Thực tiễn

Định hướng chính sách và giải pháp thúc đẩy quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số ở Việt Nam

21/08/2026 19:30

Tóm tắt: Dựa trên những phát hiện từ đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp bộ “Quản trị phát triển xã hội trên các nền tảng số ở Việt Nam”, bài viết đề xuất bốn định hướng chính sách và bốn nhóm giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy quản trị phát triển xã hội ở Việt Nam trong kỷ nguyên số. Các giải pháp này hướng tới xây dựng mô hình quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số tại Việt Nam theo hướng hiện đại, thích ứng, minh bạch, bao trùm và lấy con người làm trung tâm. Qua đó, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

PGS, TS HOÀNG MAI
Học viện Hành chính và Quản trị công

nqs.1cdn.vn-2024-09-30-_static-images.vnncdn.net-vps_images_publish-000001-000003-2024-9-30-_anh-1-a-10120.jpg
Hệ thống giám sát, điều hành thông minh Đà Nẵng: nền tảng hỗ trợ chính quyền ra quyết định, cung cấp dịch vụ công và nâng cao hiệu quả quản trị xã hội trong môi trường số_Ảnh: VNN

1. Mở đầu

Sự phát triển mạnh mẽ của dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, Internet vạn vật và các nền tảng số không chỉ tạo ra lực lượng sản xuất mới mà còn làm thay đổi mô hình và phương thức quản trị trên phạm vi toàn cầu. Trong bối cảnh đó, quản trị phát triển xã hội đang chuyển dịch từ mô hình quản lý truyền thống sang mô hình quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu, có khả năng dự báo, thích ứng nhanh và ra quyết định.

Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng xác định đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số là một trong những định hướng lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 24/12/2024 của Bộ Chính trị đã khẳng định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là “đột phá quan trọng hàng đầu”, là động lực chính để đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội và đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Đối với phát triển xã hội, quá trình số hóa đã tạo ra những kết quả tích cực trong quản lý dân cư, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, lao động - việc làm và cung ứng dịch vụ công, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị và chất lượng phục vụ người dân.

Tuy nhiên, chuyển đổi số cũng đặt ra nhiều thách thức mới đối với quản trị phát triển xã hội. Thực tiễn cho thấy ba điểm nghẽn lớn nhất của quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số ở Việt Nam hiện nay gồm: hạ tầng dữ liệu phân mảnh, rời rạc, thiếu liên thông; thể chế, chính sách chưa theo kịp yêu cầu phát triển của các hoạt động quản trị xã hội trên nền tảng số và năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức, người dân còn hạn chế.

Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng ứng dụng công nghệ số mà quan trọng hơn là đổi mới tư duy và chính sách quản trị phát triển xã hội. Công nghệ cần được nhìn nhận như một công cụ phục vụ con người, dữ liệu trở thành nguồn lực chiến lược cho hoạch định chính sách và điều hành, người dân phải thực sự là trung tâm, là chủ thể đồng sáng tạo, giám sát và thụ hưởng thành quả của quá trình chuyển đổi số. Quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số cần được tiếp cận theo hướng quản trị dựa trên dữ liệu, có khả năng dự báo, thích ứng tốt, lấy con người làm trung tâm và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Nhà nước, thị trường và xã hội.

2. Nội dung

2.1. Định hướng chính sách đổi mới quản trị phát triển xã hội Việt Nam trên nền tảng số

Định hướng chính sách là hệ thống quan điểm có tính dẫn đường, xác lập mục tiêu, nguyên tắc và giá trị nền tảng để định hình toàn bộ quá trình đổi mới quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số. Bài viết tập trung đề xuất 4 định hướng chính sách lớn: (1) Xây dựng nền quản trị phát triển xã hội bao trùm, công bằng và bền vững; (2) Phát triển mô hình đa chủ thể trong quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số; (3) Bảo đảm an toàn số, chủ quyền số quốc gia và quản trị trí tuệ nhân tạo; (4) Quản trị phát triển xã hội gắn với các mục tiêu phát triển bền vững với tầm nhìn dài hạn. Bốn định hướng chính sách này có mối quan hệ biện chứng, gắn bó chặt chẽ và bổ sung cho nhau, tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Định hướng về tính bao trùm, công bằng và bền vững xác định mục tiêu và giá trị cốt lõi mà nền quản trị hướng tới. Định hướng phát triển đa chủ thể, kết hợp Nhà nước, thị trường và xã hội xác định phương thức huy động và phối hợp các nguồn lực. Định hướng về an toàn số, chủ quyền số quốc gia và quản trị trí tuệ nhân tạo xác định những điều kiện bảo đảm cho sự phát triển an toàn và tự chủ. Định hướng gắn với các mục tiêu phát triển bền vững và tầm nhìn dài hạn xác định bối cảnh chiến lược và đích đến của toàn bộ tiến trình. Việc quán triệt đồng bộ các định hướng này là điều kiện để bảo đảm rằng quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số diễn ra đúng hướng, hiệu quả và phục vụ thiết thực cho sự phát triển của con người và xã hội.

a) Xây dựng nền quản trị phát triển xã hội bao trùm, công bằng, bền vững

Trong kỷ nguyên số, quản trị phát triển xã hội không chỉ hướng tới nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước mà còn phải bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận, tham gia và thụ hưởng công bằng các thành quả của chuyển đổi số. Theo cách tiếp cận của OECD và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc, nền quản trị số hiện đại phải lấy con người làm trung tâm, dựa trên dữ liệu, bảo đảm tính bao trùm, minh bạch, trách nhiệm giải trình và khả năng thích ứng trước các biến động kinh tế - xã hội. Điều đó cho thấy, giá trị cốt lõi của chuyển đổi số không nằm ở mức độ hiện đại của công nghệ mà ở khả năng nâng cao chất lượng cuộc sống, mở rộng cơ hội thụ hưởng, phát triển và củng cố niềm tin xã hội.

Bao trùm, công bằng và bền vững là ba thuộc tính nền tảng phản ánh bản chất nhân văn và định hướng xã hội chủ nghĩa của quản trị phát triển xã hội Việt Nam. Đối với Việt Nam, định hướng xây dựng nền quản trị phát triển xã hội bao trùm, công bằng và bền vững có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và xác định con người là trung tâm, chủ thể và mục tiêu của phát triển. Trong bối cảnh dữ liệu trở thành nguồn lực chiến lược, quản trị xã hội cần chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang kiến tạo giá trị công, trong đó chính sách, quyết định quản lý phải dựa trên bằng chứng, phản ánh đúng nhu cầu và tạo điều kiện người dân tham gia thực chất vào quản trị.

Tính bao trùm của quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số trước hết được thể hiện ở khả năng bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng của người dân, không phân biệt nơi cư trú, độ tuổi, giới tính, dân tộc hay điều kiện kinh tế đối với hạ tầng số, dịch vụ số và thông tin số. Tuy nhiên, khoảng cách số không chỉ là khoảng cách về kết nối Internet hay thiết bị công nghệ mà còn là khoảng cách về năng lực số, khả năng khai thác dữ liệu và cơ hội tham gia vào các hoạt động xã hội trên môi trường số. Do đó, ngay từ giai đoạn thiết kế chính sách cần ưu tiên nhóm dễ bị tổn thương như người cao tuổi, khuyết tật, dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và lao động tự do để vừa bảo đảm công bằng xã hội và góp phần nâng cao khả năng tiếp cận của mọi công dân.

Công bằng trong quản trị xã hội trên nền tảng số cần được tiếp cận theo nghĩa rộng, bao gồm công bằng trong tiếp cận, sử dụng và trong kết quả thụ hưởng. Điều này đòi hỏi Nhà nước không chỉ đầu tư phát triển hạ tầng số mà còn xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ phát triển kỹ năng số, mở rộng khả năng tiếp cận dữ liệu mở, thúc đẩy giáo dục số và tăng cường năng lực sử dụng dịch vụ công trực tuyến cho người dân. Đồng thời, các thuật toán và trí tuệ nhân tạo được sử dụng trong quản trị xã hội phải bảo đảm tính minh bạch, khả năng giải trình và hạn chế thiên kiến thuật toán nhằm tránh tạo ra những bất bình đẳng trong quá trình ra quyết định.

Bảo đảm tính bền vững của quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số khi tạo được sự cân bằng giữa đổi mới công nghệ với ổn định xã hội; giữa khai thác dữ liệu với bảo vệ quyền riêng tư; giữa phát triển kinh tế số với bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Điều này đòi hỏi phải hình thành mô hình quản trị thích ứng, có khả năng dự báo sớm các rủi ro xã hội, phản ứng linh hoạt trước các biến động và liên tục điều chỉnh chính sách dựa trên dữ liệu trong thời gian thực. Trong mô hình này, dữ liệu không chỉ phục vụ quản lý mà còn trở thành công cụ dự báo, đánh giá tác động và hỗ trợ hoạch định chính sách theo hướng chủ động thay vì chỉ phản ứng, xử lý trước các tình huống của đời sống xã hội.

Như vậy, quản trị phát triển xã hội bao trùm, công bằng và bền vững không chỉ là định hướng chính sách mà còn là nguyên tắc xuyên suốt của quá trình chuyển đổi số quốc gia. Đây là cơ sở bảo đảm đổi mới về công nghệ đều hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, củng cố niềm tin xã hội và tạo lập nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên số.

b) Phát triển mô hình đa chủ thể trong quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số

Sự phát triển của nền tảng số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi căn bản cấu trúc quyền lực và phương thức quản trị xã hội. Nếu như trong mô hình quản lý truyền thống, Nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong hoạch định và thực thi chính sách thì trong môi trường số, quá trình tạo lập và cung ứng giá trị công được thực hiện ngày càng nhiều thông qua sự tương tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, cộng đồng và người dân. Điều này đặt ra yêu cầu chuyển sang mô hình quản trị đa chủ thể, trong đó các bên cùng tham gia hoạch định chính sách, chia sẻ dữ liệu, cùng cung ứng dịch vụ công và chịu trách nhiệm đối với kết quả phát triển xã hội.

Trong mô hình này, Nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong kiến tạo phát triển, hoạch định chính sách, xây dựng thể chế và bảo đảm lợi ích công, song chuyển mạnh từ quản lý trực tiếp sang kiến tạo, điều phối và hậu kiểm hệ sinh thái số. Thay vì can thiệp sâu vào mọi hoạt động, Nhà nước tập trung xây dựng khung pháp lý, thiết lập các tiêu chuẩn dữ liệu, phát triển hạ tầng số dùng chung, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh và duy trì sự cân bằng giữa đổi mới sáng tạo với bảo vệ lợi ích quốc gia. Năng lực điều phối dựa trên dữ liệu, khả năng dự báo và phối hợp liên ngành sẽ trở thành tiêu chí phản ánh chất lượng quản trị của Nhà nước trong kỷ nguyên số.

Doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp công nghệ là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển hạ tầng số và cung cấp các giải pháp công nghệ phục vụ phát triển xã hội. Các doanh nghiệp sở hữu nền tảng và dữ liệu quy mô lớn cần tuân thủ nguyên tắc minh bạch, bảo vệ dữ liệu cá nhân, chia sẻ dữ liệu vì lợi ích công trong khuôn khổ pháp luật và thực hiện đầy đủ trách nhiệm đối với các thuật toán có tác động lớn đến quyền và lợi ích của người dân. Vì vậy, chính sách cần xây dựng khuôn khổ quản trị nền tảng, bảo đảm hài hòa giữa đổi mới sáng tạo, cạnh tranh thị trường và lợi ích xã hội.

Các tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và cộng đồng số là một cấu phần quan trọng của hệ sinh thái quản trị. Cùng với thực hiện chức năng phản biện và giám sát, các chủ thể này còn có vai trò truyền thông chính sách, phát triển tri thức, hỗ trợ chuyển đổi số ở cơ sở và kết nối các nhóm yếu thế với hệ thống dịch vụ công. Việc mở rộng sự tham gia của xã hội sẽ góp phần nâng cao chất lượng chính sách, tăng cường tính minh bạch và củng cố niềm tin xã hội.

Đặc biệt, trong mô hình quản trị phát triển xã hội hiện đại, người dân không còn là đối tượng thụ hưởng thụ động mà trở thành chủ thể đồng kiến tạo giá trị công. Thông qua các nền tảng số, người dân có thể tham gia phản ánh hiện trường, góp ý chính sách, đánh giá chất lượng dịch vụ công, chia sẻ dữ liệu và giám sát việc thực thi chính sách. Sự tham gia của người dân giúp nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của các cơ quan công quyền, đồng thời tạo ra nguồn dữ liệu phong phú phục vụ quá trình hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng.

Như vậy, khi Nhà nước giữ vai trò kiến tạo khung thể chế, doanh nghiệp phát huy năng lực đổi mới sáng tạo, các tổ chức xã hội đóng góp tri thức và giám sát, người dân trở thành trung tâm của quá trình đồng kiến tạo giá trị công, giúp nền quản trị có khả năng thích ứng tốt hơn đồng thời tạo lập nền tảng vững chắc cho phát triển xã hội bền vững trong dài hạn.

c) Bảo đảm an toàn số, chủ quyền số quốc gia và quản trị trí tuệ nhân tạo

Trong kỷ nguyên số, dữ liệu trở thành nguồn lực chiến lược cho phát triển đất nước. Khả năng thu thập, phân tích, chia sẻ và khai thác dữ liệu không chỉ quyết định hiệu quả quản trị quốc gia mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả phát triển xã hội, năng lực cạnh tranh quốc gia và quyền lợi của mỗi công dân. Vì vậy, bảo đảm an toàn số, chủ quyền dữ liệu và quản trị trí tuệ nhân tạo cần được xác định là một trong những định hướng chính sách trọng tâm nhằm xây dựng nền quản trị phát triển xã hội hiện đại và bền vững.

An toàn số trong quản trị phát triển xã hội cần được tiếp cận theo nghĩa rộng, bao gồm an toàn hạ tầng số, an toàn dữ liệu, an toàn các nền tảng số và an toàn của người dân trong môi trường số. Khi các dịch vụ giáo dục, y tế, an sinh xã hội và các hoạt động kinh tế - xã hội ngày càng được xử lý nhiều hơn trên nền tảng số, rủi ro về mất an toàn dữ liệu có thể gây ra những tác động lan truyền đối với đời sống xã hội và niềm tin của người dân. Do đó, yêu cầu đặt ra không chỉ tăng cường các giải pháp kỹ thuật về an ninh mạng mà còn phải xây dựng cơ chế quản trị rủi ro số, phát hiện sớm, cảnh báo sớm và ứng phó linh hoạt với các nguy cơ phát sinh trong quá trình chuyển đổi số.

Bảo đảm chủ quyền dữ liệu quốc gia không chỉ là kiểm soát lưu trữ dữ liệu mà còn là khả năng của quốc gia trong việc thiết lập các quy tắc quản trị dữ liệu, bảo vệ lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đồng thời khai thác hiệu quả các dữ liệu được tạo lập, lưu trữ và khai thác trên nhiều nền tảng xuyên biên giới phục vụ phát triển. Chính sách cần hướng tới xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia thống nhất, liên thông, có khả năng chia sẻ an toàn giữa các cơ quan nhà nước và giữa khu vực công với khu vực tư theo nguyên tắc “mở để phát triển nhưng kiểm soát để bảo vệ”. Dữ liệu quốc gia cần được xem là tài sản chiến lược, được quản trị theo các tiêu chuẩn thống nhất về chất lượng, bảo mật, khả năng kết nối và trách nhiệm giải trình.

Việc bảo vệ dữ liệu cá nhân phải trở thành nguyên tắc nền tảng trong mọi hoạt động quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số. Niềm tin của người dân là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy sử dụng dịch vụ công trực tuyến và mở rộng các hoạt động trên môi trường số. Vì vậy, cần hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền của công dân đối với dữ liệu cá nhân, bao gồm quyền được biết, quyền truy cập, chỉnh sửa, quyền cho phép và quyền yêu cầu xóa dữ liệu theo quy định của pháp luật. Các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong quá trình thu thập, xử lý và chia sẻ dữ liệu, đồng thời áp dụng các tiêu chuẩn bảo mật phù hợp nhằm phòng ngừa nguy cơ rò rỉ hoặc lạm dụng thông tin.

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo đang mở ra nhiều cơ hội nâng cao hiệu quả quản trị phát triển xã hội. Các hệ thống AI có thể hỗ trợ phân tích dữ liệu lớn, dự báo xu hướng xã hội, tối ưu hóa phân bổ nguồn lực, cá thể hóa dịch vụ công và hỗ trợ hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng. Tuy nhiên, nếu thiếu cơ chế quản trị phù hợp, AI cũng có thể tạo ra những rủi ro như thiên lệch thuật toán, phân biệt đối xử, thiếu minh bạch trong quá trình ra quyết định và xâm phạm quyền riêng tư của công dân. Vì vậy, quản trị AI cần được đặt trên nền tảng các nguyên tắc minh bạch, công bằng, trách nhiệm giải trình, khả năng kiểm soát và giám sát của con người. AI phải được xem là công cụ hỗ trợ con người nâng cao hoạt động chứ không thay thế vai trò quyết định của con người trong đời sống xã hội.

Như vậy, trong bối cảnh dữ liệu và trí tuệ nhân tạo đang trở thành động lực mới của phát triển, việc bảo đảm an toàn số, chủ quyền dữ liệu và quản trị AI không chỉ là yêu cầu về công nghệ mà còn là yêu cầu về thể chế, đạo đức và năng lực quản trị. Đây là nền tảng để xây dựng một hệ thống quản trị phát triển xã hội hiện đại, minh bạch, có khả năng thích ứng cao và bảo đảm cân bằng giữa đổi mới sáng tạo với quyền con người, giữa phát triển kinh tế số với phát triển xã hội bền vững.

d) Gắn quản trị phát triển xã hội với mục tiêu phát triển bền vững và tầm nhìn Việt Nam đến năm 2045

Quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số cần phù hợp, gắn kết với các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs), đặc biệt là mục tiêu về giảm bất bình đẳng, giáo dục chất lượng, việc làm bền vững, đổi mới sáng tạo, xây dựng thể chế hiệu quả và thúc đẩy quan hệ đối tác vì phát triển. Chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ phải đồng thời góp phần mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ công thiết yếu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, nhóm dân cư và bảo đảm mọi người đều được hưởng lợi từ tiến trình phát triển số.

Để hiện thực hóa định hướng trên, cần tập trung vào 3 hoạt động nền tảng sau: Tích hợp các mục tiêu phát triển xã hội vào chiến lược chuyển đổi số quốc gia và các chiến lược phát triển ngành, địa phương, bảo đảm sự thống nhất giữa phát triển kinh tế số và phát triển xã hội bền vững; Xây dựng hệ thống dữ liệu xã hội quốc gia phục vụ phân tích, dự báo và cảnh báo sớm các vấn đề xã hội mới phát sinh, tạo cơ sở cho việc hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng; Phát triển năng lực quản trị thích ứng của bộ máy nhà nước thông qua đổi mới phương thức điều hành, nâng cao năng lực phân tích dữ liệu, tăng cường phối hợp liên ngành và mở rộng sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong toàn bộ chu trình chính sách.

Tóm lại, 4 định hướng chính sách nêu trên tạo thành một hệ thống thống nhất và bổ sung lẫn nhau. Một quốc gia phát triển không chỉ được đo bằng quy mô kinh tế mà còn bằng mức độ công bằng, sự gắn kết xã hội, chất lượng cuộc sống và năng lực thích ứng trước các thách thức mới. Các định hướng chính sách cần được hoạch định với tầm nhìn dài hạn, có lộ trình rõ ràng và được điều chỉnh linh hoạt theo từng giai đoạn, phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước.

2.2. Một số giải pháp thúc đẩy quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số

a) Giải pháp về thể chế quản trị phát triển xã hội

Thể chế là điều kiện tiên quyết của mọi cải cách. Nghị quyết số 57-NQ/TW đã xác định thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi, trong đó thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước.

Trước hết, cần hoàn thiện khung thể chế thống nhất về quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hiện tượng xã hội mới phát sinh trong môi trường số. Cần ưu tiên xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý cho các vấn đề phát triển xã hội như: lao động, việc làm trên nền tảng số; nền kinh tế việc làm tự do; trách nhiệm pháp lý của các chủ thể; hệ thống ra quyết định dựa trên dữ liệu; quyền và nghĩa vụ của công dân số; quan hệ xã hội mới hình thành trong không gian lai.

Thứ hai, đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo phát triển. Pháp luật cần chuyển từ trạng thái phản ứng sang trạng thái dẫn dắt, không chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội đã phát sinh mà còn tạo lập khuôn khổ thể chế cho các quan hệ mới. Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo hướng bảo đảm vừa quản lý vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo, loại bỏ tư duy không quản được thì cấm. Một biểu hiện cụ thể của tư duy kiến tạo phát triển là thúc đẩy mạnh mẽ cơ chế thử nghiệm chính sách có kiểm soát, cho phép các chính sách, mô hình, công nghệ và dịch vụ mới được thử nghiệm trong phạm vi và thời gian giới hạn dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước.

Thứ ba, thiết lập và hoàn thiện thể chế quản trị dữ liệu quốc gia, trong đó xác lập rõ quan hệ phối hợp liên ngành, liên cấp trên nền tảng dữ liệu. Thể chế cần quy định rõ quyền sở hữu, khai thác, chia sẻ và trách nhiệm bảo vệ dữ liệu; xây dựng các tiêu chuẩn thống nhất về chất lượng dữ liệu, khả năng kết nối và chia sẻ giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu chuyên ngành và dữ liệu địa phương. Đồng thời, cần hình thành cơ chế dữ liệu mở có kiểm soát nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển các dịch vụ số và nâng cao tính minh bạch của nền hành chính. Việc tổ chức lại bộ máy theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cùng với chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tinh gọn bộ máy là cơ hội để thiết kế lại quy trình phối hợp theo hướng liền mạch, giảm tầng nấc trung gian và lấy kết quả phục vụ người dân làm thước đo.

Thứ tư, hoàn thiện các quy định bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình trong môi trường số. Cần xây dựng các cơ chế công khai dữ liệu mở, quy trình ra quyết định, kết quả thực thi chính sách và thiết lập các kênh để người dân giám sát, phản hồi và đánh giá hoạt động của cơ quan nhà nước theo thời gian thực. Đồng thời, làm rõ trách nhiệm pháp lý của các chủ thể tham gia, đặc biệt là trách nhiệm của các hệ thống ra quyết định tự động, để bảo đảm rằng khi quyền lợi của người dân bị ảnh hưởng thì luôn có chủ thể chịu trách nhiệm.

Thứ năm, xây dựng thể chế khuyến khích sự tham gia của đa chủ thể vào quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số, nhất là doanh nghiệp, người dân và cộng đồng dân cư. Cần xây dựng các cơ chế trao quyền, hỗ trợ nguồn lực và khuyến khích các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp và cộng đồng tham gia vào quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số, đặc biệt trong vai trò phản biện, giám sát và hỗ trợ nhóm yếu thế. Đối với doanh nghiệp, cần thiết lập cơ chế hợp tác công tư trong lĩnh vực xã hội đồng thời ràng buộc trách nhiệm xã hội và đạo đức số.

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, hoàn thiện thể chế cần được xem là khâu đột phá nhằm giải phóng các nguồn lực cho phát triển và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia. Đối với quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số, yêu cầu này không chỉ dừng ở việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật mà cần đổi mới toàn diện tư duy lập pháp theo hướng kiến tạo phát triển, quản trị dựa trên dữ liệu, giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm, khuyến khích đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực thích ứng của hệ thống thể chế trước sự phát triển nhanh của công nghệ số. Thể chế phải vừa tạo không gian cho các mô hình mới phát triển, vừa bảo đảm quyền con người, lợi ích quốc gia và tính bền vững.

b) Phát triển hạ tầng số và hệ sinh thái số

Công nghệ và hạ tầng số là nền móng vật chất của quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số, vì vậy, cần tập trung xây dựng hạ tầng dữ liệu và nền tảng số tích hợp, liên thông, an toàn, đủ năng lực để quản trị phát triển xã hội, có thể thực hiện thông qua một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, xây dựng hệ thống dữ liệu xã hội quốc gia tích hợp và liên thông, khắc phục triệt để tình trạng cát cứ dữ liệu theo ngành và cấp, biến dữ liệu phân tán thành một hạ tầng điều phối thống nhất. Việc đưa Trung tâm Dữ liệu quốc gia số 1 vào vận hành (ngày 18/8/2025), với vai trò đầu mối xây dựng hạ tầng dữ liệu dùng chung và kết nối, liên thông các cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành và địa phương, là bước đi quan trọng theo hướng này. Ngoài ra, cần tập trung nguồn lực và giám sát chặt chẽ để hoàn thành các cơ sở dữ liệu xã hội cốt lõi theo nguyên tắc dữ liệu đúng, đủ, sạch, sống.

Thứ hai, phát triển các nền tảng số dùng chung cho các lĩnh vực xã hội. Định hướng phát triển VNeID thành nền tảng số quốc gia, một siêu ứng dụng đóng vai trò trung tâm trong hệ sinh thái số quốc gia, là một mô hình nền tảng dùng chung có ý nghĩa chiến lược(*). Trên nền tảng này, các dịch vụ xã hội như an sinh, y tế, giáo dục có thể được tích hợp và cung ứng một cách liên thông, lấy người dân làm trung tâm. Cần ưu tiên phát triển các nền tảng dùng chung cho từng lĩnh vực xã hội trọng yếu, đồng thời bảo đảm khả năng kết nối và liên thông giữa chúng.

Thứ ba, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và Internet vạn vật trong quản trị phát triển xã hội. Trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn có thể được ứng dụng trong nhiều khâu của quản trị xã hội: phân tích nhu cầu xã hội để hoạch định chính sách chính xác hơn, dự báo các xu hướng và rủi ro xã hội, hỗ trợ ra quyết định dựa trên bằng chứng, cá thể hóa dịch vụ công, phát hiện sớm các dấu hiệu khủng hoảng và thông tin sai lệch. Tuy nhiên, ứng dụng trí tuệ nhân tạo phải bảo đảm minh bạch thuật toán, kiểm soát rủi ro và bảo đảm con người có vai trò quyết định cuối cùng.

Thứ tư, phát triển hệ thống định danh và xác thực số làm hạ tầng nền tảng cho tiếp cận dịch vụ xã hội. Định danh giúp xác định chính xác đối tượng thụ hưởng chính sách xã hội, giảm thất thoát, tránh trùng lặp hoặc bỏ sót, và nâng cao hiệu quả chi trả an sinh. Tuy nhiên, cần có giải pháp hỗ trợ cho các nhóm yếu thế chưa quen sử dụng công nghệ, bảo đảm định danh số trở thành công cụ mở rộng tiếp cận chứ không tạo thêm rào cản cho người dân.

Thứ năm, bảo đảm an toàn, an ninh cho hạ tầng và dữ liệu. An toàn hạ tầng và dữ liệu không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà là điều kiện để tạo dựng niềm tin của người dân khi tham gia vào các dịch vụ xã hội số.

c) Giải pháp thu hẹp khoảng cách số, nâng cao năng lực số của các chủ thể trong quản trị phát triển xã hội

Thu hẹp khoảng cách số và nâng cao năng lực số toàn dân là giải pháp trực tiếp hiện thực hóa định hướng quản trị phát triển xã hội bao trùm và công bằng, bảo đảm mọi người dân đều có thể tham gia và thụ hưởng giá trị của chuyển đổi số. Đây là giải pháp có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, gắn trực tiếp với chủ trương không để ai bị bỏ lại phía sau, thể hiện thông qua một số giải pháp cụ thể sau:

Thứ nhất, thu hẹp khoảng cách về hạ tầng tiếp cận. Cần tiếp tục đầu tư mở rộng hạ tầng băng rộng và mạng di động thế hệ mới đến các khu vực khó khăn, coi phổ cập hạ tầng số như một chính sách phát triển xã hội nhằm mở rộng mức độ tiếp cận và hạn chế bất bình đẳng.

Thứ hai, nâng cao năng lực số cho người dân thông qua giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng bài bản, có hệ thống. Cần triển khai chương trình phổ cập kỹ năng số quốc gia, lồng ghép vào hệ thống giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên, đồng thời tổ chức các chương trình đào tạo kỹ năng số cho người trưởng thành, đặc biệt là các nhóm yếu thế. Đào tạo kỹ năng số không chỉ là dạy cách sử dụng thiết bị và ứng dụng, mà còn bao gồm năng lực tư duy phản biện trước thông tin trên mạng xã hội, năng lực bảo vệ bản thân trong không gian số và năng lực sử dụng công nghệ một cách an toàn, có trách nhiệm.

Thứ ba, thiết kế dịch vụ công trên nền tảng số thân thiện, dễ sử dụng và bao trùm. Cần áp dụng nguyên tắc thiết kế lấy người dùng làm trung tâm, đặc biệt là xuất phát từ nhu cầu và năng lực của nhóm yếu thế nhất, để dịch vụ trở nên dễ tiếp cận với mọi người. Duy trì các kênh hỗ trợ trực tiếp và áp dụng đồng thời phương thức phục vụ truyền thống và phương thức số trong giai đoạn chuyển tiếp, để mọi người dân đều được thụ hưởng dịch vụ. Tăng cường bố trí lực lượng hỗ trợ người dân thực hiện dịch vụ công số.

Thứ tư, thu hẹp khoảng cách số trong chính nội bộ đội ngũ cán bộ, công chức. Cần triển khai chương trình đào tạo, bồi dưỡng năng lực số cho cán bộ, công chức, viên chức các cấp, đặc biệt chú trọng cấp cơ sở. Đào tạo, bồi dưỡng không chỉ tập trung vào kỹ năng sử dụng công nghệ mà qua đó thay đổi tư duy từ quản lý hành chính sang kiến tạo phục vụ, từ ra quyết định dựa trên kinh nghiệm sang ra quyết định dựa trên dữ liệu. Việc đưa nội dung quản trị số và đạo đức số vào các chương trình đào tạo cán bộ tại các cơ sở đào tạo của Đảng và Nhà nước là một giải pháp căn cơ và lâu dài.

d) Đổi mới phương thức quản trị phát triển xã hội dựa trên dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, bằng chứng

Đổi mới phương thức quản trị trong bối cảnh chuyển đổi số sâu rộng không đơn giản là việc số hóa các quy trình hành chính hiện có mà phải tái cấu trúc toàn diện phương thức hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách công. Chuyển đổi từ mô hình quản trị dựa trên kinh nghiệm sang quản trị dựa trên bằng chứng, trong đó mọi quyết định chính sách được hỗ trợ bởi dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, ra quyết định theo thời gian thực.

Quản trị phát triển xã hội dựa trên dữ liệu đòi hỏi hình thành một chu trình chính sách khép kín, trong đó dữ liệu được thu thập, chuẩn hóa, phân tích và khai thác xuyên suốt từ khâu nhận diện vấn đề, xây dựng chính sách, tổ chức thực hiện, giám sát đến đánh giá tác động. Khi dữ liệu được tích hợp từ nhiều nguồn khác nhau, các cơ quan quản lý có thể theo dõi sự biến động của các vấn đề xã hội theo thời gian thực, phát hiện sớm các nguy cơ, đánh giá hiệu quả chính sách và kịp thời điều chỉnh giải pháp.

3. Kết luận

Trên cơ sở phân tích những yêu cầu đặt ra đối với quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số, bài viết đề xuất 4 định hướng chính sách và 4 giải pháp từ hoàn thiện thể chế số, phát triển hạ tầng dữ liệu và hệ sinh thái số, nâng cao năng lực quản trị số của các chủ thể và đổi mới phương thức quản trị dựa trên dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và bằng chứng.

Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045, Việt Nam cần đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị thông minh, thích ứng và dựa trên dữ liệu đồng thời bảo đảm hài hòa giữa đổi mới sáng tạo với công bằng xã hội, giữa phát triển kinh tế với phát triển con người, phát triển bền vững và bảo đảm các giá trị nhân văn. Đây là điều kiện quan trọng để quản trị phát triển xã hội trên nền tảng số bảo đảm tính bao trùm, công bằng, bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

_________________

Ngày nhận bài: 30/7/2026; Ngày bình duyệt: 19/8/2026; Ngày quyết định đăng: 21/8/2026.

Email tác giả: maih@apag.edu.vn

(*) Trung tâm Dữ liệu quốc gia đóng vai trò trung tâm trong hệ sinh thái số quốc gia theo định hướng phát triển hạ tầng dữ liệu dùng chung