Hoàn thiện lý luận về xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong bối cảnh mới
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5185
Tóm tắt: Hoàn thiện lý luận về xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong việc cụ thể hóa chủ trương của Đại hội XIV về phát triển nhanh, bền vững. Bài viết tập trung làm rõ sự phát triển tư duy của Đảng về mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng sang mô hình dựa vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; phân tích những rào cản mang tính cấu trúc và đề xuất định hướng hoàn thiện mô hình tăng trưởng kinh tế gắn với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
TS NGUYỄN TRÍ TÙNG
Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Trong tiến trình phát triển của các quốc gia hiện đại, mô hình tăng trưởng kinh tế không chỉ phản ánh cách thức huy động và phân bổ nguồn lực mà còn thể hiện bản chất của hệ thống thể chế, năng lực quản trị quốc gia và định hướng chính trị - xã hội của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế không phải là một lựa chọn mang tính kỹ thuật đơn thuần mà là một nội dung có ý nghĩa chiến lược, gắn liền với việc thực hiện mục tiêu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau 40 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, với tốc độ tăng trưởng tương đối cao, quy mô kinh tế không ngừng mở rộng và đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.
Tuy nhiên, Đảng ta đã thẳng thắn chỉ ra mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong một thời gian dài vẫn chủ yếu dựa vào khai thác các yếu tố đầu vào theo chiều rộng, bao gồm vốn, lao động và tài nguyên thiên nhiên, trong khi đóng góp của năng suất tổng hợp các yếu tố còn hạn chế. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi sang một mô hình tăng trưởng mới, dựa nhiều hơn vào năng suất, chất lượng, hiệu quả và đổi mới sáng tạo, cụ thể: “Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế” (ĐCSVN, 2021, tr.120-121). Bước vào giai đoạn phát triển mới (2026 - 2030), trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động sâu sắc với xu hướng phân mảnh, cạnh tranh công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng của Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc khắc phục những hạn chế của mô hình cũ mà còn phải hướng tới tạo ra những đột phá mang tính cấu trúc, đủ khả năng đưa nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao với hai con số nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển và hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục hoàn thiện lý luận của Đảng về đổi mới và xác lập mô hình tăng trưởng kinh tế, đồng thời nhận diện đầy đủ các rào cản và đề xuất giải pháp phù hợp để tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa chính trị sâu sắc trong việc củng cố niềm tin vào đường lối phát triển của Đảng.
2. Nội dung
2.1. Sự phát triển tư duy của Đảng về lý luận mô hình tăng trưởng kinh tế
Đảng Cộng sản Việt Nam đổi mới tư duy về mô hình tăng trưởng từ Đại hội XI đến Đại hội XIII, phản ánh sự tiếp thu có chọn lọc và vận dụng sáng tạo các lý thuyết về mô hình tăng trưởng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đại hội XI chủ yếu dừng lại ở việc nhận diện mô hình tăng trưởng theo chiều rộng và yêu cầu chuyển đổi, Đại hội XII đã nhấn mạnh hơn đến vai trò của năng suất và hiệu quả. Đến Đại hội XIII, mô hình tăng trưởng mới được xác định rõ ràng hơn với nội hàm dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đảng không tiếp cận mô hình tăng trưởng theo cách thuần túy kinh tế mà luôn đặt trong mối quan hệ với định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này thể hiện ở việc nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh đi đôi với bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Đây chính là điểm khác biệt căn bản giữa mô hình tăng trưởng của Việt Nam với các mô hình phát triển thuần túy thị trường.
Đại hội XIV của Đảng đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy về mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam khi xác lập định hướng chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới dựa chủ yếu vào khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, coi đây là động lực chính của phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Cụ thể, Đại hội XIV nêu rõ định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 -2030 là: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực. Xác định các động lực tăng trưởng mới và lấy khoa học, công nghệ là trọng tâm để thúc đẩy, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống” (ĐCSVN, 2026, tr.377-378).
Khác với mô hình tăng trưởng trước đây dựa nhiều vào mở rộng quy mô, khai thác nguồn lực và các yếu tố đầu vào truyền thống, Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu, lấy nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế làm trọng tâm. Mô hình tăng trưởng mới được gắn chặt với quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển lực lượng sản xuất mới. Đồng thời, Đại hội XIV xác định rõ các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế là phát triển kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn; thực hiện đồng bộ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Qua đó, Đại hội XIV không chỉ xác lập định hướng tăng trưởng cho giai đoạn tới mà còn đặt nền tảng cho việc hình thành mô hình phát triển mới của Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh toàn cầu ngày càng sâu sắc.
2.2. Những rào cản của mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam trong 40 năm qua cho thấy một thực tế mang tính quy luật rằng, mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác chiều rộng, các yếu tố đầu vào đã phát huy hiệu quả rõ rệt trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, nhưng đồng thời cũng bộc lộ những giới hạn ngày càng rõ ràng khi nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển cao hơn. Đây không phải là một hiện tượng riêng của Việt Nam mà là đặc trưng chung của các nền kinh tế đi sau trong quá trình công nghiệp hóa, khi lợi thế về lao động giá rẻ, tài nguyên và khả năng thu hút vốn đầu tư dần suy giảm theo thời gian. Tuy nhiên, trong trường hợp Việt Nam, quá trình chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu diễn có các rào cản ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ nhất, rào cản lớn nhất đối với quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng chính là tình trạng năng suất lao động tăng chậm, chưa có đột phá. Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong nhiều năm qua được duy trì ở mức tương đối cao so với khu vực, song phần lớn tăng trưởng vẫn dựa vào mở rộng quy mô vốn đầu tư và sử dụng lao động, trong khi đóng góp của năng suất tổng hợp các yếu tố còn khiêm tốn. Năng suất lao động của Việt Nam vẫn ở mức thấp, phản ánh sự hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực, trình độ công nghệ và hiệu quả tổ chức sản xuất.
Về mặt lý luận, năng suất lao động không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế đơn thuần mà còn là thước đo tổng hợp, phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mức độ hiện đại của công nghệ và chất lượng của thể chế kinh tế. Khi năng suất lao động tăng chậm, điều đó không chỉ đồng nghĩa với việc thu nhập bình quân đầu người tăng chậm, mà còn phản ánh sự hạn chế trong khả năng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao giá trị gia tăng và tham gia vào các khâu có giá trị cao hơn trong chuỗi sản xuất toàn cầu. Do đó, tình trạng năng suất lao động thấp không chỉ là một vấn đề kinh tế, mà còn là một rào cản đối với mục tiêu phát triển dài hạn của đất nước.
Thứ hai, năng lực đổi mới sáng tạo và nội lực công nghệ của nền kinh tế còn hạn chế, chưa thực sự trở thành động lực chủ đạo của tăng trưởng. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định trong việc tiếp thu và ứng dụng công nghệ từ bên ngoài, đặc biệt thông qua khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, quá trình này chủ yếu mang tính “tiếp nhận” hơn là “làm chủ” và “sáng tạo”, dẫn đến sự phụ thuộc tương đối lớn vào công nghệ nhập khẩu. Phần lớn doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chưa có đủ năng lực tài chính và quản trị để đầu tư cho nghiên cứu và phát triển một cách bài bản, trong khi hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia còn thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể như doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học.
Theo các nghiên cứu gần đây, tỷ lệ chi cho hoạt động R&D của doanh nghiệp Việt Nam vẫn thấp hơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực (Trần Duy Phương, 2022). Điều này phản ánh một thực tế là đổi mới sáng tạo chưa trở thành một chiến lược phát triển mang tính phổ quát trong cộng đồng doanh nghiệp, mà chủ yếu tập trung ở một số tập đoàn lớn hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Hệ quả là nền kinh tế chưa hình thành được một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đủ mạnh để tạo ra sự lan tỏa rộng khắp, từ đó hạn chế khả năng nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng. Một vấn đề mang tính cấu trúc khác là sự thiếu gắn kết giữa khu vực FDI và khu vực doanh nghiệp trong nước. Mặc dù khu vực FDI đóng góp lớn vào xuất khẩu và tăng trưởng công nghiệp, song hiệu ứng lan tỏa công nghệ và kỹ năng quản trị sang khu vực doanh nghiệp nội địa còn hạn chế (Vũ Huyền Trang, 2023). Điều này dẫn đến tình trạng “hai khu vực song song” trong nền kinh tế, trong đó khu vực FDI có trình độ công nghệ và năng suất cao hơn, còn khu vực doanh nghiệp trong nước chủ yếu hoạt động ở các khâu có giá trị gia tăng thấp.
Thứ ba, cấu trúc tăng trưởng vẫn mang nặng tính thâm dụng vốn và lao động, phản ánh sự chậm trễ trong chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu. Trong nhiều giai đoạn, đóng góp của vốn vào tăng trưởng kinh tế ở mức cao, trong khi đóng góp của TFP còn hạn chế (Nguyễn Thị Thu Trang, 2021). Điều này cho thấy nền kinh tế vẫn dựa nhiều vào mở rộng đầu tư để duy trì tăng trưởng, thay vì nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Về mặt dài hạn, mô hình này không bền vững, bởi nó có thể dẫn đến tình trạng đầu tư dàn trải, hiệu quả thấp, gia tăng nợ công và gây áp lực lên ổn định kinh tế vĩ mô. Hơn nữa, việc duy trì mô hình tăng trưởng theo chiều rộng trong thời gian dài còn kéo theo những hệ lụy về môi trường và xã hội. Khai thác tài nguyên quá mức, phát thải cao và sử dụng lao động giá rẻ không chỉ làm suy giảm chất lượng môi trường sống mà còn làm giảm động lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu ngày càng chú trọng đến phát triển bền vững và tiêu chuẩn môi trường, những hạn chế này có thể trở thành rào cản lớn đối với khả năng tiếp cận thị trường quốc tế của hàng hóa Việt Nam.
Việc tháo gỡ những rào cản này không chỉ đòi hỏi các giải pháp kinh tế đơn lẻ, mà cần một cách tiếp cận tổng thể, trong đó đổi mới mô hình tăng trưởng gắn liền với cải cách thể chế, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế.
2.3. Bối cảnh mới và yêu cầu đặt ra đối với mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2026 - 2030
Bối cảnh phát triển của Việt Nam trong giai đoạn 2026 - 2030 có nhiều điểm khác biệt căn bản so với các giai đoạn trước. Nếu như trong những thập niên đầu của công cuộc đổi mới, lợi thế phát triển của Việt Nam chủ yếu dựa trên lao động dồi dào, chi phí thấp, tài nguyên, khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và mở rộng thương mại quốc tế, thì hiện nay những lợi thế này đang dần suy giảm hoặc không còn đủ sức tạo ra động lực tăng trưởng đột phá. Trong khi đó, yêu cầu phát triển đất nước đã bước sang một trình độ cao hơn, không chỉ là duy trì tăng trưởng ổn định mà còn phải đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, bền vững, có chất lượng, đủ khả năng đưa Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 (Phạm Ngọc Hòa, 2024). Chính vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay không còn chỉ là đổi mới mô hình tăng trưởng theo nghĩa điều chỉnh một số yếu tố trong mô hình cũ, mà là từng bước xác lập một mô hình tăng trưởng mới, trong đó năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chất lượng thể chế trở thành các động lực trung tâm.
Ở bình diện quốc tế, nền kinh tế thế giới đang vận động trong một môi trường bất định cao, chịu tác động đồng thời của cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, phân mảnh chuỗi cung ứng, bảo hộ thương mại, rủi ro địa chính trị, biến đổi khí hậu và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo. Những yếu tố này làm thay đổi sâu sắc logic phát triển của các nền kinh tế đi sau. Trước đây, một quốc gia có thể tăng trưởng nhanh nhờ hội nhập thương mại, thu hút FDI và tham gia các khâu thâm dụng lao động trong chuỗi giá trị toàn cầu. Trong giai đoạn hiện nay, con đường đó không còn đủ để bảo đảm phát triển dài hạn. Các chuỗi giá trị đang được tái cấu trúc theo hướng chú trọng an ninh kinh tế, an ninh công nghệ, tiêu chuẩn xanh, năng lực số và khả năng chống chịu. Điều này có nghĩa là nếu Việt Nam không nhanh chóng nâng cấp năng lực nội sinh, nền kinh tế có thể tiếp tục tham gia sâu vào thương mại toàn cầu nhưng vẫn bị giữ ở những khâu có giá trị gia tăng thấp.
Trong bối cảnh đó, chủ trương xác lập mô hình tăng trưởng mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng. Điểm mới là tư duy phát triển không dừng lại ở yêu cầu “chuyển đổi” mà nhấn mạnh yêu cầu “bứt phá”. Một số phân tích chính sách gần đây cho rằng Văn kiện Đại hội XIV đặt vấn đề xác lập mô hình tăng trưởng mới, trong đó khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao được coi là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn tới (Chu Thanh Vân, 2026). Cách tiếp cận này phù hợp với Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó xác định đây là cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện, cần được triển khai đồng bộ, lâu dài và có tính đột phá.
Về phương diện kinh tế vĩ mô, mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới đặt ra yêu cầu rất cao đối với năng lực vận hành của mô hình tăng trưởng. Mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030 đã được xác định là một nhiệm vụ chiến lược, đòi hỏi sự tham gia mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp và quá trình cải cách sâu rộng về thể chế, quản trị, nguồn lực và năng suất. Trong khi đó, các dự báo quốc tế vẫn thận trọng hơn; ADB dự báo kinh tế Việt Nam tăng 7,2% năm 2026 và 7,0% năm 2027 (ADB, 2026; Chính phủ Việt Nam, 2026), trong khi IMF và World Bank đưa ra các dự báo thấp hơn mục tiêu chính thức của Việt Nam (IMF, 2026; World Bank, 2026). Khoảng cách giữa khát vọng phát triển và dự báo bên ngoài cho thấy Việt Nam muốn đạt tăng trưởng hai con số thì không thể chỉ dựa vào quán tính tăng trưởng hiện có, mà phải tạo ra những đột phá thực chất về năng suất, đầu tư công hiệu quả, năng lực doanh nghiệp, chất lượng nhân lực, khoa học công nghệ và thể chế phát triển.
Điều này đặt ra một yêu cầu lý luận quan trọng, đó là mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam phải là mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất tổng hợp các yếu tố (TPF), nhưng không được hiểu TFP chỉ như một chỉ tiêu kỹ thuật trong hạch toán tăng trưởng. Về bản chất, TFP phản ánh trình độ tổ chức của nền kinh tế, chất lượng thể chế, năng lực công nghệ, trình độ quản trị doanh nghiệp, khả năng phân bổ nguồn lực và hiệu quả của hệ thống đổi mới sáng tạo. Do đó, nâng cao TFP không chỉ là nhiệm vụ của khoa học công nghệ, mà còn là nhiệm vụ của cải cách thể chế, cải cách hành chính, phát triển thị trường vốn, hoàn thiện thị trường lao động, đổi mới giáo dục đào tạo, nâng cấp hạ tầng số và xây dựng văn hóa kinh doanh hiện đại.
Nói cách khác, mô hình tăng trưởng mới không thể hình thành nếu chỉ có những chính sách ngành riêng lẻ, mà đòi hỏi một cấu trúc cải cách tổng thể, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo phát triển, thị trường giữ vai trò phân bổ nguồn lực chủ yếu, còn doanh nghiệp và người dân là chủ thể sáng tạo trực tiếp.
Trong nước, những yêu cầu mới của phát triển càng trở nên cấp thiết khi Việt Nam đang đứng trước đồng thời ba áp lực. Thứ nhất là nguy cơ tụt hậu về năng suất. Dù tăng trưởng kinh tế đạt nhiều kết quả quan trọng, năng suất lao động của Việt Nam vẫn còn khoảng cách đáng kể so với các nước phát triển hơn trong khu vực. Thứ hai là nguy cơ mắc kẹt ở các khâu giá trị gia tăng thấp trong chuỗi sản xuất toàn cầu. Khu vực FDI đóng góp lớn cho xuất khẩu, công nghiệp chế biến, chế tạo và việc làm, nhưng liên kết với doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, làm cho hiệu ứng lan tỏa công nghệ chưa tương xứng với kỳ vọng. Thứ ba là yêu cầu chuyển đổi xanh và tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế mới, nhất là trong các ngành xuất khẩu chủ lực. Khi các thị trường lớn ngày càng áp dụng tiêu chuẩn môi trường, carbon, lao động và truy xuất nguồn gốc, mô hình tăng trưởng dựa vào chi phí thấp sẽ không còn đủ sức cạnh tranh.
Từ đây có thể thấy, mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam phải giải quyết đồng thời ba bài toán: tăng tốc, nâng chất và bảo đảm tính bền vững. Tăng tốc là để đáp ứng mục tiêu phát triển nhanh, rút ngắn khoảng cách với các nước đi trước. Nâng chất là để thoát khỏi mô hình tăng trưởng dựa vào vốn, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên. Bền vững là để bảo đảm tăng trưởng không làm tổn hại môi trường, không tạo bất ổn xã hội, không làm gia tăng phụ thuộc bên ngoài và không đánh đổi công bằng xã hội lấy tăng trưởng ngắn hạn.
2.4. Định hướng hoàn thiện mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số và tầm nhìn 2045
Thứ nhất, cần xác lập rõ năng suất lao động và TFP là thước đo trung tâm của mô hình tăng trưởng mới. Trong thời gian dài, thành công kinh tế thường được nhìn chủ yếu qua tốc độ tăng GDP, quy mô xuất khẩu, vốn FDI đăng ký hoặc giải ngân, vốn đầu tư toàn xã hội. Những chỉ tiêu này vẫn quan trọng, nhưng nếu không đi kèm với năng suất và giá trị gia tăng thì có thể che khuất những hạn chế của nền kinh tế. Một nền kinh tế có kim ngạch xuất khẩu lớn nhưng tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa thấp, có nhiều dự án FDI nhưng liên kết công nghệ yếu, có tốc độ tăng trưởng cao nhưng năng suất lao động thấp, thì chưa thể coi là đã có mô hình tăng trưởng hiện đại. Vì vậy, trong giai đoạn tới, đánh giá chất lượng tăng trưởng cần chuyển mạnh sang các chỉ tiêu về TFP, năng suất lao động, tỷ lệ nội địa hóa, hàm lượng công nghệ, chi tiêu R&D, năng lực đổi mới sáng tạo, mức độ số hóa doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng năng lượng và phát thải carbon trên một đơn vị GDP.
Thứ hai, phải coi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá trung tâm của mô hình tăng trưởng mới. Nghị quyết 57-NQ/TW đã mở ra một khuôn khổ chính trị quan trọng để đưa khoa học công nghệ và chuyển đổi số từ vị trí “phụ trợ” trở thành “động lực chính” của phát triển (Bộ Chính trị, 2024, tr.1-2). Tuy nhiên, để chủ trương này đi vào thực chất, cần vượt qua tình trạng khoa học công nghệ tách rời sản xuất, nghiên cứu tách rời thị trường và đổi mới sáng tạo chỉ tập trung trong một số doanh nghiệp lớn. Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia phải được tổ chức lại theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, viện nghiên cứu và trường đại học làm nền tảng tri thức, Nhà nước làm chủ thể kiến tạo thể chế và thị trường làm cơ chế kiểm nghiệm hiệu quả. Cần hình thành các cụm đổi mới sáng tạo gắn với các ngành ưu tiên như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo, vật liệu mới, logistics thông minh, nông nghiệp công nghệ cao và công nghiệp quốc phòng an ninh lưỡng dụng.
Thứ ba, cần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao như điều kiện nền tảng của tăng trưởng hai con số. Trong nền kinh tế tri thức, lợi thế cạnh tranh không còn chủ yếu nằm ở tài nguyên hoặc lao động giá rẻ, mà nằm ở năng lực học hỏi, sáng tạo và thích ứng của con người. Việt Nam không thể đạt mục tiêu thu nhập cao nếu hệ thống giáo dục đào tạo không cung cấp đủ nhân lực kỹ thuật, kỹ sư, chuyên gia công nghệ, nhà quản trị hiện đại và công nhân kỹ năng cao. Vì vậy, đổi mới mô hình tăng trưởng phải đi cùng cải cách căn bản giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và đào tạo lại lực lượng lao động. Cần gắn đào tạo với nhu cầu doanh nghiệp, với chiến lược ngành quốc gia và với các công nghệ nền tảng. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế thu hút nhân tài trong và ngoài nước, khuyến khích chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào các chương trình khoa học công nghệ chiến lược, qua đó biến nguồn lực trí tuệ toàn cầu của người Việt Nam thành một bộ phận của năng lực phát triển quốc gia.
Thứ tư, cần tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp theo hướng hình thành lực lượng doanh nghiệp Việt Nam có năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu. Một mô hình tăng trưởng mới không thể chỉ dựa vào khu vực FDI, cũng không thể chỉ dựa vào đầu tư công, mà phải dựa trên một cộng đồng doanh nghiệp trong nước năng động, sáng tạo, có năng lực công nghệ và quản trị hiện đại. Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được hỗ trợ để số hóa, nâng cấp quản trị, tiếp cận vốn, tham gia chuỗi cung ứng và đổi mới công nghệ. Đồng thời, cần có chính sách phát triển một số doanh nghiệp đầu đàn trong các ngành chiến lược, có khả năng dẫn dắt hệ sinh thái doanh nghiệp Việt Nam. Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Xinhgapo cho thấy, công nghiệp hóa thành công luôn gắn với sự hình thành các doanh nghiệp nội địa mạnh, biết học hỏi công nghệ, làm chủ quy trình, xây dựng thương hiệu và tiến lên các khâu có giá trị gia tăng cao.
Thứ năm, cần đổi mới chính sách thu hút FDI theo hướng chọn lọc, liên kết và lan tỏa. FDI đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, trong mô hình tăng trưởng mới, FDI cần được đặt trong chiến lược nâng cấp năng lực nội sinh. Việt Nam cần ưu tiên các dự án có công nghệ cao, cam kết chuyển giao công nghệ, sử dụng lao động kỹ năng cao, có liên kết với doanh nghiệp trong nước, có trung tâm R&D tại Việt Nam và đáp ứng tiêu chuẩn xanh. Đồng thời, chính sách FDI cần gắn với phát triển công nghiệp hỗ trợ, phát triển nhà cung cấp nội địa và nâng cấp chuỗi giá trị. Nếu không tạo được liên kết thực chất giữa khu vực FDI và doanh nghiệp Việt Nam, nền kinh tế có thể tiếp tục tăng trưởng nhờ xuất khẩu nhưng không tích lũy đủ năng lực công nghệ để trở thành nước công nghiệp hiện đại.
Thứ sáu, hoàn thiện thể chế là đột phá của mọi đột phá. Năng suất thấp không chỉ do công nghệ thấp, mà còn do chi phí giao dịch cao, thủ tục phức tạp, phân bổ nguồn lực chưa tối ưu, thị trường các yếu tố sản xuất chưa phát triển đồng bộ và trách nhiệm thực thi chính sách chưa rõ ràng. Vì vậy, muốn có mô hình tăng trưởng mới, cần xây dựng thể chế phát triển hiện đại, minh bạch, ổn định, có khả năng khuyến khích sáng tạo và bảo vệ quyền tài sản hợp pháp. Đặc biệt, cần khắc phục tình trạng chính sách đúng nhưng thực thi chậm, chủ trương lớn nhưng thiếu cơ chế cụ thể, nguồn lực có nhưng giải ngân và hấp thụ thấp. Tăng trưởng hai con số không chỉ cần vốn, mà cần tốc độ ra quyết định, chất lượng phối hợp chính sách và năng lực thực thi của bộ máy.
Thứ bảy, cần phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi năng lượng như một cấu phần nội tại của mô hình tăng trưởng mới. Chuyển đổi xanh không nên được nhìn như chi phí bắt buộc do sức ép quốc tế, mà phải được coi là cơ hội tái cấu trúc nền kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, mở rộng ngành nghề mới và tăng sức cạnh tranh xuất khẩu. Khi các thị trường lớn ngày càng coi tiêu chuẩn carbon, môi trường và lao động là điều kiện tiếp cận thị trường, doanh nghiệp Việt Nam muốn tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu phải chuyển đổi sản xuất theo hướng xanh hơn, sạch hơn và minh bạch hơn. Do đó, chính sách công nghiệp, chính sách năng lượng, chính sách tín dụng và chính sách thương mại cần được phối hợp để khuyến khích đầu tư vào công nghệ sạch, năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng, giao thông xanh và nông nghiệp sinh thái.
Thứ tám, cần tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo hướng hình thành các cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, đô thị đổi mới sáng tạo và vùng động lực. Tăng trưởng hai con số không thể đạt được nếu nguồn lực bị phân tán, đầu tư dàn trải và liên kết vùng yếu. Cần phát triển các trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ và các vùng công nghiệp động lực thành những đầu tàu tăng trưởng có khả năng lan tỏa. Đồng thời, cần kết nối các vùng thông qua hạ tầng giao thông chiến lược, logistics, hạ tầng số và thị trường lao động thống nhất. Khi không gian kinh tế được tổ chức hiệu quả hơn, nguồn lực sẽ dịch chuyển đến nơi có năng suất cao hơn, từ đó nâng cao hiệu quả chung của nền kinh tế.
Mô hình tăng trưởng mới phải đặt con người ở vị trí trung tâm. Tăng trưởng hai con số chỉ có ý nghĩa khi tạo ra việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn, cơ hội học tập rộng hơn, dịch vụ công tốt hơn và chất lượng sống cao hơn cho nhân dân. Đây là tiêu chuẩn quan trọng để phân biệt tăng trưởng theo định hướng xã hội chủ nghĩa với tăng trưởng thuần túy chạy theo chỉ tiêu GDP. Mục tiêu đến năm 2045 không chỉ là trở thành nước có thu nhập cao về mặt thống kê, mà là xây dựng một quốc gia phát triển, công nghiệp hiện đại, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Vì vậy, mô hình tăng trưởng mới phải là mô hình kết hợp giữa hiệu quả kinh tế, tiến bộ xã hội, bền vững môi trường và độc lập tự chủ quốc gia.
3. Kết luận
Thực tiễn 40 năm đổi mới cho thấy, đường lối phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam là đúng đắn, sáng tạo và phù hợp với quy luật phát triển khách quan. Thành tựu phát triển đất nước minh chứng cho hiệu quả của quá trình vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bác bỏ những quan điểm sai trái cho rằng định hướng xã hội chủ nghĩa hay vai trò lãnh đạo của Đảng là rào cản đối với tăng trưởng và hội nhập. Chính vai trò lãnh đạo của Đảng, năng lực kiến tạo của Nhà nước và sự kết hợp giữa quy luật thị trường với mục tiêu phát triển vì con người đã tạo nên bản sắc riêng của mô hình phát triển Việt Nam, bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với ổn định chính trị, tiến bộ, công bằng xã hội và củng cố độc lập, tự chủ quốc gia.
Trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra không còn chỉ là tiếp tục “chuyển đổi” mô hình tăng trưởng theo nghĩa điều chỉnh cục bộ, mà phải từng bước xác lập một mô hình tăng trưởng mới có tính đột phá, lấy năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực trung tâm. Đây đồng thời là quá trình phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, tạo nền tảng vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới, phù hợp với tinh thần các nghị quyết của Đảng. Do đó, đổi mới mô hình tăng trưởng không chỉ là vấn đề của phát triển kinh tế, mà còn là vấn đề bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực kinh tế. Thành công của quá trình này sẽ là minh chứng sinh động nhất khẳng định tính đúng đắn, khoa học và sức sống của con đường phát triển mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn; đồng thời tạo dựng nền tảng vững chắc để Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên phát triển nhanh, bền vững, hùng cường và thịnh vượng vào giữa thế kỷ XXI.
_________________
Ngày nhận bài: 22/5/2026; Ngày bình duyệt: 9/6/2026; Ngày quyết định đăng: 08/7/2026.
Email tác giả: tritung74@yahoo.com
Tài liệu tham khảo:
Asian Development Bank - ADB (2026). Asian Development Outlook April 2026: Viet Nam. https://www.adb.org.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn.
Chính phủ (2026). Viet Nam's economic growth remains resilient amid global challenges: ADB. Viet Nam Government News. https://en.baochinhphu.vn.
Chu Thanh Vân (2026). Xác lập mô hình tăng trưởng mới, đưa đất nước vững vàng cất cánh. Trang thông tin điện tử Đại hội Đảng. https://daihoidang.vn.
ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 2). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
International Monetary Fund - IMF (2026). World Economic Outlook database: April 2026 edition. Retrieved June 4, 2026, from: https://www.imf.org.
Nguyễn Thị Thu Trang (2021). Làm gì để nâng cao năng suất lao động và đóng góp TFP đối với tăng trưởng kinh tế? Tạp chí Kinh tế Tài chính Việt Nam. https://tapchikinhtetaichinh.vn.
Phạm Ngọc Hòa (2024). Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Nhìn từ bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Tạp chí Ngân hàng. https://tapchinganhang.gov.vn.
Trần Duy Phương (2022). Hoạt động nghiên cứu và phát triển trong doanh nghiệp Việt Nam: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Kinh tế và Dự báo. https://kinhtevadubao.vn.
Vũ Huyền Trang (2023). Đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với kinh tế Việt Nam giai đoạn 2016 - 2022 và khuyến nghị chính sách. Tạp chí Ngân hàng. https://tapchinganhang.gov.vn.
World Bank (2026). Viet Nam Economic Update, May 2026: Sustaining reforms, navigating uncertainty. World Bank. https://openknowledge.worldbank.org.