Thực tiễn

Tỉnh ủy Khánh Hòa đổi mới tư duy lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu giai đoạn mới

27/08/2026 14:03

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5182
Tóm tắt: Trong bối cảnh hợp nhất đơn vị hành chính cấp tỉnh và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Khánh Hòa có không gian mới, tiềm năng và động lực phát triển, đồng thời cũng đối diện trước nhiều vấn đề xã hội mới. Điều đó đòi hỏi Tỉnh ủy phải tiếp tục đổi mới tư duy lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội theo hướng toàn diện, đồng bộ, sát thực tiễn và lấy chất lượng cuộc sống của nhân dân làm trung tâm, qua đó bảo đảm mọi người dân được thụ hưởng thành quả phát triển, góp phần xây dựng tỉnh Khánh Hòa phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.

ThS LƯU HỒNG VÂN
Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa

btgdvtukhanhhoa.vn-media-articles-161225104849-_fb_img_1765900356729.jpg
Ban Thường vụ Tỉnh ủy tổ chức hội nghị để xem xét, cho ý kiến đối với nhiều nội dung quan trọng liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội và công tác xây dựng Đảng của tỉnh_Ảnh: Báo Khánh Hòa

1. Mở đầu

Trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ngày càng cao. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát huy nhân tố con người; xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện, tiến bộ và bao trùm (ĐCSVN, 2021). Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực và mục tiêu của sự phát triển; nâng cao toàn diện đời sống nhân dân là một yêu cầu quan trọng của phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Điều đó đặt ra yêu cầu các cấp ủy đảng phải đổi mới tư duy lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội theo hướng chủ động kiến tạo cơ hội phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng nền tảng xã hội vững chắc cho phát triển bền vững.

Sau hợp nhất tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận lấy tên tỉnh Khánh Hòa và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, không gian phát triển, quy mô dân số và yêu cầu quản trị xã hội có nhiều thay đổi. Những điều kiện mới mở ra tiềm năng, động lực phát triển, đồng thời làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội cần được giải quyết kịp thời, hiệu quả. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu đổi mới tư duy lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với thực hiện chính sách xã hội có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đây không chỉ là yêu cầu nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách an sinh mà còn góp phần chuyển mạnh từ hỗ trợ, khắc phục hệ quả sang kiến tạo cơ hội phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân và tạo nền tảng cho Khánh Hòa phát triển nhanh, bền vững.

2. Nội dung

2.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Khánh Hòa và yêu cầu đặt ra đối với việc thực hiện chính sách xã hội

Sau hợp nhất tỉnh Khánh Hòa mới có diện tích 8.555,86 km², dân số 2.243.554 người và 65 đơn vị hành chính cấp xã (Quốc hội, 2025). Quy mô địa bàn và dân số lớn hơn làm cho đối tượng chính sách ngày càng đa dạng, đặt ra yêu cầu vừa thống nhất chính sách, dữ liệu và cách tổ chức thực hiện trong toàn tỉnh, vừa phù hợp với đặc điểm từng khu vực.

Khánh Hòa có lợi thế nổi bật về kinh tế biển, du lịch, công nghiệp, năng lượng, cảng biển và logistics. Các vùng phát triển có thế mạnh khác nhau nhưng có thể bổ sung cho nhau: phía Bắc là Khu kinh tế Vân Phong; khu vực trung tâm là đô thị du lịch biển Nha Trang; Cam Ranh - Cam Lâm gắn với cảng hàng không, cảng biển và đô thị; khu vực phía Nam có tiềm năng về năng lượng, công nghiệp, nông nghiệp đặc thù và du lịch sinh thái. Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I xác định mục tiêu đến năm 2030 xây dựng Khánh Hòa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, là một cực tăng trưởng cao của cả nước; tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt 11-12%/năm, tỷ lệ đô thị hóa khoảng 70% (Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa, 2025).

Những mục tiêu phát triển trên tạo điều kiện mở rộng nguồn lực cho chính sách xã hội, tạo thêm việc làm và nâng cao thu nhập. Tuy nhiên, việc triển khai các dự án công nghiệp, đô thị, du lịch và hạ tầng cũng đặt ra vấn đề mới về chuyển nghề, tái định cư và phục hồi sinh kế cho người dân bị tác động. Trong khi các ngành kinh tế mới đòi hỏi lao động có kỹ năng, một bộ phận lao động nông thôn, lao động lớn tuổi hoặc người bị thu hồi đất gặp khó khăn trong chuyển đổi nghề nghiệp. Vì vậy, bồi thường và hỗ trợ cần gắn với đào tạo nghề, việc làm, thu nhập và ổn định cuộc sống lâu dài.

Điều kiện phát triển và khả năng tiếp cận dịch vụ giữa các vùng còn chênh lệch. Miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và một số địa bàn xa trung tâm còn khó khăn về hạ tầng, việc làm, giáo dục và y tế. Cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 0,92%; trong đó tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số là 6,20% (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026). Đặt ra yêu cầu, xác định mục tiêu và phân bổ nguồn lực sát với từng vùng, từng nhóm dân cư, nhất là nơi có nguy cơ tái nghèo cao và thiếu hụt dịch vụ cơ bản.

Bên cạnh đó, tác động của biến đổi khí hậu thời tiết cực đoan, như khô hạn, thiếu nước và thiên tai, đặt ra yêu cầu bảo đảm sinh kế, dịch vụ thiết yếu và trợ giúp kịp thời cho người dân ở vùng ven biển, hải đảo, miền núi.

Từ những đặc điểm trên, chính sách xã hội ở Khánh Hòa phải giải quyết đồng thời ba yêu cầu: Thống nhất trong toàn tỉnh nhưng phù hợp với từng địa bàn; mở rộng bao phủ đi đôi với nâng cao chất lượng; hỗ trợ kịp thời gắn với nâng cao khả năng tự bảo đảm cuộc sống của người dân.

2.2. Kết quả Tỉnh ủy Khánh Hòa đổi mới tư duy lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội

Thứ nhất, lãnh đạo nâng cao chất lượng sống của nhân dân

Một trong những chuyển biến nổi bật trong tư duy lãnh đạo của Tỉnh ủy Khánh Hòa là từng bước chuyển từ cách tiếp cận chính sách xã hội chủ yếu nhằm bảo đảm an sinh sang hướng tới nâng cao toàn diện chất lượng sống của nhân dân. Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 xác định mục tiêu đến năm 2030, Khánh Hòa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, một cực tăng trưởng cao của cả nước, có hệ thống đô thị hiện đại, thông minh, bền vững; “Nhân dân được hưởng thụ mức sống cao, hiền hòa và hạnh phúc” (Tỉnh ủy Khánh Hòa, 2025). Việc đưa mức sống và hạnh phúc của nhân dân vào mục tiêu phát triển cho thấy chính sách xã hội đã được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển địa phương, gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển con người và tiến bộ xã hội.

Sự chuyển biến này được thể hiện qua việc mở rộng phạm vi và nâng cao mức độ bảo đảm các chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo và các nhóm yếu thế. Toàn tỉnh hiện quản lý hơn 95.000 hồ sơ người có công với cách mạng, trong đó có 8.376 người hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng; năm 2025, khoảng 3.000 người có công và thân nhân liệt sĩ được điều dưỡng, phục hồi sức khỏe. Tỉnh cũng thực hiện trợ cấp xã hội thường xuyên cho 92.674 đối tượng; 22 cơ sở trợ giúp xã hội đang quản lý, chăm sóc 1.185 người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Khánh Hòa, 2026). Nội dung chính sách xã hội không chỉ hướng đến bảo đảm mức sống tối thiểu mà còn chú trọng chăm sóc sức khỏe, cải thiện điều kiện sống và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội.

Trong giáo dục và y tế, tư duy nâng cao chất lượng sống được thể hiện qua việc duy trì mạng lưới cung cấp dịch vụ rộng khắp, đồng thời ưu tiên những địa bàn và nhóm dân cư còn nhiều khó khăn. Sau hợp nhất, toàn tỉnh có hơn 780 cơ sở giáo dục, phục vụ khoảng 440.000-450.000 học sinh; các chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ học sinh vùng khó khăn và chuyển đổi số trong giáo dục tiếp tục được triển khai. Mạng lưới hơn 30 bệnh viện, trung tâm y tế cùng hệ thống y tế cơ sở được duy trì; tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế khoảng 95%, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế trong đồng bào dân tộc thiểu số đạt gần 100% (UBND tỉnh Khánh Hòa, 2024). Qua đó, mục tiêu nâng cao chất lượng sống từng bước được cụ thể hóa bằng khả năng tiếp cận giáo dục, chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân.

Thứ hai, lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội theo hướng tạo cơ hội phát triển bền vững

Một điểm mới quan trọng trong tư duy lãnh đạo của Tỉnh ủy là từng bước chuyển từ hỗ trợ trực tiếp sang tạo điều kiện để người dân có việc làm, thu nhập và khả năng tự bảo đảm cuộc sống. Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2025-2030 đã ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TU về tăng trưởng kinh tế hai con số. Nghị quyết không chỉ đặt mục tiêu tăng trưởng cao mà còn xác định yêu cầu gắn phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng sống của nhân dân. Theo đó, tăng trưởng được xác định là tạo tiền đề, điều kiện để mở rộng nguồn lực cho an sinh xã hội, giáo dục, y tế và văn hóa, đồng thời tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân. Tư duy này được thể hiện rõ trong lãnh đạo thực hiện chính sách giảm nghèo. Thay vì chỉ trợ giúp để bù đắp thiếu hụt trước mắt, tỉnh ngày càng chú trọng kết hợp hỗ trợ nhà ở, đất ở với đào tạo nghề, tín dụng ưu đãi, tạo việc làm và phát triển sinh kế.

Trên tinh thần đổi mới tư duy, tại Khánh Hòa trước hợp nhất, số hộ nghèo giảm từ 12.874 hộ, chiếm 3,86%, vào cuối năm 2021 xuống còn 4.348 hộ, chiếm 1,26%, vào cuối năm 2024 (Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa, 2025). Sau hợp nhất, kết quả rà soát cuối năm 2025 cho thấy toàn tỉnh còn 5.169 hộ nghèo, chiếm 0,92% (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026).

Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát cũng thể hiện sự chuyển đổi từ trợ giúp đơn lẻ sang huy động sự tham gia và phát huy trách nhiệm của nhiều chủ thể. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Mặt trận Tổ quốc đã phối hợp với chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang và nhân dân huy động hơn 120 tỷ đồng cùng hàng chục nghìn ngày công, vật liệu, hỗ trợ xóa 2.971 căn nhà tạm, nhà dột nát (Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Khánh Hòa, 2026). Việc kết hợp nguồn lực nhà nước, nguồn lực xã hội và sự tham gia của người dân không chỉ giải quyết nhu cầu nhà ở mà còn tạo điều kiện để các hộ ổn định cuộc sống và chủ động phát triển sinh kế.

Cùng với giảm nghèo, các chính sách đào tạo nghề, tín dụng ưu đãi và giải quyết việc làm được triển khai theo hướng gắn với nhu cầu của thị trường lao động và đặc điểm từng địa bàn. Hằng năm, tỉnh đào tạo nghề cho khoảng 15.000-18.000 lao động và giải quyết việc làm cho khoảng 28.000-32.000 người. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 92% dân số; tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội đạt khoảng 35-37% lực lượng lao động trong độ tuổi (UBND tỉnh Khánh Hòa, 2024). Những kết quả này cho thấy chính sách xã hội từng bước vượt khỏi chức năng phân phối lại thành quả tăng trưởng, tham gia trực tiếp vào phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và củng cố năng lực tự bảo đảm của người dân.

Thứ ba, lãnh đạo phân cấp, phân quyền trong thực hiện chính sách xã hội

Trong điều kiện vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp và đẩy mạnh chuyển đổi số, sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với thực hiện chính sách xã hội tiếp tục chuyển theo hướng phân cấp, phân quyền mạnh về cơ sở; chú trọng hoàn thiện dữ liệu và sự tham gia của xã hội. Việc ứng dụng cơ sở dữ liệu dân cư, số hóa hồ sơ người có công, đối tượng bảo trợ xã hội và triển khai chi trả chính sách không dùng tiền mặt đã góp phần rút ngắn quy trình, nâng cao tính công khai, minh bạch và hạn chế sai sót trong xác định, quản lý đối tượng thụ hưởng.

Đi đôi với phân cấp, phân quyền, Tỉnh ủy quan tâm kiện toàn tổ chức bộ máy ở cơ sở, nhất là cán bộ làm các lĩnh vực liên quan đến chính sách xã hội. Đến tháng 5/2026, khối chính quyền cấp xã có 2.440 cán bộ, công chức; trong đó có 166 người phụ trách nội vụ, 105 người phụ trách văn hóa, khoa học và thông tin, 56 người phụ trách giáo dục và đào tạo, 50 người phụ trách y tế. Tỉnh đã tổ chức 67 lớp tập huấn sử dụng các hệ thống thông tin dùng chung, điều động, luân chuyển 364 cán bộ và tăng cường 162 nhân sự thuộc các tổ hỗ trợ chuyển đổi số về cấp xã (Tỉnh ủy Khánh Hòa, 2026). Đây là những điều kiện bước đầu để chuyển trọng tâm từ quản lý theo quy trình hành chính sang giải quyết nhu cầu xã hội tại cơ sở.

Sự đổi mới thể hiện ở việc mở rộng sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong tuyên truyền, giám sát, phản biện và huy động nguồn lực. Hoạt động giám sát việc xác định đối tượng, phân bổ ngân sách và thực hiện các chương trình giảm nghèo, hỗ trợ người có công, đồng bào dân tộc thiểu số đã bổ sung nguồn thông tin từ cơ sở cho cấp ủy và chính quyền. Qua đó, quản trị xã hội từng bước được thực hiện theo hướng đa chủ thể, tăng cường phản hồi và gắn trách nhiệm của cơ quan thực hiện với quyền lợi của người dân.

Một số hạn chế, bất cập:

Những kết quả đạt được cho thấy sự đổi mới tư duy lãnh đạo đã góp phần mở rộng phạm vi bao phủ của chính sách xã hội, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ và tạo thêm cơ hội phát triển cho người dân. Tuy nhiên, thực tiễn cũng đặt ra một số vấn đề cần tiếp tục giải quyết. Đó là:

Một là, mức độ tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ xã hội giữa khu vực đô thị, ven biển với miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số chưa thật đồng đều. Kết quả giảm nghèo chưa đồng đều giữa các nhóm dân cư; nguy cơ tái nghèo và thiếu sinh kế bền vững vẫn hiện hữu tại các địa bàn khó khăn.

Hai là, tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh còn hạn chế; có khoảng 35-37% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia (UBND tỉnh Khánh Hòa, 2025). Một bộ phận lao động làm việc trong khu vực phi chính thức, nông nghiệp, du lịch và dịch vụ có thu nhập chưa ổn định, chưa được bảo vệ đầy đủ trước các rủi ro về việc làm, thu nhập và tuổi già.

Ba là, yêu cầu quản trị xã hội trong điều kiện địa bàn rộng hơn, quy mô dân số lớn hơn và tốc độ đô thị hóa nhanh đang tạo sức ép đáng kể đối với tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ. Hiện nay, bình quân mỗi cán bộ, công chức cấp xã phải đảm nhiệm từ 4 đến 9 nhóm nhiệm vụ. Sự thiếu hụt nhân lực chuyên môn, cùng với dữ liệu xã hội chưa được kết nối đồng bộ, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng nắm bắt nhu cầu, giải quyết chính sách và cung cấp dịch vụ cho người dân.

2.4. Một số giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới trong lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội của Tỉnh ủy Khánh Hòa

Một là, lãnh đạo nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành và thể chế hóa chủ trương về chính sách xã hội

Tỉnh ủy và các cấp ủy cần tiếp tục quán triệt quan điểm lấy con người làm trung tâm, đồng thời cụ thể hóa quan điểm đó trong từng nghị quyết, chương trình và kế hoạch. Mỗi chủ trương cần xác định rõ vấn đề cần giải quyết, nhóm dân cư và địa bàn ưu tiên, kết quả cần đạt, nguồn lực, thời hạn và trách nhiệm của cơ quan, người đứng đầu. Các mục tiêu xã hội phải được đặt cùng với mục tiêu kinh tế trong quy hoạch, kế hoạch phát triển và dự án đầu tư. Đối với vấn đề liên ngành, cần xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp và đầu mối theo dõi kết quả, khắc phục tình trạng nhiệm vụ được giao cho nhiều cơ quan nhưng trách nhiệm cuối cùng chưa rõ.

Trên cơ sở chủ trương của Tỉnh ủy, Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo chính quyền rà soát, thống nhất chính sách; sửa đổi nội dung thuộc thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền tháo gỡ vướng mắc. Việc thể chế hóa phải phù hợp quy định về phân cấp, phân quyền và chuyển được chủ trương thành nhiệm vụ, nguồn lực, tiến độ, kết quả cụ thể.

Hai là, lãnh đạo tập trung giải quyết những vấn đề tác động trực tiếp đến việc làm, thu nhập và sinh kế của người dân

Cần gắn các động lực tăng trưởng của tỉnh với việc làm, thu nhập và sinh kế. Cơ quan quản lý lao động, khu kinh tế, doanh nghiệp và cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần phối hợp dự báo nhu cầu nhân lực theo ngành, địa bàn và dự án; làm rõ vị trí việc làm, kỹ năng, thời điểm tuyển dụng và thu nhập dự kiến. Đào tạo nghề phải dựa trên nhu cầu thực tế và được đánh giá bằng tỷ lệ có việc làm, mức thu nhập, thời gian duy trì việc làm, không chỉ bằng số người hoàn thành khóa học.

Đối với hộ bị thu hồi đất, phải tái định cư hoặc mất nguồn thu chính, cần xem xét phương án phục hồi sinh kế cùng với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định. Nội dung hỗ trợ có thể gồm đào tạo lại, kết nối việc làm, tín dụng, hỗ trợ kỹ thuật, khởi nghiệp kinh doanh hoặc tham gia chuỗi cung ứng, tùy điều kiện của từng hộ. Cần xác định đầu mối và thời gian theo dõi; trường hợp chưa ổn định phải đánh giá lại nguyên nhân và điều chỉnh biện pháp.

Đồng thời, tiếp tục ưu tiên chất lượng giáo dục, y tế và dịch vụ cơ bản ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ven biển và hải đảo để thu hẹp chênh lệch trong thụ hưởng chính sách.

Ba là, lãnh đạo nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện chính sách xã hội, nhất là ở cấp xã.

Sau khi vận hành chính quyền địa phương hai cấp, cần rà soát lại khối lượng nhiệm vụ, đội ngũ và điều kiện làm việc của cấp xã. Phân cấp phải đi cùng thẩm quyền, nhân lực, kinh phí, dữ liệu và hướng dẫn chuyên môn. Cấp xã trực tiếp nắm hoàn cảnh người dân, quản lý hồ sơ, đối thoại và theo dõi kết quả trong phạm vi được giao; vấn đề vượt thẩm quyền hoặc đòi hỏi chuyên môn sâu phải được chuyển kịp thời đến cơ quan cấp tỉnh. Không nên yêu cầu cấp xã lập thêm nhiều báo cáo hoặc hệ thống dữ liệu riêng làm tăng khối lượng công việc.

Cùng với kiện toàn đội ngũ, cần bồi dưỡng kiến thức chính sách, kỹ năng tiếp dân, phối hợp liên ngành và sử dụng dữ liệu. Các cơ sở dữ liệu về dân cư, việc làm, bảo hiểm, giảm nghèo, người có công và trợ giúp xã hội phải từng bước được chuẩn hóa, kết nối trên nền tảng hiện có. Kết quả giải quyết công việc, mức độ hài lòng của người dân và việc khắc phục hạn chế phải được sử dụng trong đánh giá tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và người đứng đầu.

Bốn là, lãnh đạo đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá theo kết quả người dân được thụ hưởng

Kiểm tra, giám sát cần tập trung vào chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều người, sử dụng nguồn lực lớn, có nhiều hồ sơ chậm hoặc phát sinh phản ánh. Nội dung kiểm tra không chỉ xem quy trình, hồ sơ và tiến độ mà phải làm rõ đối tượng có được xác định đúng hay không, người dân có tiếp cận thuận lợi không, đời sống thay đổi như thế nào và nguồn lực được sử dụng có hiệu quả không. Dữ liệu báo cáo cần được đối chiếu với khảo sát thực tế, phản ánh của cơ sở và ý kiến người thụ hưởng.

Kết luận kiểm tra phải chỉ rõ hạn chế, nguyên nhân, cơ quan chịu trách nhiệm, công việc phải khắc phục và thời hạn hoàn thành. Chỉ kết thúc theo dõi khi có chuyển biến thực tế; trường hợp chậm khắc phục hoặc hạn chế tái diễn phải kiểm tra lại và xem xét trách nhiệm theo quy định. Sơ kết, tổng kết cũng cần làm rõ mô hình nào tạo được kết quả bền vững, nội dung nào không còn phù hợp và vấn đề nào cần điều chỉnh trong chủ trương, chính sách.

Năm là, phát huy vai trò của nhân dân, lan tỏa cách làm hiệu quả và tạo đồng thuận xã hội

Đồng thuận không chỉ được tạo ra bằng tuyên truyền mà trước hết bằng chính sách đúng, công khai và cách tổ chức thực hiện tôn trọng quyền, lợi ích chính đáng của người dân. Những chủ trương, dự án có tác động lớn đến việc làm, đất đai, nơi ở và sinh kế cần được thông tin đầy đủ, lấy ý kiến và đối thoại với nhóm chịu tác động. Cấp ủy, chính quyền phải giải trình rõ nội dung thuộc thẩm quyền, tiếp nhận kiến nghị và thông báo kết quả xử lý. Qua đó, người dân hiểu rõ mục tiêu, quyền lợi, nghĩa vụ và có điều kiện tham gia vào quá trình thực hiện.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần phát huy vai trò nắm bắt tình hình đời sống nhân dân, giám sát, phản biện và theo dõi việc giải quyết kiến nghị về chính sách xã hội. Những mô hình tốt phải được tổng kết về điều kiện thực hiện, nguồn lực, kết quả và khả năng duy trì trước khi nhân rộng. Việc tuyên truyền, biểu dương cần dựa trên kết quả thực tế, tránh nhân rộng hình thức. Thông qua đối thoại, giám sát và công khai kết quả, sự đồng thuận được xây dựng trên cơ sở niềm tin và trách nhiệm chung, đồng thời cung cấp thêm thông tin để Tỉnh ủy tiếp tục điều chỉnh nội dung, phương thức lãnh đạo.

3. Kết luận

Đổi mới tư duy lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội của Tỉnh ủy Khánh Hòa phải xuất phát từ những yêu cầu mới của quá trình phát triển và từ đời sống thực tế của nhân dân. Nội dung cốt lõi là nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành chủ trương; gắn chính sách xã hội với tăng trưởng kinh tế; chú trọng tổ chức thực hiện và kiểm soát kết quả. Điều đó đòi hỏi chủ trương phải sát từng địa bàn, trách nhiệm phải rõ, nguồn lực được bảo đảm và kết quả phải được kiểm chứng qua việc làm, thu nhập, khả năng tiếp cận dịch vụ và sự hài lòng của người dân. Khi những yêu cầu này được thực hiện đồng bộ, đổi mới tư duy lãnh đạo mới thực sự đi vào cuộc sống, góp phần xây dựng Khánh Hòa phát triển nhanh, bền vững, nơi Nhân dân có mức sống cao, hiền hòa và hạnh phúc.

_________________

Ngày nhận bài: 6/8/2026; Ngày bình duyệt: 24/8/2026; Ngày quyết định đăng: 27/8/2026.

Email: vanbtgkh@gmail.com

Tài liệu tham khảo

Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Khánh Hòa (2026). Báo cáo kết quả vận động xóa nhà tạm, nhà dột nát và quản lý các quỹ an sinh xã hội.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026). Quyết định số 806/QĐ-BNNMT ngày 11/3/2026 công bố kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025.

Đảng Cộng sản Việt Nam - ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật,.

Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa (2025). Báo cáo chính trị số 51-BC/TU ngày 29/8/2025 trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.

Quốc hội (2025). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.

Tỉnh ủy Khánh Hòa (2025). Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 14/7/2025 về tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2025-2030.

Tỉnh ủy Khánh Hòa (2026). Báo cáo số 271-BC/TU ngày 29/5/2026 về kết quả một năm sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp và các phụ lục kèm theo.

Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa (2024). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2024 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2025.

Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa (2025). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026.