góp phần thúc đẩy sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp” (ĐCSVN, 2006, tr.349). Điều đó cho thấy, ở giai đoạn đầu đổi mới, tư duy của Đảng chủ yếu nhấn mạnh chức năng ứng dụng của khoa học và kỹ thuật như một công cụ nâng cao hiệu quả sản xuất, trước hết trong lĩnh vực nông nghiệp.
Đại hội VI cũng thể hiện tinh thần nhìn thẳng vào sự thật khi chỉ rõ những hạn chế trong hoạt động lý luận và thực tiễn. Đại hội đánh giá Đảng “chưa chú ý đầy đủ việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của mình và nghiên cứu kinh nghiệm của các nước anh em”, dẫn đến sự lạc hậu trong nhận thức và vận dụng các quy luật phát triển. Trên cơ sở đó, Đại hội rút ra bài học phải “đổi mới tư duy”, “xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan” để nâng cao năng lực lãnh đạo. Đồng thời, Đảng ta khẳng định cần kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, coi “Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật ngày nay và xu thế mở rộng phân công, hợp tác kinh tế giữa các nước,… cũng là những điều kiện rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của nước ta” (ĐCSVN, 2006, tr.364).
Đại hội VI đã hình thành những tiền đề nhận thức quan trọng về đổi mới tư duy, tiếp thu thành tựu khoa học của thế giới và gắn tiến bộ khoa học với yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất. Đây là cơ sở lý luận ban đầu để Đảng ta từng bước phát triển quan điểm về khoa học và công nghệ trong các kỳ Đại hội tiếp theo.
Đại hội VII của Đảng (năm 1991) diễn ra trong bối cảnh công cuộc đổi mới đã đạt những kết quả bước đầu, đồng thời yêu cầu tiếp tục hoàn thiện đường lối phát triển trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng quan hệ đối ngoại. Trên cơ sở tổng kết hơn bốn năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, nhận thức của Đảng về khoa học và công nghệ có bước phát triển rõ nét. Từ chủ yếu nhấn mạnh vai trò ứng dụng của khoa học và kỹ thuật trong phục hồi sản xuất, Đại hội VII đã bước đầu xác định khoa học và công nghệ là động lực của phát triển. Đại hội đánh giá: “khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển, bước đầu phát huy vai trò động lực, hướng vào nghiên cứu ứng dụng, góp phần phát triển sản xuất, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, ngư nghiệp, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, nâng cao trình độ công nghệ của một số lĩnh vực sản xuất, tiếp thu và làm chủ được các công nghệ nhập từ nước ngoài. Tiềm lực khoa học và công nghệ tăng lên” (ĐCSVN, 2007, tr.61-62). Điểm mới của Đảng tại Đại hội VII là mở rộng chức năng của khoa học và công nghệ từ phục vụ sản xuất sang phục vụ hoạch định đường lối và chính sách phát triển. Đại hội khẳng định “Lực lượng khoa học đã góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho các chủ trương phát triển kinh tế; đóng góp tích cực vào việc soạn thảo Cương lĩnh, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ; nghiên cứu những vấn đề về lịch sử, ngôn ngữ, văn hoá...” (ĐCSVN, 2007, tr.62). Đồng thời, cơ chế quản lý khoa học và công nghệ được “bước đầu được đổi mới nhằm gắn khoa học với sản xuất và đời sống, mở rộng quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các tập thể và cơ quan khoa học” (ĐCSVN, 2007, tr.62). Đảng đã nhận thức rõ khoa học và công nghệ không chỉ là lực lượng sản xuất trực tiếp mà còn là cơ sở khoa học phục vụ hoạch định chiến lược phát triển quốc gia.
Từ quan điểm mới về khoa học công nghệ, Đại hội VII cũng chỉ ra những hạn chế trước yêu cầu nhiệm vụ là: “chưa đáp ứng được những yêu cầu bức xúc của công cuộc đổi mới” (ĐCSVN, 2007, tr.62), chưa tạo được chuyển biến mạnh về năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế; đồng thời còn thiếu các chính sách tạo môi trường thuận lợi cho ứng dụng thành tựu khoa học, chậm đổi mới chính sách sử dụng và đãi ngộ cán bộ khoa học - kỹ thuật, cũng như chưa có cơ chế huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển khoa học và công nghệ. Những đánh giá này phản ánh bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng, từ nhấn mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật sang coi khoa học và công nghệ là một động lực phát triển cần được hỗ trợ bằng cơ chế, chính sách và thể chế phù hợp để phát huy hiệu quả trong sự nghiệp đổi mới.
Như vậy, trong 10 năm (1986-1995), đã có bước chuyển quan trọng trong tư duy của Đảng về khoa học và công nghệ. Với Đại hội VI, khoa học và kỹ thuật được nhìn nhận như một công cụ phục vụ mục tiêu khôi phục và phát triển sản xuất, góp phần tháo gỡ những khó khăn của nền kinh tế. Đến Đại hội VII, nhận thức của Đảng đã có bước phát triển khi coi khoa học và công nghệ không chỉ là lực lượng trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng mà còn là cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chiến lược phát triển đất nước. Đây là tiền đề tư tưởng quan trọng để Đảng tiếp tục khẳng định khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu trong giai đoạn phát triển tiếp theo, gắn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
b) Khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu (1996-2010)
Đại hội VIII (năm 1996), Đảng đã nâng tầm khoa học và công nghệ thành một trụ cột của chiến lược phát triển quốc gia. Trên cơ sở tổng kết 10 năm đổi mới, Đại hội VIII khẳng định hoạt động khoa học và công nghệ đã “gắn bó hơn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, thích nghi dần với cơ chế thị trường” (ĐCSVN, 2015, tr.349), góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đồng thời, xác định “đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu bằng khoa học và công nghệ” (ĐCSVN, 2015, tr.388). Đây là lần đầu tiên khoa học và công nghệ được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển lực lượng sản xuất và hiện đại hóa đất nước.
Bước phát triển mang tính đột phá được thể hiện trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII (năm 1996) - văn kiện chuyên đề đầu tiên của Đảng về khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhấn mạnh: “Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định từ nay đến năm 2020 phải phấn đấu để xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp; khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng và động lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”; đồng thời, đánh giá những kết quả đạt được của khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và công nghệ trong việc cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định đường lối, chính sách và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; và cũng chỉ ra hạn chế khi “các cấp uỷ đảng, các cấp chính quyền chưa thật sự coi phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu”, đầu tư cho khoa học và công nghệ còn thấp, cơ chế quản lý chậm đổi mới và việc ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất còn hạn chế” (Ban Chấp hành Trung ương, 1996). Trên cơ sở đó, Đảng hình thành nhận thức mới rằng đầu tư cho khoa học và công nghệ chính là đầu tư cho phát triển lâu dài của đất nước.
Bước sang thế kỷ XXI, trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, Đại hội IX (năm 2001) đã nâng nhận thức về khoa học và công nghệ lên một tầm cao mới. Đại hội IX xác định: “Phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” (ĐCSVN, 2016, tr.200). Đặc biệt, lần đầu tiên khái niệm kinh tế tri thức được đưa vào văn kiện Đại hội với chủ trương “từng bước phát triển kinh tế tri thức ở nước ta” (ĐCSVN, 2016, tr.240) trên cơ sở đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ. Quan điểm này cho thấy tư duy của Đảng đã chuyển từ nhấn mạnh ứng dụng công nghệ sang gắn khoa học và công nghệ với mô hình tăng trưởng mới, năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế.
Đại hội thứ X (năm 2006) tiếp tục hoàn thiện nhận thức đó trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Đại hội khẳng định “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Đồng thời, bổ sung quan điểm mới khi xác định khoa học công nghệ phải “gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (ĐCSVN, 2018, tr.191). Đây là bước chuyển từ tư duy phát triển dựa chủ yếu vào vốn và lao động sang tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định tăng trưởng.
Nhìn tổng thể, giai đoạn 1996-2010 phản ánh sự đổi mới rõ nét trong tư duy của Đảng về khoa học và công nghệ. Từ khẳng định khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, Đảng từng bước phát triển nhận thức theo hướng xác định đây là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời gắn với phát triển kinh tế tri thức, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế.
c) Khoa học, công nghệ gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng (2011-2020)
Bước sang những năm 2010, trước tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu, sự phát triển của kinh tế tri thức và cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng trở thành vấn đề chiến lược đối với Việt Nam. Trong bối cảnh đó, tư duy của Đảng về khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển theo hướng gắn chặt với quá trình tái cơ cấu nền kinh tế. Giai đoạn 2011-2020, khoa học và công nghệ không chỉ được khẳng định là quốc sách hàng đầu mà còn được xác định là nền tảng của đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đại hội XI của Đảng (năm 2011) xác định Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 với trọng tâm là đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và thực hiện ba đột phá chiến lược. Văn kiện Đại hội đánh giá, hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, song cũng chỉ rõ hạn chế: “khoa học, công nghệ chưa thật sự trở thành động lực thúc đẩy, chưa gắn kết chặt chẽ với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Thị trường khoa học, công nghệ còn sơ khai, chưa tạo sự gắn kết có hiệu quả giữa nghiên cứu với đào tạo và sản xuất kinh doanh. Đầu tư cho khoa học, công nghệ còn thấp, sử dụng chưa hiệu quả. Trình độ công nghệ nhìn chung còn lạc hậu, đổi mới chậm” (ĐCSVN, 2019a, tr.388). Việc chỉ ra hạn chế này cho thấy, khẳng định vai trò của khoa học và công nghệ là yêu cầu nâng cao hiệu quả đóng góp thực chất của khoa học và công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế. Trên cơ sở đó, Đại hội XI nhấn mạnh yêu cầu khoa học và công nghệ trở thành yếu tố xuyên suốt của cả ba đột phá chiến lược. Mục tiêu không chỉ dừng ở việc phát triển tiềm lực khoa học mà hướng tới ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất, quản trị và nâng cao năng suất lao động. Đây là bước phát triển mới trong tư duy khi khoa học và công nghệ được gắn trực tiếp với quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng và nâng cao chất lượng phát triển.
Đại hội XII (năm 2016) tiếp tục kế thừa và phát triển nhận thức này trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư bắt đầu tạo ra những thay đổi lớn đối với nền kinh tế toàn cầu. Đại hội đánh giá, “đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và thực hiện ba đột phá chiến lược được tập trung thực hiện, bước đầu đạt kết quả tích cực”, đồng thời khẳng định khoa học và công nghệ đã có bước phát triển cùng với giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên, Đại hội cũng chỉ rõ việc “thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm”, năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp (ĐCSVN, 2019b, tr.626-627).
Điểm mới nổi bật của Đại hội XII là xác lập mối quan hệ chặt chẽ giữa phát triển khoa học, công nghệ với nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đại hội xác định nhiệm vụ “phát triển kinh tế nhanh và bền vững… phát triển kinh tế tri thức, nâng cao trình độ khoa học, công nghệ của các ngành, lĩnh vực; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế”, đồng thời yêu cầu “đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ; phát huy vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước” (ĐCSVN, 2019b, tr.638-639). Từ nhấn mạnh vai trò của khoa học và công nghệ đối với công nghiệp hóa lên một bước mới là xác định khoa học và công nghệ là nền tảng của đổi mới mô hình tăng trưởng và phát triển bền vững.
Như vậy, trong 10 năm (2011-2020), tư duy của Đảng đã có bước chuyển quan trọng từ cách tiếp cận phát triển khoa học và công nghệ sang khai thác khoa học và công nghệ như động lực cốt lõi của đổi mới mô hình và nâng cao chất lượng tăng trưởng. Khoa học và công nghệ không còn được xem là lĩnh vực cần đầu tư, mà trở thành nhân tố quyết định nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, hiệu quả sử dụng nguồn lực và khả năng hội nhập của nền kinh tế.
d) Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo - động lực phát triển (2021-2026)
Giai đoạn 2021-2026 đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về khoa học, công nghệ và phát triển quốc gia. Kế thừa quan điểm xác định khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu (1996-2010) và gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng (2011-2020), từ Đại hội XIII (năm 2021), Đảng đã đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giữ vai trò trung tâm của chiến lược phát triển đất nước. Đây không chỉ là sự mở rộng phạm vi chính sách mà còn đánh dấu bước phát triển mới về chất trong nhận thức, từ phát triển khoa học và công nghệ sang kiến tạo động lực phát triển dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và công nghệ số.
Đại hội XIII của Đảng diễn ra trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trên cơ sở tri thức và công nghệ. Kế thừa tư duy của các kỳ Đại hội trước, Đại hội XIII xác định tiếp tục “chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao” (ĐCSVN, 2021, tr.120), đồng thời nhấn mạnh yêu cầu “thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, phát triển các ngành, lĩnh vực… ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu của khoa học công nghệ” (ĐCSVN, 2021, tr.121). Những quan điểm này cho thấy tư duy của Đảng đã phát triển từ coi khoa học và công nghệ là động lực phát triển sang cách tiếp cận tích hợp, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đặt trong một chỉnh thể thống nhất của chiến lược phát triển quốc gia.
Bước phát triển mang tính đột phá trong tư duy của Đảng được thể hiện tập trung ở Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Khoa học và công nghệ từ chỗ chủ yếu được xem là động lực của phát triển kinh tế - xã hội thì Nghị quyết 57 đã xác định “phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia” (Bộ Chính trị, 2024). Điểm mới nổi bật là bốn thành tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được tích hợp thành một chỉnh thể thống nhất trong chiến lược phát triển quốc gia. Đồng thời, Nghị quyết chuyển mạnh nhận thức về nguồn lực phát triển khi xác định “dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính”, ưu tiên phát triển các công nghệ chiến lược và “từng bước tự chủ về công nghệ”, hướng tới làm chủ các công nghệ lõi và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo nội sinh.
Đại hội XIV tiếp tục phát triển tư duy của Đảng về vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giai đoạn phát triển mới. Đại hội dành riêng một định hướng lớn về “đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, trong đó nhấn mạnh yêu cầu “khẩn trương, quyết liệt đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ phù hợp với nguyên tắc thị trường, chuẩn mực và thông lệ quốc tế”, đồng thời “tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo”. Đại hội chủ trương hoàn thiện cơ chế quản lý, đầu tư và tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển, ứng dụng công nghệ mới, công nghệ cao. Đáng chú ý, Đại hội đặt mục tiêu “nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đạt trình độ tiên tiến ở những lĩnh vực quan trọng”, đồng thời phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học nhằm “đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới” (ĐCSVN, 2026, tr.104). Qua đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với đổi mới thể chế, nâng cao tiềm lực quốc gia và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Tổng thể, giai đoạn 2021-2026 phản ánh bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về khoa học, công nghệ và phát triển đất nước. Từ chủ yếu được xem là phương tiện thúc đẩy công nghiệp hóa thì nay đã xác định khoa học công nghệ là nền tảng thể chế, động lực phát triển và lợi thế cạnh tranh chiến lược của quốc gia. Đổi mới sáng tạo được đặt ở vị trí trung tâm của hệ thống phát triển; chuyển đổi số trở thành phương thức tổ chức mới của nền kinh tế và xã hội; dữ liệu trở thành nguồn lực chiến lược; trí tuệ nhân tạo và công nghệ số được chú trọng phát triển, dẫn dắt quá trình hiện đại hóa; tự chủ công nghệ được xác định là điều kiện bảo đảm độc lập, tự chủ trong phát triển. Sự chuyển biến này không chỉ hoàn thiện quá trình phát triển tư duy của Đảng từ năm 1986 đến năm 2026 mà còn mở ra một cách tiếp cận mới, trong đó năng lực sáng tạo, tri thức và công nghệ trở thành yếu tố quyết định vị thế của Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.
2.2. Đặc điểm và kinh nghiệm từ sự phát triển tư duy của Đảng về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong thời kỳ đổi mới
a) Những đặc điểm chủ yếu trong sự phát triển tư duy của Đảng
Quá trình vận động phát triển tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 1986-2026 phản ánh sự vận động, bổ sung và hoàn thiện liên tục của nhận thức chiến lược trước những biến đổi của bối cảnh trong nước và quốc tế. Từ yêu cầu khắc phục khó khăn của nền kinh tế trong những năm đầu đổi mới đến mục tiêu xây dựng quốc gia phát triển trong kỷ nguyên số, tư duy của Đảng ngày càng được mở rộng theo hướng hiện đại, toàn diện và hội nhập.
Thứ nhất, tư duy của Đảng đã chuyển từ “khoa học - kỹ thuật” sang “khoa học và công nghệ”. Nếu trong giai đoạn đầu Đổi mới, trọng tâm là ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để phục hồi sản xuất và nâng cao năng suất thì từ giữa những năm 1990, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, khoa học và công nghệ được nhìn nhận như một hệ thống thống nhất, bao gồm nghiên cứu, phát triển, chuyển giao và ứng dụng công nghệ phục vụ phát triển đất nước.
Thứ hai, vai trò của khoa học và công nghệ được nâng từ công cụ hỗ trợ sản xuất lên động lực phát triển. Từ Đại hội VIII, đặc biệt từ Đại hội XI, khoa học và công nghệ được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đến Đại hội XIII và Nghị quyết số 57-NQ/TW, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chủ yếu để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và thúc đẩy phát triển đất nước.
Thứ ba, vị thế của khoa học và công nghệ được nâng từ “quốc sách hàng đầu” lên “đột phá quan trọng hàng đầu”. Sự thay đổi này không chỉ thể hiện mức độ ưu tiên trong phân bổ nguồn lực mà còn phản ánh bước chuyển trong tư duy phát triển, từ coi khoa học và công nghệ là lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư sang xem đây là yếu tố dẫn dắt đổi mới mô hình tăng trưởng, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tư duy của Đảng đã chuyển từ phát triển khoa học và công nghệ sang kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trọng tâm chính sách không còn dừng ở nghiên cứu và ứng dụng mà hướng tới thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển doanh nghiệp công nghệ, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Trong các văn kiện gần đây, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được tích hợp thành một chỉnh thể thống nhất, với dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, hạ tầng số, kinh tế số và quốc gia số, trở thành những nền tảng của mô hình phát triển mới. Điều đó cho thấy tư duy của Đảng ngày càng được hoàn thiện, từ phát triển từng lĩnh vực riêng lẻ sang phát triển hệ sinh thái phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới trong thế kỷ XXI.
b) Một số bài học lý luận và thực tiễn
Quá trình hình thành và phát triển tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn 1986-2026 để lại nhiều bài học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với sự nghiệp phát triển đất nước.
Thứ nhất, mọi đổi mới trong tư duy của Đảng đều xuất phát từ yêu cầu tổng kết thực tiễn và thích ứng với bối cảnh phát triển mới. Qua mỗi kỳ Đại hội, những điều chỉnh trong nhận thức về khoa học và công nghệ đều gắn với việc đánh giá khách quan thành tựu, hạn chế của từng giai đoạn phát triển, đồng thời phản ánh sự nhạy bén trước những biến đổi của môi trường quốc tế. Từ yêu cầu khắc phục khủng hoảng kinh tế những năm đầu đổi mới, đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức và hiện nay là chuyển đổi số quốc gia, tư duy của Đảng luôn được bổ sung trên cơ sở tổng kết thực tiễn, không ngừng đổi mới nhưng vẫn bảo đảm tính kế thừa và nhất quán.
Thứ hai, Đảng luôn gắn sự phát triển của khoa học, công nghệ với mục tiêu phát triển đất nước. Trong suốt 40 năm đổi mới, khoa học và công nghệ không được xem là một lĩnh vực phát triển độc lập mà luôn gắn chặt với các mục tiêu chiến lược của từng thời kỳ. Khi nhiệm vụ trọng tâm là phục hồi sản xuất, khoa học và kỹ thuật phục vụ nâng cao năng suất lao động; khi đất nước bước vào công nghiệp hóa, khoa học và công nghệ trở thành nền tảng và động lực của tăng trưởng; đến giai đoạn hiện nay, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chủ yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và phát triển nhanh, bền vững. Sự thống nhất giữa phát triển khoa học với yêu cầu phát triển quốc gia là một đặc điểm xuyên suốt trong tư duy của Đảng.
Thứ ba, coi trọng đội ngũ trí thức và nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện quyết định sự phát triển của khoa học và công nghệ. Từ việc khẳng định vai trò của đội ngũ trí thức trong công cuộc công nghiệp hóa đến chủ trương thu hút, trọng dụng nhân tài, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng đội ngũ chuyên gia trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược, Đảng ngày càng nhận thức đầy đủ hơn rằng con người là chủ thể sáng tạo tri thức và là nhân tố quyết định năng lực đổi mới sáng tạo của quốc gia. Đây là bước phát triển quan trọng, chuyển trọng tâm từ đầu tư cho cơ sở vật chất sang đầu tư cho nguồn lực con người.
Thứ tư, thể chế hóa kịp thời các chủ trương của Đảng là yếu tố bảo đảm đưa tư duy vào thực tiễn phát triển. Mỗi bước phát triển trong nhận thức đều được cụ thể hóa bằng các nghị quyết chuyên đề, chiến lược quốc gia, hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Chính quá trình thể chế hóa đã tạo điều kiện để các quan điểm của Đảng trở thành động lực cho cải cách thể chế, huy động nguồn lực xã hội và thúc đẩy đổi mới trong toàn bộ nền kinh tế.
Thứ năm, chủ động hội nhập quốc tế đồng thời phát huy năng lực nội sinh là bài học xuyên suốt trong phát triển khoa học và công nghệ. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Đảng luôn chủ trương tiếp thu có chọn lọc thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới, mở rộng hợp tác quốc tế, đồng thời chú trọng nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nước. Sự kết hợp giữa hội nhập quốc tế với tăng cường nội lực, giữa tiếp thu tri thức toàn cầu với phát huy sức sáng tạo của đội ngũ trí thức và doanh nghiệp Việt Nam đã trở thành một trong những bài học có giá trị, tạo nền tảng cho mục tiêu xây dựng quốc gia phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
3. Kết luận
Quá trình phát triển tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong 40 năm đổi mới (1986-2026) thể hiện sự kế thừa, bổ sung và từng bước hoàn thiện gắn với yêu cầu phát triển đất nước qua mỗi giai đoạn. Từ yêu cầu đưa khoa học, kỹ thuật trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong những năm đầu đổi mới, Đảng từng bước xác định khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời gắn khoa học, công nghệ với phát triển kinh tế tri thức, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Từ Đại hội XIII, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Đại hội XIV, nhận thức tiếp tục được mở rộng theo hướng gắn kết khoa học, công nghệ với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, coi đây là những động lực quan trọng của mô hình tăng trưởng mới. Tiến trình đó cho thấy tư duy của Đảng về khoa học, công nghệ luôn được điều chỉnh trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nhận thức những yêu cầu mới của đất nước và tiếp cận thành tựu khoa học - công nghệ của thời đại. Những bài học về gắn khoa học với thực tiễn phát triển, coi trọng nguồn nhân lực, hoàn thiện thể chế và chủ động hội nhập tiếp tục có ý nghĩa đối với việc nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực tự chủ công nghệ quốc gia trong giai đoạn mới.
_________________
Ngày nhận bài: 28/7/2026; Ngày bình duyệt: 11/8/2026; Ngày quyết định đăng: 13/8/2026.
Email tác giả: anhlt@tdmu.edu.vn
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương (24/12/1996). Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai số 02-NQ/HNTW Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000.
Bộ Chính trị (22/12/2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Hệ thống Tư liệu - Văn kiện Đảng.
ĐCSVN (2006). Văn kiện Đảng Toàn tập (Tập 47). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2007). Văn kiện Đảng Toàn tập (Tập 51). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2015). Văn kiện Đảng Toàn tập (Tập 55). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2016a). Văn kiện Đảng Toàn tập (Tập 60). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2018). Văn kiện Đảng Toàn tập (Tập 65). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2019a). Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Phần I (Đại hội VI, VII, VIII, IX). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2019b). Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Phần II (Đại hội X, XI, XII). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.