Quan điểm mới về văn hóa trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5178
Tóm tắt: Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định văn hóa là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, trụ cột và là hệ điều tiết cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước. Bài viết làm rõ những quan điểm mới của Đảng về văn hóa trong kỷ nguyên phát triển mới.
TS VŨ THÁI DŨNG
Viện Lịch sử Đảng,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Trong hệ thống quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, văn hóa luôn được đặt ở vị trí đặc biệt. Từ quan điểm văn hóa là một trong ba mặt trận được xác lập trong Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943, đến khẳng định văn hóa là một mặt trận trọng yếu trong kháng chiến toàn dân, toàn diện, “văn nghệ sĩ là chiến sĩ”, thực hiện khẩu hiệu “Văn hóa hóa kháng chiến”. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển. Tư duy của Đảng về văn hóa không ngừng phát triển.
Tuy nhiên, những biến đổi nhanh chóng của môi trường phát triển đang đặt ra những vấn đề mới đối với nhận thức và phương thức phát triển văn hóa. Sự phát triển của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số làm biến đổi phương thức sáng tạo, lưu giữ, phổ biến và tiếp nhận các giá trị văn hóa. Các nền tảng xuyên biên giới mở rộng không gian giao lưu, đồng thời tạo ra những vấn đề mới về dữ liệu, an ninh và chủ quyền văn hóa số. Bên cạnh đó, chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí, cũng như yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa đang tạo ra những quan hệ mới giữa Nhà nước, thị trường, doanh nghiệp, cộng đồng và các chủ thể sáng tạo văn hóa. Điều này đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới phương thức quản lý, điều phối các quan hệ này theo hướng hài hòa lợi ích, phát huy nguồn lực xã hội và bảo đảm định hướng phát triển văn hóa bền vững.
Trong bối cảnh đó, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam có ý nghĩa quan trọng. Nghị quyết tiếp tục khẳng định những quan điểm của Đảng về văn hóa trong quá trình lãnh đạo cách mạng, nhất là trong thời kỳ đổi mới, đồng thời nhấn mạnh: “Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước” (Bộ Chính trị, 2026). Đặc biệt, trong Nghị quyết số 80-NQ/TW, việc bổ sung phạm trù văn hóa là “hệ điều tiết” cho phát triển nhanh và bền vững đất nước cho thấy quan điểm mới của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa trong bối cảnh mới.
2. Nội dung
2.1. Cùng với tiếp tục khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần, động lực, bổ sung vai trò hệ điều tiết của văn hóa
Quan điểm, nội dung trong Nghị quyết số 80-NQ/TW chứa đựng tính kế thừa và sự phát triển lý luận về văn hóa cũng như xác định mục tiêu và những nhiệm vụ lớn trong xây dựng, phát triển văn hóa trên cơ sở đánh giá khách quan thành tựu và hạn chế của sự nghiệp văn hóa những năm qua.
Đề cương về văn hóa Việt Nam (năm 1943) xác định văn hóa là một trong ba mặt trận của cách mạng, đặt văn hóa trong mối quan hệ với các nhiệm vụ chính trị và xã hội. Quan điểm “văn hóa là một mặt trận” khẳng định tính chất chiến đấu và vai trò của văn hóa đối với sự nghiệp cách mạng. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã ban hành các nghị quyết về văn hóa: Nghị quyết số 05-NQ/TW (năm 1987), Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) năm 1998, Nghị quyết số 33 (khóa XI) năm 2014. Các nghị quyết của Đảng xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển.
Tiếp đó, tại Đại hội XIII của Đảng, vị trí của văn hóa tiếp tục được nâng cao khi văn hóa được đặt trong quan hệ với kinh tế, chính trị, xã hội; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu “tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với gìn giữ, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới” (ĐCSVN, 2021, tr.143).
Đại hội XIV đánh dấu bước mở đầu đưa đất nước vào kỷ nguyên phát triển mới. Đại hội khẳng định: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam” (ĐCSVN, 2026, tr.97).
Cụ thể hóa tinh thần Đại hội XIV, trong Nghị quyết số 80-NQ/TW, quan điểm của Đảng về văn hóa tiếp tục có bước phát triển mới, từ việc xác định văn hóa là “nền tảng tinh thần” của xã hội đến nhấn mạnh văn hóa và con người phải trở thành nền tảng vững chắc của quá trình phát triển. Tinh thần này được thể hiện nhất quán qua các quan điểm về “văn hóa, con người là nền tảng”, yêu cầu “phát triển văn hóa phải thực sự trở thành nền tảng vững chắc”.
Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt yêu cầu về vai trò của văn hóa ở tầm sâu rộng và chiến lược hơn, vượt khỏi phạm vi điều chỉnh các quan hệ xã hội để hướng tới sự hiện diện xuyên suốt trong toàn bộ quá trình phát triển đất nước. Theo đó, văn hóa phải được tích hợp vào các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, qua đó phát huy đồng thời vai trò của văn hóa như một nguồn sức mạnh nội sinh và một thành tố quan trọng của sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Nghị quyết không chỉ xác lập yêu cầu về phạm vi tác động của văn hóa, mà còn nhấn mạnh nguyên tắc tích hợp văn hóa ngay từ khâu hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách. Văn hóa phải được lồng ghép trong mọi quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án với tầm nhìn dài hạn, tiêu chuẩn phù hợp và bảo đảm tính đồng bộ, tương hỗ với các chính sách phát triển kinh tế, giáo dục, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Cách tiếp cận này cho thấy bước chuyển quan trọng từ nhận thức văn hóa như một lĩnh vực tương đối độc lập sang coi văn hóa là một chiều cạnh xuyên suốt, có khả năng định hướng và nâng cao chất lượng của toàn bộ tiến trình phát triển quốc gia.
Bên cạnh việc kế thừa quan điểm trong các nghị quyết trước đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW bổ sung phạm trù mới khi xác định văn hóa là “hệ điều tiết” cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Chức năng điều tiết của văn hóa được thể hiện trên cả phương diện vĩ mô của đời sống quốc gia và phương diện vi mô trong nhận thức, hành vi của mỗi cá nhân và cộng đồng.
UNESCO nhấn mạnh rằng, phát triển cần đặt văn hóa ở vị trí trung tâm, đồng thời phát huy vai trò của văn hóa trong điều chỉnh và định hướng đời sống xã hội. Từ góc độ này, văn hóa không chỉ góp phần tạo dựng hệ giá trị chung, mà còn chuyển hóa các định hướng chính trị, chủ trương và chính sách thành nhận thức, niềm tin và hành vi xã hội. Một chủ trương, chính sách dù đúng đắn cũng khó tạo được sức mạnh xã hội nếu không được chuyển hóa thành những giá trị được xã hội chia sẻ và được thể hiện trong đời sống thực tiễn. Vì vậy, sức mạnh của văn hóa nằm ở khả năng tạo đồng thuận về giá trị, củng cố niềm tin, định hướng hành vi và điều chỉnh các quan hệ xã hội, qua đó góp phần biến những định hướng phát triển của quốc gia thành động lực tinh thần và sức mạnh hành động của con người.
2.2. Vai trò “điều tiết” của văn hóa
Con người là chủ thể sáng tạo, trao truyền và làm phong phú các giá trị văn hóa, đồng thời chính những giá trị và chuẩn mực ấy lại tác động trở lại, định hình nhân cách, điều chỉnh nhận thức, thái độ và hành vi của con người. Thông qua quá trình nội tâm hóa các giá trị văn hóa, cá nhân hình thành khả năng tự điều chỉnh cách ứng xử đối với bản thân, cộng đồng, xã hội và môi trường tự nhiên. Vì vậy, chức năng điều tiết có thể được xem là một phương diện sức mạnh đặc thù của văn hóa.
“Hệ điều tiết” của văn hóa có thể được hiểu là tổng thể các giá trị, chuẩn mực, biểu tượng, thiết chế và phương thức ứng xử mà thông qua đó văn hóa định hướng nhận thức, điều chỉnh hành vi, kiến tạo đồng thuận và cân bằng các quan hệ trong quá trình phát triển xã hội. Nếu “nền tảng” trả lời câu hỏi văn hóa tạo nên cơ sở giá trị nào cho phát triển, “nguồn lực” nhấn mạnh văn hóa có thể được huy động và chuyển hóa thành sức mạnh như thế nào, thì “hệ điều tiết” làm rõ văn hóa tác động ra sao để định hướng cách thức con người và xã hội vận hành, lựa chọn và ứng xử trong quá trình phát triển. Theo đó:
Thứ nhất, văn hóa thực hiện chức năng điều tiết nhận thức và định hướng giá trị. Các giá trị, chuẩn mực và hệ tư tưởng được xã hội thừa nhận tạo ra những tiêu chí để con người phân biệt đúng - sai, tốt - xấu, từ đó hình thành cách nhìn nhận và lựa chọn hành động. Ở phương diện này, văn hóa góp phần tạo ra “la bàn giá trị” cho sự phát triển, bảo đảm rằng tăng trưởng kinh tế, tiến bộ khoa học, công nghệ và hiện đại hóa không tách rời những chuẩn mực về con người, cộng đồng và lợi ích chung.
Thứ hai, văn hóa có chức năng điều chỉnh hành vi của các chủ thể. Khi các giá trị văn hóa được nội tâm hóa, chúng trở thành những chuẩn mực định hướng hành vi ngay cả khi không có sự cưỡng chế trực tiếp của pháp luật. Vì thế, văn hóa tạo ra cơ chế tự điều chỉnh của cá nhân và cộng đồng, bổ sung cho cơ chế điều chỉnh bằng pháp luật và các thiết chế chính thức. Đây là phương diện đặc biệt quan trọng của “hệ điều tiết”. Bởi, một xã hội phát triển không thể chỉ dựa vào sự kiểm soát từ bên ngoài mà còn cần năng lực tự kiểm soát, tự giác tuân thủ chuẩn mực và trách nhiệm của các chủ thể.
Thứ ba, văn hóa thực hiện chức năng điều hòa và kiến tạo đồng thuận xã hội. Trong một xã hội ngày càng đa dạng về lợi ích, lối sống, nhu cầu và phương thức tiếp cận nguồn lực, những khác biệt và xung đột là khó tránh khỏi. Các giá trị chung, biểu tượng chung và chuẩn mực ứng xử chung do văn hóa tạo lập có khả năng kết nối các nhóm xã hội, thúc đẩy đối thoại, hạn chế cực đoan và tạo cơ sở tinh thần cho việc dung hòa các lợi ích khác biệt. Theo nghĩa này, văn hóa không loại bỏ sự khác biệt mà góp phần tạo ra khuôn khổ giá trị để các khác biệt được xử lý trong trật tự, đồng thuận và hướng tới lợi ích chung.
Thứ tư, văn hóa có chức năng điều tiết phương thức và chất lượng của quá trình phát triển. Đây là tầng nội hàm có ý nghĩa chiến lược. Văn hóa không chỉ tác động đến con người với tư cách chủ thể của phát triển, mà còn tham gia định hình mô hình phát triển, cách thức sử dụng nguồn lực và quan hệ giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường. Với một nền văn hóa đề cao trách nhiệm, liêm chính, sáng tạo, nhân văn và phát triển bền vững sẽ tạo ra những giới hạn giá trị đối với việc theo đuổi tăng trưởng bằng mọi giá, đồng thời thúc đẩy sự cân bằng giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng, giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người.
Từ những phương diện trên, có thể khái quát rằng “hệ điều tiết” là một thuộc tính và phương thức tác động đặc thù của văn hóa, trong đó văn hóa sử dụng hệ giá trị, chuẩn mực, biểu tượng và các thiết chế văn hóa để định hướng nhận thức, điều chỉnh hành vi, điều hòa quan hệ xã hội, kiến tạo đồng thuận và định hình phương thức phát triển. Khác với điều tiết bằng quyền lực hành chính hay cưỡng chế pháp lý, điều tiết bằng văn hóa chủ yếu tác động thông qua quá trình thuyết phục, thẩm thấu, nội tâm hóa và tự điều chỉnh nhằm chuyển hóa các giá trị tốt đẹp thành ý thức tự giác và lối sống chung của cộng đồng và hành động tự giác của các chủ thể xã hội.
Trong Nghị quyết số 80-NQ/TW, việc nhận diện văn hóa là “hệ điều tiết” mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển đất nước. Điều này cho thấy quan điểm của Đảng về văn hóa đang chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu coi văn hóa là một “lĩnh vực” của đời sống xã hội sang cách tiếp cận xác định văn hóa đóng vai trò là một “hệ điều tiết” phát triển đất nước. Văn hóa trực tiếp tham gia định hình hệ giá trị, chuẩn mực đạo đức, tư duy và hành vi của con người, từ đó điều chỉnh và nâng cao chất lượng vận hành của toàn bộ hệ thống phát triển kinh tế - xã hội. Đây chính là cơ sở để lý giải sâu hơn tại sao văn hóa có thể đồng thời là nền tảng, nguồn lực, động lực và sức mạnh nội sinh trong xây dựng và phát triển đất nước.
2.3. Nhận thức mới về các mối quan hệ nội tại của văn hóa
Một điểm mới có giá trị phương pháp luận của Nghị quyết số 80-NQ/TW là “nhận thức và xử lý hài hòa, hiệu quả các mối quan hệ nội tại của văn hóa: Giữa “xây” và “chống”; truyền thống và hiện đại; dân tộc và quốc tế; bảo tồn và phát triển; đại chúng và bác học; đời sống thực và không gian số; dữ liệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hóa số” (Bộ Chính trị, 2026). Nếu nhìn riêng lẻ, đây là những cặp quan hệ thuộc các phương diện khác nhau của đời sống văn hóa. Tuy nhiên, đặt trong tổng thể, có thể thấy một logic thống nhất, đó là phát triển văn hóa không phải là lựa chọn một phía, mà là tổ chức và điều tiết các quan hệ giữa những mặt có tính độc lập tương đối nhưng đồng thời ràng buộc và tác động qua lại với nhau.
Thứ nhất, giữa xây dựng và đấu tranh chống các biểu hiện lệch chuẩn
Quan hệ giữa “xây” và “chống” phản ánh yêu cầu kết hợp giữa chủ động xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, hệ giá trị và chuẩn mực xã hội với chủ động đấu tranh, ngăn chặn những biểu hiện phản văn hóa, lệch chuẩn. Xây dựng phải là nền tảng, nhưng xây không tách rời chống; chống phải hướng tới củng cố cái đúng, cái tốt, cái đẹp, chứ không thể chỉ dừng lại ở việc xử lý những biểu hiện tiêu cực. Quan hệ “xây” và “chống” thể hiện rõ yêu cầu kết hợp giữa chủ động kiến tạo môi trường văn hóa lành mạnh với đấu tranh, ngăn chặn những biểu hiện phản văn hóa, lệch chuẩn.
Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh: “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về văn hóa thường xuyên, liên tục, hiệu quả, trong đó báo chí, xuất bản đóng vai trò nòng cốt. Đa dạng hóa các phương thức truyền thông, chú trọng các hình thức truyền thông hiện đại, đặc biệt là truyền thông số. Tạo dựng và định hướng môi trường văn hóa, thông tin, thị hiếu lành mạnh; đẩy mạnh giáo dục các hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; phát hiện và nhân rộng các gương người tốt, việc tốt” (Bộ Chính trị, 2026). Đồng thời, “lấy xây dựng nhân cách con người làm trọng tâm để định hướng hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học vào mục tiêu xây dựng con người phát triển toàn diện về đức - trí - thể - mỹ; giúp con người nâng cao trí tuệ, tự hoàn thiện nhân cách, hình thành thế giới quan khoa học, hướng tới các giá trị chân - thiện - mỹ” (Bộ Chính trị, 2026).
Thứ hai, giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế
Quan hệ giữa truyền thống và hiện đại đặt ra yêu cầu kế thừa có chọn lọc các giá trị văn hóa được hình thành trong lịch sử, đồng thời tiếp thu những thành tựu và giá trị tiến bộ của thời đại. Bảo tồn truyền thống không đồng nghĩa với bảo thủ, khép kín; hiện đại hóa cũng không đồng nghĩa với phủ nhận hoặc làm đứt gãy bản sắc. Từ góc độ đó, phát triển văn hóa phải tạo ra sự tiếp nối giữa các giá trị lịch sử với những yêu cầu mới của đời sống xã hội. Quan hệ giữa dân tộc và quốc tế cũng cần được nhận thức trong tính thống nhất giữa giữ vững bản sắc và chủ động hội nhập. Trong bối cảnh giao lưu văn hóa xuyên biên giới ngày càng mạnh mẽ, bản sắc dân tộc vừa là nền tảng để tiếp nhận có chọn lọc các giá trị bên ngoài, vừa là nguồn lực tạo nên sức hấp dẫn và sức mạnh mềm của quốc gia. Quá trình mở cửa, giao lưu và tiếp thu tinh hoa nhân loại phải trên nền tảng độc lập, tự chủ, biết chọn lọc, tiếp thu cái hay, cái đẹp để làm giàu văn hóa dân tộc. Đồng thời, việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc không có nghĩa là bảo thủ, khép kín, bài xích cái mới mà cần linh hoạt thích ứng với thời đại toàn cầu hóa. “Kết hợp nhuần nhuyễn giữa giá trị truyền thống với giá trị hiện đại, dân tộc với quốc tế, góp phần quan trọng phát triển toàn diện con người, đạo đức xã hội và phẩm cách quốc gia trong kỷ nguyên mới”; “Định vị và quảng bá thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế mang đậm bản sắc văn hóa, con người Việt Nam” (Bộ Chính trị, 2026).
Thứ ba, giữa bảo tồn và phát triển
Quan hệ giữa bảo tồn và phát triển cho thấy văn hóa vừa có giá trị tự thân, vừa có khả năng trở thành nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Bảo tồn phải gắn với phát huy giá trị, còn phát triển phải tôn trọng những giới hạn cần thiết để không làm tổn hại đến chính những giá trị văn hóa cần được giữ gìn. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với quá trình phát triển công nghiệp văn hóa và khai thác các nguồn lực văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường. Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định: “Nhận diện đầy đủ và khai thác hiệu quả tài nguyên văn hóa; lấy di sản văn hóa là trung tâm và tài nguyên văn hoá số là thế mạnh, hướng đến việc bảo tồn, phát huy, phát triển bền vững các giá trị văn hóa... Đầu tư bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di sản văn hóa lồng ghép vào mục tiêu phát triển bền vững về môi trường, văn hóa, kinh tế, xã hội gắn với sinh kế cộng đồng, hình thành một số đô thị di sản, phát triển kinh tế di sản, góp phần hoàn thiện hệ sinh thái văn hóa” (Bộ Chính trị, 2026).
Thứ tư, không gian số - từ đời sống thực đến chủ quyền văn hóa số
Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định mối quan hệ giữa “dữ liệu mở” và “an ninh, chủ quyền văn hóa số” (Bộ Chính trị, 2026) cho thấy nhận thức của Đảng đã trực tiếp tiếp cận những vấn đề mới của không gian số. Trong môi trường này, dữ liệu trở thành nguồn lực quan trọng cho sáng tạo và lan tỏa văn hóa, đồng thời đặt ra yêu cầu bảo vệ an toàn thông tin và chủ quyền văn hóa. Vì vậy, “dữ liệu mở” và “an ninh, chủ quyền văn hóa số” không đối lập nhau, mà được xử lý thống nhất: mở để phát triển, nhưng phải đi đôi với bảo đảm an ninh và các giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc. Ở phương diện phương pháp luận, việc đặt hai yêu cầu này trong cùng một mối quan hệ cho thấy tư duy của Đảng về văn hóa đang chuyển từ cách nhìn theo từng lĩnh vực sang cách nhìn theo các quan hệ và tương tác trong một hệ sinh thái văn hóa mới. Trong hệ sinh thái đó, công nghệ vừa mở rộng sáng tạo và lan tỏa văn hóa, vừa đặt ra rủi ro về dữ liệu, an ninh và chủ quyền. Vì vậy, quản trị văn hóa không chỉ là kiểm soát nội dung, mà còn phải tạo môi trường cho sáng tạo, đồng thời bảo đảm an ninh và các giá trị nền tảng. Đây là biểu hiện của “hệ điều tiết” văn hóa, đó là vừa thúc đẩy phát triển, vừa xác lập giới hạn và chuẩn mực.
Trong môi trường số, văn hóa không còn giới hạn bởi không gian địa lý và các thiết chế truyền thống. Các giá trị, sản phẩm và nội dung văn hóa có thể được tạo lập, lưu trữ, chia sẻ và lan truyền với tốc độ rất nhanh. Vì vậy, yêu cầu quản trị văn hóa cũng phải thay đổi tương ứng. Nghị quyết yêu cầu “tổ chức bộ máy quản trị văn hóa tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả” (Bộ Chính trị, 2026), đồng thời chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với minh bạch hóa quy trình, tiêu chuẩn, cho thấy yêu cầu chuyển từ phương thức quản lý văn hóa chủ yếu dựa vào tiền kiểm sang phương thức quản trị linh hoạt hơn, kết hợp hậu kiểm, minh bạch hóa quy trình, tiêu chuẩn với bảo đảm an ninh và chủ quyền văn hóa trong môi trường số.
Như vậy, việc nhận diện các cặp quan hệ nội tại của văn hóa không chỉ nhằm mô tả các vấn đề cần giải quyết mà còn cung cấp một phương pháp tiếp cận. Đó là yêu cầu tránh tuyệt đối hóa một mặt, không xử lý các vấn đề văn hóa theo tư duy đơn tuyến, đồng thời đặt từng vấn đề trong chỉnh thể các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội, công nghệ và văn hóa. Đây cũng là cơ sở phương pháp luận để cụ thể hóa vai trò “hệ điều tiết” của văn hóa trong thực tiễn.
2.4. Phát triển văn hóa trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số
Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định yêu cầu “phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hóa” (Bộ Chính trị, 2026), đồng thời chủ trương xây dựng cơ chế, chính sách đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, phát triển hạ tầng số, tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ thực tế ảo trong sản xuất, phân phối, tiêu dùng và quản trị văn hóa (Bộ Chính trị, 2026).
Cách đặt vấn đề này cho thấy sự gắn kết ngày càng chặt chẽ giữa phát triển văn hóa với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Văn hóa phải được đặt trong tổng thể các động lực phát triển đất nước. Đồng thời, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số cũng không chỉ được nhìn nhận như công cụ kỹ thuật phục vụ quản lý, mà trở thành không gian và phương thức mới để sáng tạo, lưu giữ, phổ biến, khai thác và phát huy các giá trị văn hóa. Điều đó đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy quản trị văn hóa. Khi các sản phẩm và giá trị văn hóa được tạo ra, phân phối và tiếp nhận trong môi trường số, phương thức quản lý truyền thống cần được điều chỉnh để thích ứng với tốc độ biến đổi của công nghệ và hành vi xã hội. Việc tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ thực tế ảo, nếu được thực hiện phù hợp, có thể mở rộng đáng kể khả năng sáng tạo, bảo tồn, số hóa và quảng bá các giá trị văn hóa. Tuy nhiên, đi cùng với đó là yêu cầu nâng cao năng lực quản trị dữ liệu, bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hóa số và kiểm soát những tác động tiêu cực có thể phát sinh.
Nghị quyết khẳng định: “Tăng đầu tư công cho văn hóa theo hướng trọng tâm, trọng điểm và thu hút đầu tư xã hội; ưu tiên lĩnh vực văn hóa cơ sở, di sản văn hóa, đổi mới sáng tạo, đào tạo, công nghiệp văn hóa, nhất là công nghệ số trong phát triển công nghiệp văn hóa” (Bộ Chính trị, 2026). Đây là hướng tiếp cận nhằm mở rộng nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa, giảm sự phụ thuộc quá lớn vào ngân sách nhà nước và tạo điều kiện để các chủ thể xã hội tham gia sâu hơn vào quá trình sáng tạo, đầu tư và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ văn hóa. Nghị quyết đồng thời cảnh báo nguy cơ “thương mại hóa”, chỉ coi trọng, đề cao một chiều lợi ích kinh tế trong hoạt động văn hóa, coi nhẹ lợi ích xã hội, nhân văn” (Bộ Chính trị, 2026). Điều này cho thấy, xã hội hóa nguồn lực không đồng nghĩa với thương mại hóa văn hóa, càng không đồng nghĩa với việc buông lỏng vai trò định hướng của Nhà nước. Ngược lại, càng có nhiều chủ thể tham gia và càng đa dạng hóa nguồn lực thì càng cần hoàn thiện cơ chế quản trị, tiêu chuẩn và công cụ điều tiết để bảo đảm hài hòa giữa lợi ích kinh tế với lợi ích xã hội, nhân văn.
Ở đây, vấn đề đặt ra không phải là lựa chọn giữa giá trị văn hóa và giá trị kinh tế, mà là xác lập phương thức để hai phương diện này cùng được phát huy trong một chỉnh thể phát triển. Văn hóa góp phần hình thành nhân cách, hệ giá trị và sự gắn kết xã hội; đồng thời, các giá trị, di sản, tri thức và năng lực sáng tạo văn hóa có thể được chuyển hóa thành nguồn lực kinh tế thông qua công nghiệp văn hóa và các hoạt động sáng tạo. Tuy nhiên, khi giá trị văn hóa bị quy giản thành hàng hóa và lợi ích kinh tế trở thành tiêu chí chi phối duy nhất, những giá trị nhân văn, xã hội và bản sắc có thể bị tổn hại. Vì vậy, “hệ điều tiết” chính là phương diện thể hiện khả năng của văn hóa trong việc định hướng, cân bằng và xác lập giới hạn đối với quá trình khai thác giá trị kinh tế của văn hóa, bảo đảm phát triển kinh tế không tách rời mục tiêu phát triển con người và tiến bộ xã hội.
2.5. Việc xác lập văn hóa là “hệ điều tiết” phát triển nhanh và bền vững đất nước đặt ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết trong quá trình tổ chức thực hiện
Thứ nhất, cần tiếp tục thể chế hóa vai trò “hệ điều tiết” của văn hóa bằng hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế quản trị đồng bộ, trong đó xác định rõ các nguyên tắc, tiêu chí và giới hạn đối với những hoạt động có tác động trực tiếp đến giá trị văn hóa. Thể chế hóa không chỉ dừng ở việc hoàn thiện các quy định quản lý nhà nước về văn hóa, mà cần tạo lập cơ chế để các giá trị, chuẩn mực văn hóa được tích hợp vào quá trình hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời xây dựng các công cụ đánh giá, giám sát và điều chỉnh để vai trò “hệ điều tiết” được vận hành thực chất trong thực tiễn.
Thứ hai, thách thức trong việc xử lý hài hòa giữa mở rộng không gian sáng tạo, khuyến khích doanh nghiệp, khu vực tư nhân tham gia phát triển công nghiệp văn hóa với việc giữ vững định hướng chính trị, tư tưởng và ngăn chặn khuynh hướng thương mại hóa văn hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, công nghiệp văn hóa phát triển mạnh thường đi liền với nguy cơ thương mại hóa các giá trị văn hóa, do đó vai trò “hệ điều tiết” của văn hóa cần được cụ thể hóa bằng những tiêu chí, bộ chỉ số rõ ràng để ngăn chặn tình trạng thương mại hóa cực đoan và lệch chuẩn giá trị.
Thứ ba, yêu cầu về năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghị quyết đặt ra yêu cầu “cho phép đào tạo tích hợp phổ thông - nghệ thuật - công nghệ để hình thành đội ngũ nhân lực văn hóa - nghệ thuật - công nghệ chất lượng cao” (Bộ Chính trị, 2026). Đây là một mô hình đào tạo mới, đòi hỏi thời gian và nguồn lực đáng kể để hiện thực hóa, trong khi mục tiêu đến năm 2030 đã được xác định khá cụ thể. Đây là khoảng cách giữa nhận thức lý luận đi trước và năng lực thực thi cần tiếp tục được thu hẹp trong thời gian tới.
3. Kết luận
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa đối với phát triển đất nước. Việc xác định văn hóa là “nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết” không chỉ bổ sung một phạm trù mới, mà còn làm rõ hơn phương thức văn hóa tham gia định hướng, điều chỉnh và nâng cao chất lượng quá trình phát triển. Điều đó đòi hỏi tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa “hệ điều tiết” thành các cơ chế, chính sách và phương thức quản trị phù hợp với thực tiễn.
Nhấn mạnh vai trò định hướng, dẫn dắt của văn hóa đối với quá trình phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: “trong bối cảnh mới, văn hóa không chỉ soi đường cho mỗi con người, mà còn định hướng con đường phát triển của cả dân tộc. Hơn một nghìn năm Bắc thuộc là hơn một nghìn năm phải đối mặt với nguy cơ đồng hóa về văn hóa. Nhưng dân tộc Việt Nam vẫn giữ được tiếng nói, chữ viết, phong tục, tín ngưỡng, đạo lý và ý chí độc lập. Chính sức sống bền bỉ của văn hóa đã gìn giữ sức sống của dân tộc” (Báo Điện tử Chính phủ, 2026). Quan điểm đó gợi mở rõ hơn nội hàm của “hệ điều tiết”: văn hóa không chỉ tạo lập nền tảng giá trị, mà còn có khả năng soi đường, dẫn dắt và định hướng quá trình phát triển theo những mục tiêu, chuẩn mực và giá trị. Việc tiếp tục nghiên cứu, cụ thể hóa và kiểm nghiệm phạm trù này trong thực tiễn sẽ góp phần đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW thực sự đi vào cuộc sống, đồng thời tiếp tục làm phong phú tư duy lý luận của Đảng về văn hóa trong kỷ nguyên phát triển mới.
_________________
Ngày nhận bài: 12/8/2025; Ngày bình duyệt: 20/8/2026; Ngày duyệt đăng: 25/8/2026
Email tác giả: vuthaidung.hcma@gmail.com
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ban Chấp hành Trung ương (16/7/1998). Nghị quyết số 03-NQ/TW về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Bộ Chính trị (07/01/2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam.
Báo Điện tử Chính phủ (13/7/2026). Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam. https://baochinhphu.vn/toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tai-phien-hop-thu-hai-ban-chi-dao-trung-uong-ve-phat-trien-van-hoa-viet-nam-102260713135324221.htm.
ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật