Quan điểm nâng cao đời sống, đem lại hạnh phúc cho nhân dân trong di sản Hồ Chí Minh và sự vận dụng trong 40 năm đổi mới
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.1043
Tóm tắt: Bài viết phân tích hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về nâng cao đời sống nhân dân và thực tiễn vận dụng tư tưởng của Người trong 40 năm đổi mới. Qua đó, khẳng định quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân trong việc hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam văn minh, hạnh phúc theo đúng tâm nguyện của Người.
PGS, TS BÙI ĐÌNH PHONG
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Viewpoints on improving living standards and bringing happiness to the people in Ho Chi Minh's legacy and its application through 40 years of renovation
Abstract: The article analyzes Ho Chi Minh's system of viewpoints on improving people's living standards and the practical application of his thought through 40 years of renovation. Thereby, it affirms the determination of the entire Party and people in realizing the aspiration to build a civilized and happy Vietnam in accordance with his wishes.
Keywords: President Ho Chi Minh; people's living standards; people's happiness; 40 years of renovation.
1. Mở đầu
Đảng ta ra đời đầu năm 1930, đề ra chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Tiếp đó, toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh đã đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mở ra kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Đó là những kỳ tích của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, nhưng chưa phải là cái đích cuối cùng của cách mạng. Mục tiêu cao nhất của cách mạng phải được đo bằng hạnh phúc của nhân dân. Suốt 25 năm (từ năm 1945-1969), Người vừa lãnh đạo kháng chiến kiến quốc vừa tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Ham muốn duy nhất và tột bậc của Người là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bao ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Mong muốn đó của Người từng bước được thực hiện ngay khi nước nhà chưa thống nhất. Từ sau khi Người qua đời đến nay, nhất là trong 40 năm đổi mới, quyết tâm thực hiện bằng được tâm nguyện của Người, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết và tổ chức thực hiện quyết liệt để đến hôm nay, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng cao, đem lại cho đất nước một cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng lớn.
2. Nội dung
2.1. Quan điểm nâng cao đời sống và đem lại hạnh phúc cho nhân dân trong di sản Hồ Chí Minh
Sau khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và khai sinh ra chế độ Dân chủ Cộng hòa với mục tiêu Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nhiệm vụ hàng đầu của Chính phủ là chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Theo Người, trước hết có cái ăn rồi mới nói đến các cái khác, “phải làm thế nào cho họ sống” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.7). Người đề nghị Chính phủ phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất, lạc quyên mười ngày nhịn ăn một bữa, dùng gạo tiết kiệm đó phát cho người nghèo. Người đề nghị mở chiến dịch chống nạn mù chữ; thực hiện Tổng tuyển cử để có một hiến pháp dân chủ, làm cơ sở pháp lý cho nhân dân hưởng quyền tự do dân chủ và thực hiện cần, kiệm, liêm, chính để tỏ rõ dân tộc ta là một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập. Người đề nghị tuyên bố tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết. Tất cả những đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách về đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân những năm đầu của chính quyền cách mạng non trẻ, nhưng vẫn vẹn nguyên giá trị đến ngày nay.
Nhận thức bổn phận của Chính phủ là công bộc của dân, sao cho được lòng dân, Hồ Chí Minh khẳng định “Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.21). Người nhắc nhở Bộ Cứu tế xã hội động viên nhân dân 10 ngày nhịn ăn một bữa và Người nêu gương thực hiện. Người viết: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo. Như vậy, thì những người nghèo sẽ có bữa rau bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.33).
Với suy nghĩ nước độc lập mà dân không hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập chẳng có ý nghĩa gì, Người khẳng định: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ. Chúng ta phải thực hiện ngay: 1. Làm cho dân có ăn. 2. Làm cho dân có mặc. 3. Làm cho dân có chỗ ở. 4. Làm cho dân có học hành. Cái mục đích ta đi đến là bốn điều đó. Đi đến để dân nước ta xứng đáng với tự do độc lập và giúp sức được cho tự do độc lập” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.175).
Tư duy và cách tiếp cận của Hồ Chí Minh rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu đã cho thấy cái ăn, cái mặc, hạnh phúc của nhân dân là thước đo giá trị của độc lập. Với tâm nguyện cả đời “chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.272), Hồ Chí Minh chuyển tải thông điệp và suy nghĩ đó với các nhà báo: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.187). Cụm từ ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành chứa đựng trong đó cả một nền tảng về thực tiễn luận, tức lý luận và thực hành; cả một triết lý nhân sinh, như C.Mác từng nói, con người trước hết phải có ăn rồi mới đến khoa học và các thứ khác.
Khi lập Chính phủ mới, trong phiên bế mạc kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá I (ngày 09/11/1946), Hồ Chí Minh tuyên bố: “Chính phủ cố gắng làm theo đúng ba chính sách: Dân sinh, Dân quyền và Dân tộc” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 491). Điều này tỏ rõ quyết tâm chính trị của Đảng chân chính cách mạng, Nhà nước của dân, do dân, vì dân, sáng ngời bản chất tốt đẹp của chế độ mới Dân chủ Cộng hòa. Suốt cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, lời nói và tổ chức thực hiện của Người luôn hướng tới chăm lo đời sống và hạnh phúc của nhân dân.
Người nhấn mạnh: “chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi… cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải lãnh đạo tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Dân đủ ăn đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ dễ dàng thực hiện. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù hay mấy cũng không thực hiện được” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.518). Người chỉ rõ: “Bởi vì dân lấy ăn làm gốc, có thực mới vực được đạo. Nếu bụng đói thì các cô, các chú nói gì hay mấy cũng không ai nghe” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.610).
Hồ Chí Minh từng nói: Với tất cả sự khiêm tốn của một Đảng chân chính, chúng ta vẫn có quyền nói rằng Đảng ta thật là vĩ đại, mà một trong những cái vĩ đại đó là vì toàn bộ đường lối, phương châm, chính sách và việc làm của Đảng đều chỉ “nhằm cải thiện dần đời sống nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.314), “nâng cao đời sống của nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.164). Vì vậy, “Hễ còn có một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa phải lo tính công việc lớn như đổi nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành một nền kinh tế và văn hóa tiên tiến, đồng thời lại phải luôn luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà mắm muối cần thiết cho đời sống hằng ngày của nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011e, tr.402).
Hồ Chí Minh suốt đời phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Người nói “đời sống của Bác lúc này không quan trọng bằng đời sống của nhân dân” (Ban Tuyên giáo Trung ương, 2008, tr.413); rằng “Mình có đói mới hiểu nỗi khổ của người đói” (Ban Tuyên giáo Trung ương, 2008, tr.230). Nhưng Người mong muốn đời sống nhân dân “vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn” (Hồ Chí Minh, 2011f, tr.113). Người còn muốn nhân dân “nghèo trở nên đủ, đủ trở nên giàu, giàu thì giàu thêm” (Hồ Chí Minh, 2011f, tr.76). Chủ nghĩa xã hội theo quan điểm của Người là “làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.438).
Hồ Chí Minh luôn “lý luận hóa thực tiễn” và “thực tiễn hóa lý luận”. Người cho ta một phương pháp tiếp cận có hàm lượng khoa học - thực tiễn sâu sắc: “muốn biết một chính đảng, hay một người có phải là đảng hay chiến sĩ tiên phong của vô sản hay không, ta không nên chỉ xem những tuyên ngôn, nghị quyết và nghe lời nói của họ; ta cần xét hành vi chính trị của họ, lập trường và thái độ của họ trong những cuộc đấu tranh chính trị thế nào?” (Hồ Chí Minh, 2011g, tr.292). Nhiều lần khi bàn về sửa đổi lối làm việc, Người thường phê bình các cán bộ nói hay làm dở, nói nhiều làm ít, nói một đường làm một nẻo, nói mà không làm, “Nói mênh mông trời đất. Nói gì cũng có. Nhưng chỉ chừa một điều không nói đến là những việc thiết thực cho địa phương đó, những việc mà dân chúng ở đó cần biết, cần hiểu, cần làm, thì không nói đến!” (Hồ Chí Minh, 2011f, tr.343).
Trước lúc đi xa, Hồ Chí Minh để lại những lời căn dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011h, tr.622). Điều mong muốn cuối cùng của Người là xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Suốt cuộc đời Người đã hết lòng hết sức, tận tâm, tận lực, tận tụy phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Trước lúc đi xa từ biệt thế giới này, Người không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.
Suốt hơn 60 năm cống hiến, mục tiêu xuyên suốt trong sự nghiệp của Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở quyết tâm giành lại độc lập cho Tổ quốc, thống nhất đất nước, mà còn hướng tới mục tiêu tối thượng là người dân phải thật sự là chủ, làm chủ, sống một đời hạnh phúc. Khát vọng của Hồ Chí Minh về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc và quyền được học hành của nhân dân có giá trị thực tiễn hơn mọi lý thuyết suông. Đối với Người, độc lập dân tộc chỉ thực sự có ý nghĩa khi đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt. Chính những hành động nhân ái, sự sẻ chia cùng nỗi đau của nhân dân và tinh thần tận hiến đến phút cuối cùng là thước đo chính xác nhất cho chân giá trị của độc lập.
2.2. Đảng ta vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong nâng cao đời sống và đem lại hạnh phúc cho nhân dân trong 40 năm đổi mới
Sau ngày thống nhất, Đảng ta thẳng thắn nhìn nhận thực trạng khó khăn về kinh tế - xã hội, đặc biệt là đời sống nhân dân chưa được bảo đảm. Với tinh thần nhìn thẳng và nói rõ sự thật, Đảng xác định cải thiện đời sống dân sinh là ưu tiên hàng đầu khi bước vào thời kỳ đổi mới. Đại hội VI của Đảng nêu rõ: “Đời sống của nhân dân, nhất là công nhân, viên chức còn nhiều khó khăn. Nhiều người lao động chưa có và chưa đủ việc làm. Nhiều nhu cầu chính đáng tối thiểu của nhân dân về đời sống vật chất và văn hóa chưa được bảo đảm. Nông thôn thiếu hàng tiêu dùng thông thường và thuốc men; nhà ở, điều kiện vệ sinh, sinh hoạt văn hoá ở nhiều nơi còn thiếu thốn, nghèo nàn” (ĐCSVN, 1987, tr.18). Đảng tổng kết bài học: “Mỗi đảng viên cộng sản phải thật sự vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ trung thành thật của nhân dân. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của quần chúng. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, đi ngược lại lợi ích của nhân dân là làm suy yếu sức mạnh của Đảng” (ĐCSVN, 1987, tr.29).
Trong bối cảnh đất nước đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách, Đại hội VI của Đảng đã thể hiện bản lĩnh và trí tuệ của một Đảng chân chính cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng nhấn mạnh sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội, đồng thời xác định việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất của mọi chính sách xã hội căn bản, lâu dài. Đây là điểm cốt yếu khẳng định sự vĩ đại của Đảng ta đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bởi vì, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước chỉ là giai đoạn đầu của cách mạng; mục đích cuối cùng là đem lại tự do, hạnh phúc, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân và khẳng định vị trí chủ thể xã hội của nhân dân.
Trong những khâu đột phá, việc giải quyết các vấn đề xã hội và đời sống nhân dân là nội dung trọng yếu. Đại hội VI khẳng định: “Mục tiêu ổn định tình hình, giải phóng năng lực sản xuất không chỉ là phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật mới mà còn là giải quyết các vấn đề xã hội, từ công việc làm đến đời sống vật chất và văn hóa, bồi dưỡng sức dân, xây dựng các quan hệ tốt đẹp, lối sống lành mạnh, thực hiện công bằng xã hội, với ý thức người lao động là lực lượng sản xuất lớn nhất, là chủ thể của xã hội” (ĐCSVN, 1987, tr.185).
Chăm lo đời sống và đem lại hạnh phúc cho nhân dân là một việc làm thường xuyên và hết sức khó khăn, nhất là khi nền kinh tế còn yếu kém, lạm phát cao, thiên tai dồn dập, tình hình thế giới nhiều bất ổn. Điều này thể hiện rõ nét qua hai nhiệm kỳ Đại hội VI và VII.
Tuy nhiên, với chủ trương, đường lối đúng đắn, quyết tâm chính trị cao, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh để vượt qua mọi thử thách. Đại hội VI tập trung nguồn lực thực hiện ba chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm - hàng tiêu dùng hướng đến thực hiện tốt nhiệm vụ và mục tiêu chính sách xã hội. Đảng ta xác định chính sách xã hội phải bao trùm mọi mặt cuộc sống con người, lấy con người làm mục tiêu và động lực phát triển kinh tế. Các nhiệm vụ trọng tâm bao gồm: ổn định và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; bảo đảm tiền lương tối thiểu, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người lao động; cải thiện nhà ở; khuyến khích mọi người tăng thu nhập và làm giàu chính đáng; giải quyết việc làm. Đến Đại hội VII, Đảng ta tiếp tục nêu rõ: “Chăm sóc những người có công với nước. Cải thiện một bước điều kiện làm việc, ăn, ở, họ tập, chữa bệnh, đi lại và nghỉ ngơi cho nhân dân lao động, đặc biệt chú trọng vùng núi, biên giới và đồng bào các dân tộc thiểu số” (ĐCSVN, 1991, tr.114).
Trong tình hình đất nước và bối cảnh quốc tế cuối những năm 1980, đầu những năm 1990 nhiều khó khăn, Đại hội VII của Đảng ta có ý nghĩa rất to lớn. Qua đó, thể hiện sự kiên định, kiên trì công cuộc đổi mới theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều đó đồng nghĩa với quyết tâm không gì lay chuyển nổi về xác lập Cương lĩnh xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, trong đó nổi bật một trong sáu đặc trưng, “con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân” (ĐCSVN, 1991, tr.111).
Mặc dù nguy cơ tụt hậu xa về kinh tế vẫn hiện hữu, nhưng sau 10 năm đổi mới (1986 -1996) đất nước đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội để chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đồng thời, giải quyết các vấn đề thuộc chính sách xã hội, trong đó có giảm nghèo đa chiều bền vững; thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống và an sinh xã hội các vùng miền, các tầng lớp nhân dân. Tổng kết 20 năm đổi mới cho thấy, Đảng rất quan tâm đến chính sách xã hội nói chung, trong đó tập trung giải quyết những vấn đề về đời sống người dân, một thành tựu mà Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.
Bước sang thế kỷ XXI, trong các văn kiện của Đảng càng chú trọng vấn đề phát triển bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, trong đó đặc biệt chú ý phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, giảm nghèo đa chiều, bảo đảm mức sống tối thiểu và các dịch vụ cơ bản. Tư duy phát triển của Đảng thể hiện tầm nhìn toàn diện, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững để bắt kịp đà phát triển của thế giới. Cùng với đó là những vấn đề phát triển dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; chất lượng thể chế, tự chủ chiến lược, hành động và hiệu quả, v.v..
Đảng nêu quan điểm “phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển… Mọi chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân” (ĐCSVN, 2021, tr.215-216). Mọi chính sách đều hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân. Đây là sự đúc kết lý luận và thực tiễn sâu sắc, xác định con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu, đồng thời là sức mạnh nội sinh để phát triển bền vững. Từ tư duy, tầm nhìn đó, Đảng triển khai những xây dựng môi trường văn hóa, con người, “xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh” (ĐCSVN, 2021, tr.263).
Trung thành, kiên định tư tưởng Hồ Chí Minh và tổng kết những vấn đề lý luận - thực tiễn của 35 năm đổi mới, trước, trong và sau Đại hội XIV, Đảng ta và Tổng Bí thư Tô Lâm đưa ra nhiều quan điểm mới, quan trọng trong phát triển nhanh, bền vững đất nước, trong đó có điểm nhấn là đề cao mục đích vì dân. Nhiều nghị quyết có ý nghĩa chiến lược ra đời trong giai đoạn này bàn về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; về vận hành của chính quyền địa phương hai cấp; về kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, v.v.. Phát biểu tại Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, cần “mở đường cho những bước đi thiết thực, vững chắc, phục vụ mục tiêu giữ vững hòa bình, ổn định, phát triển nhanh, bền vững, nâng cao đời sống của nhân dân và hiện thực hóa hai mục tiêu 100 năm mà Đảng ta đã đề ra, nhân dân đang mong đợi” (Tổng Bí thư Tô Lâm, 2025a).
Điểm mới trong cách đặt vấn đề của Hội nghị Trung ương 13 là ưu tiên các nhóm vấn đề kinh tế - xã hội vì chủ trương, đường lối là trụ cột và đòn bẩy phát triển; tuy nhiên, Đảng xác định các chính sách này chỉ đóng vai trò mở đường; mục đích cuối cùng phải là nâng cao đời sống nhân dân; là “kết quả cụ thể, đến từ “mâm cơm của mỗi gia đình”, đến từ hành động “sữa để em thơ lụa tặng già” (Tổng Bí thư Tô Lâm, 2025a). Đây chính là tinh thần mà Hồ Chí Minh đã xác định là một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của chế độ mới Dân chủ Cộng hòa ngay sau ngày Tuyên ngôn độc lập.
Cách tiếp cận của Đại hội XIV và của Tổng Bí thư cho thấy, tư duy mới đã vượt lên lý luận thuần túy, đã thấm sâu vào hành động và hành động chứa đựng lý luận và năng lực tổ chức thực hiện, làm việc thực chất, hiệu quả, nói đi đôi với làm, đã nói là làm có kết quả cụ thể làm thước đo như Tổng Bí thư chỉ rõ: “Điểm nghẽn căn bản nhất hiện nay không nằm ở đường lối mà nằm ở năng lực biến đường lối thành kết quả cụ thể” (Tổng Bí thư Tô Lâm, 2026b).
Tại Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ, trước bối cảnh mới trong nước và quốc tế, đặc biệt cần khắc phục điểm yếu về khâu tổ chức thực hiện vốn tồn tại qua nhiều nhiệm kỳ. Đảng ta đã cụ thể hơn, trực tiếp hơn nhiều tổng kết lý luận có giá trị trước đây và gắn lý luận với thực hành. Đây không chỉ là đổi mới tư duy mà còn là đổi mới cách tổ chức làm việc, là sửa đổi lối làm việc mà sinh thời Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc tới. Sửa đổi cách tổ chức thực hiện và lề lối làm việc không phải là xem nhẹ nghị quyết, mà “giá trị nghị quyết không chỉ được khẳng định bằng tính đúng đắn về lý luận, mà phải được kiểm nghiệm bằng chất lượng tăng trưởng, bằng cải thiện đời sống cho nhân dân. Khi nghị quyết thực sự tạo ra chuyển biến tích cực trong đời sống kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực quốc gia và mở rộng cơ hội phát triển, thì nghị quyết mới có giá trị chính trị và lịch sử bền vững” (Tổng Bí thư Tô Lâm, 2026b).
Trước những biến động của thế giới và vị thế, uy tín quốc tế ngày càng cao của Việt Nam, chúng ta cảm nhận được tư duy mới, sức sống mới, khí thế mới. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hiện đang sống trong bầu không khí đầy tự hào, tự tin, chuyển hóa sức sống mới thành những hành động quyết liệt để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội XIV và các bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho thấy, tinh thần “dám” của một đảng chân chính cách mạng do Hồ Chí Minh sáng lập. Quan điểm “dám” của Người thấm vào tư duy của Đảng, Đảng ta dám nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật; dám đổi mới, dám hành động quyết liệt vì lợi ích của nhân dân và đất nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh về việc Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của Tổ quốc và dân tộc, tinh thần này được thể hiện một cách rõ rệt trong lý luận và thực tiễn, trong nghị quyết và hành động, trong lời nói và việc làm. Nhắc lại tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng “không phải là tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định “lời dạy của Bác vẫn vẹn nguyên giá trị, nhắc nhở rằng Đảng phải luôn luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, lấy dân làm gốc và lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu cao nhất” (Tổng Bí thư Tô Lâm, 2026c).
Hành động đem lại kết quả cụ thể theo tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh với nhận thức sự hài lòng và hạnh phúc của nhân dân là giá trị cao nhất của lý luận, của nghị quyết đang đem lại một sinh khí mới, sinh lực mới cho toàn dân tộc. Với những bài học kinh nghiệm của gần 100 năm lãnh đạo cách mạng và những điểm mới trong Văn kiện Đại hội XIV, với hành động và tổ chức làm việc nhằm đưa lại hạnh phúc cho nhân dân, Đảng, Nhà nước ta thật sự đang tỏ rõ bổn phận, nghĩa vụ pháp lý và đạo đức của một đảng cầm quyền, lãnh đạo cách mạng; của một nhà nước của dân, do dân, vì dân. Triển khai công việc và hành động có kết quả của Đảng với quyết tâm tất cả mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả của công cuộc đổi mới, không để ai bị bỏ lại phía sau là minh chứng cho tính đúng đắn và giá trị cao cả, trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Kiên định, trung thành, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với tinh thần dám đổi mới tư duy và hành động thật sự quyết liệt vì mục tiêu cao nhất là lợi ích của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tin tưởng sẽ thực hiện thắng lợi hai mục tiêu 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng và thành lập nước.
3. Kết luận
Hơn 80 năm Đảng cầm quyền lãnh đạo cách mạng và 40 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu cao nhất, như Hồ Chí Minh đã đề cập và thực hành nhất quán, xuyên suốt trong suốt thời kỳ Người cùng Đảng ta lãnh đạo cách mạng. Kế thừa di sản Hồ Chí Minh, tại Đại hội XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị “các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội khẩn trương cụ thể hóa nghị quyết Đại hội XIV của Đảng thành chương trình, kế hoạch hành động… Xác định rõ những việc cần làm ngay, những khâu đột phá cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, nói đi đôi với làm, làm đến nơi đến chốn, làm ra kết quả cụ thể” (Tổng Bí thư Tô Lâm, 2026d). Với quyết tâm đó, đất nước sẽ đạt những thành tựu mới, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, tiến bước cùng thời đại, sánh vai các cường quốc năm châu như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
_________________
Ngày nhận: 17/3/2026; Ngày bình duyệt: 29/05/2026; Ngày duyệt đăng: 15/6/2026.
Email tác giả: buidinhphong@gmail.com
Tài liệu tham khảo
Ban Tuyên giáo Trung ương (2008). Chủ tịch Hồ Chí Minh một huyền thoại kỳ vĩ. Nxb Hồng Đức.
ĐCSVN (1987). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật.
ĐCSVN (1991). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Nxb Sự thật.
ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia sự thật.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 9). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập (Tập 10). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh (2011d). Toàn tập (Tập 13). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh (2011e). Toàn tập (Tập 12). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh (2011f). Toàn tập (Tập 5). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh (2011g). Toàn tập (Tập 6). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh (2011h). Toàn tập (Tập 15). Nxb Chính trị quốc gia.
Tổng Bí thư Tô Lâm (2025a). Phát biểu khai mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 13 khoá XIII. Chinhphu.vn.
Tổng Bí thư Tô Lâm (2026b). Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Chinhphu.vn.
Tổng Bí thư Tô Lâm (2026c). Vững bước dưới cờ Đảng. baotintuc.vn.
Tổng Bí thư Tô Lâm (2026d). Thu hẹp khoảng cách từ nghị quyết đến kết quả thực chất chính là thước đo bản lĩnh lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Tapchicongsan.org.vn