Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo tại tỉnh Khánh Hòa
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5186
Tóm tắt: Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo luôn được Đảng và Nhà nước chú trọng, nhằm nhằm xây dựng quốc gia mạnh về biển, đồng thời góp phần khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển. Khánh Hòa là địa phương có hệ thống di sản văn hóa biển đảo phong phú, giàu tiềm năng. Những năm qua, tỉnh đã triển khai nhiều hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di sản. Tuy nhiên, yêu cầu phát triển của giai đoạn mới đang đặt ra nhiều vấn đề cần nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo.
ThS CAO THỊ HIỆU
Học viện Chính trị khu vực III

1. Mở đầu
Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo là nhiệm vụ mang tầm chiến lược, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030, “Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển… phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng” (ĐCSVN, 2018, tr.84), tầm nhìn đến năm 2045: “Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn…” (ĐCSVN, 2018, tr.87). Quán triệt quan điểm của Đảng, tỉnh Khánh Hòa đã ban hành nhiều quyết sách nhằm xây dựng bản sắc văn hóa biển đảo, đưa văn hóa dẫn dắt kinh tế biển, du lịch biển phát triển bền vững, đồng thời tạo sức mạnh mềm trong bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Trước yêu cầu của bối cảnh mới, nhất là khi không gian địa giới, không gian văn hóa biển đảo rộng mở sau khi tỉnh Khánh Hòa thành lập (trên cơ sở sáp nhập hai tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận); để tiếp tục có những định hướng sát đúng, rất cần có sự đánh giá, đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn. Bài viết tập trung làm rõ kết quả trong bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo ở tỉnh Khánh Hòa trong thời gian qua, trên cơ sở đó rút ra một số kinh nghiệm mang tính định hướng có giá trị với thực tiễn hiện nay.
2. Nội dung
2.1. Chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo
Trên cơ sở nhận thức vị trí, tầm quan trọng của các giá trị di sản văn hóa nói chung, các di sản văn hóa biển đảo nói riêng, “công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc đã có nhiều quyết sách định hướng quan trọng, khẳng định vai trò to lớn của di sản văn hóa trong sự nghiệp phát triển đất nước” (ĐCSVN, 2026b, tr.53). Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII “về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, đặt nền móng cho công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc thời kỳ đổi mới.
Đối với di sản văn hóa biển đảo, Chính phủ ban hành Nghị định số 86/2005/NĐ-CP ngày 08/7/2005 “về quản lý và bảo vệ di sản văn hóa dưới nước”, xác định việc quản lý và bảo vệ các di sản văn hóa dưới vùng nước ở các phạm vi gồm: nội địa, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Nghị định này tạo hành lang pháp lý để các cơ quan nhà nước thực hiện hoạt động quản lý và bảo tồn di sản văn hóa biển đảo. Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 của Ban Chấp hành Trung ương “về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” nhấn mạnh: “Nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển…” (ĐCSVN, 2007, tr.46). Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” nhấn mạnh: “Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu văn hóa dân tộc” (Văn phòng Trung ương Đảng, 2014, tr.54). Điều này tiếp tục được Đảng bổ sung, phát triển trong Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 “về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Nghị quyết nêu rõ: “Tăng cường quản lý tổng hợp, thống nhất tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, bảo tồn đa dạng sinh học, các hệ sinh thái biển tự nhiên… từ đất liền ra biển”. Mục tiêu “đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh..., hình thành văn hóa sinh thái biển, phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng” (ĐCSVN, 2018, tr.84). Chính phủ ban hành Nghị quyết số 48/NQ-CP ngày 04/3/2023 “phê duyệt Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn năm 2050”, khẳng định sự cần thiết khai thác tài nguyên, trong đó có tài nguyên văn hóa biển đảo. Nghị quyết xác định mục tiêu đến năm 2030 “tài nguyên biển và hải đảo được điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học biển và hải đảo cơ bản đáp ứng yêu cầu khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên biển, bảo tồn đa dạng sinh học biển và hải đảo, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển” (Chính phủ, 2023, tr.3).
Đặc biệt, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, nhấn mạnh “đến năm 2030 cơ bản hoàn thành việc tu bổ, tôn tạo các di tích quốc gia đặc biệt; phục hồi, bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể, nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một, cần bảo vệ khẩn cấp” (Ban Chấp hành Trung ương, 2026, tr.3-4). Những chủ trương trên đã tạo cơ sở nền tảng để các địa phương vận dụng vào thực tiễn.
Tỉnh Khánh Hòa là địa phương có nhiều tiềm năng, lợi thế từ biển đảo. Sau khi tỉnh Khánh Hòa mới được thành lập, trở thành địa phương có bờ biển dài nhất cả nước với 500 km, có 200 đảo lớn nhỏ, nhiều vịnh đẹp nổi tiếng như: Vân Phong, Nha Phu, Cù Huân và vịnh Cam Ranh cùng nhiều bãi tắm đẹp như Nha Trang, Dốc Lết, Hòn Chồng, Bãi Dài, Vân Phong, Cà Ná, Mũi Dinh, Bình Sơn, Ninh Chử, Vĩnh Hy, Bình Tiên,… ; mở ra một không gian văn hóa biển đảo phong phú, đặc sắc, phản ánh quá trình xác lập, thực thi, bảo vệ chủ quyền biển đảo, nhất là trên quần đảo Trường Sa.
Tỉnh ủy Khánh Hòa đã sớm định vị và nhận diện nhiều giá trị văn hóa biển đảo và phát huy các giá trị đó nhằm đưa địa phương phát triển bền vững. Nhiều nghị quyết, chương trình hành động đã được ban hành, đáng chú ý như: Chương trình hành động số 23-CTr/TU, ngày 23/10/2014 về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”; Chỉ thị số 21-CT/TU ngày 13/9/2019 về tăng cường bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa. Đặc biệt, Nghị quyết số 34-NQ/TU ngày 22/12/2023 về phát huy các giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững tỉnh Khánh Hòa đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 nhấn mạnh: “Bảo đảm mối quan hệ hài hòa giữa giữ gìn, phát huy các giá trị di sản văn hóa và phát triển du lịch bền vững theo nguyên tắc di sản là tài nguyên du lịch không thể thay thế. Di sản vật thể và phi vật thể cùng hệ thống di tích lịch sử, văn hóa, thiên nhiên phong phú, đa dạng của tỉnh chính là nguồn tài nguyên du lịch đặc sắc, tạo sản phẩm du lịch hấp dẫn, độc đáo. Ngược lại, hoạt động du lịch sẽ giúp quảng bá, giữ gìn và phát huy giá trị di sản, mang lại lợi ích cho cộng đồng” (Tỉnh ủy Khánh Hòa, 2023, tr.2). Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 14/5/2026 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030 đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy và định hướng của tỉnh khi đặt công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển du lịch bền vững. Điều này cho thấy, vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa biển đảo nói riêng ngày càng được nhận thức đúng và nâng tầm, trở thành nội dung lãnh đạo thường xuyên của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương
2.2. Một số kết quả đạt được
Thứ nhất, công tác kiểm kê, xếp hạng di tích được tiến hành đồng bộ, đạt nhiều kết quả. Tính đến năm 2026, toàn tỉnh có 03 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh có liên quan đến không gian văn hóa của địa phương, gồm: Nghệ thuật bài Chòi Trung Bộ Việt Nam, nghệ thuật làm gốm của người Chăm, nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ, 03 di tích cấp quốc gia đặc biệt, gồm: Tháp Bà Ponagar, Tháp Pô Klông Garai, Tháp Hòa Lai; 05 bảo vật quốc gia gồm: Bộ sưu tập Đàn đá Khánh Sơn, Bia Hòa Lai, Phù điêu Vua Po Rome, Bia Phước Thiện, Tượng thờ Vua Pô Klong Garai; 28 di tích quốc gia, 241 di tích cấp tỉnh, 12 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (Tỉnh ủy Khánh Hòa, 2026, tr.1). Điều này không chỉ phản ánh sự gia tăng về số lượng di tích, mà quan trọng hơn, khi địa giới hành chính mở rộng, không gian văn hóa biển đảo đa tầng cũng được rộng mở, tạo nhiều dư địa để Khánh Hòa tiếp tục phát huy lợi thế trong tình hình mới.
Thứ hai, công tác trùng tu, tôn tạo các di sản văn hóa biển đảo. Tỉnh đã chú trọng khắc phục tình trạng di tích bị xuống cấp do thiên tai, bão lũ, bị xâm hại hoặc khai thác quá mức trong kinh doanh. Ngày 14/5/2026, Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TU về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030. Nghị quyết xác định quan điểm bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân.
Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa triển khai kế hoạch tu bổ, tôn tạo di tích trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 - 2030, trong đó tập trung nguồn lực đầu tư, tôn tạo và phát huy giá trị 32 di tích lịch sử - văn hóa trọng điểm trên địa bàn. Trọng tâm của kế hoạch là việc hoàn thiện quy hoạch bảo quản các Di tích quốc gia đặc biệt như: Tháp Hòa Lai, Tháp Pô Klong Garai, đồng thời trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phương án tu bổ Tháp Bà Pô Nagar vào năm 2026, bên cạnh việc bổ sung đề án bảo tồn cho danh thắng Hòn Chồng - Hòn Đỏ và quần thể núi Tà Năng.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch nghiên cứu, khai thác đưa di sản trở thành sản phẩm du lịch đặc sắc thông qua sân khấu hóa các sự kiện, tích truyện lịch sử, trò chơi dân gian, tạo nên trải nghiệm mới mẻ, hấp dẫn cho du khách. Đồng thời, xây dựng các tour du lịch chuyên đề như du lịch văn hóa Chăm, du lịch làng nghề, du lịch lễ hội, du lịch ẩm thực truyền thống… Ứng dụng công nghệ hiện đại để nâng tầm trải nghiệm như thuyết minh tự động đa ngôn ngữ, trải nghiệm 3D - 360°, mã QR tại điểm di sản, thực tế ảo tái hiện không gian - nhân vật lịch sử, hướng dẫn trực tuyến giúp du khách tiếp cận dễ dàng hơn. Tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ trong quản lý và kinh doanh du lịch, đào tạo nhân lực, nghiên cứu thị trường, xúc tiến - quảng bá du lịch, hoạt động bảo tồn di tích, thông qua việc xây dựng ngân hàng dữ liệu di sản văn hóa, số hóa công tác quản lý phục vụ phát triển du lịch bền vững.
Thứ ba, các lễ hội, làng nghề, tri thức truyền thống về biển đảo như: lễ hội Cầu Ngư, lễ Rước Sắc, lễ Nghinh Ông, lễ hội Tháp Bà Ponagar, lễ hội Am Chúa, lễ hội Đức Thánh Trần Hưng Đạo, lễ hội Yến sào, lễ hội Thiên Hậu, lễ hội Quan Công… được duy trì thông qua các dự án bảo tồn và phát huy; qua đó giữ gìn, thực hành các lễ hội truyền thống, góp phần bảo tồn hệ thống tín ngưỡng, tri thức dân gian, nghệ thuật diễn xướng và ký ức cộng đồng của cư dân ven biển. Các làng nghề truyền thống, như nghề yến sào, nghề làm nước mắm, làm cá cơm khô ở phường Vĩnh Trường (Nha Trang), sản xuất ngư nghiệp truyền thống ở các làng nghề Trí Nguyên, Vũng Ngán, Bích Đầm… được bảo tồn, gìn giữ, tạo sinh kế ổn định cho cư dân.
Thứ tư, du lịch biển đảo phát triển bứt phá. Năm 2025, tổng lượt khách đến Khánh Hòa ước đạt 16,4 triệu lượt, tăng 14,38% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó khách quốc tế đạt 5,5 triệu lượt, tăng hơn 13,4%. Tổng doanh thu du lịch trong năm ước đạt 66,7 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 16,84% so với cùng kỳ năm 2024, đạt 100% chỉ tiêu (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2025, tr.7). Không chỉ đóng góp vào GDP của tỉnh, ngành du lịch và kinh doanh di sản phát triển còn tạo ra nguồn lực để phục vụ trở lại việc bảo tồn, trùng tu, tôn tạo các di tích trên địa bàn tỉnh (Sở Văn hóa và Thể thao, 2025, tr.7).
Thứ năm, quốc phòng, an ninh trên biển được giữ vững. Thông qua việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo góp phần củng cố bản sắc và chủ quyền biển đảo, đồng thời giáo dục lòng yêu nước, nâng cao nhận thức về chủ quyền biển đảo và tăng cường sự gắn kết cộng đồng. Điều này đóng vai trò quan trọng trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân vững chắc trên biển. Chính những giá trị di sản văn hóa đó đã tạo nguồn lực, sức mạnh nội sinh, “sức mạnh mềm” góp phần củng cố vững chắc thế trận an ninh quốc gia trên biển.
2.3. Hạn chế và nguyên nhân
Thứ nhất, các giá trị di sản văn hóa biển đảo ở Khánh Hòa mặc dù đã được nhận diện và định vị, song nhìn chung vẫn chưa thực sự trở thành nguồn lực, sức mạnh nội sinh và là động lực mạnh mẽ cho sự phát triển bền vững theo đúng lợi thế so sánh về biển đảo. Nhiều vấn đề lý luận về giá trị, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa biển đảo chưa được nghiên cứu, làm rõ đầy đủ. Chưa tạo lập một cách đồng bộ cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo.
Thứ hai, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo gắn với phát triển kinh tế biển, du lịch biển đảo tuy có nhiều khởi sắc, song chưa chặt chẽ và bài bản từ cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành, giữa chính quyền và người dân. Trong một số trường hợp, lợi ích trước mắt từ kinh tế biển, du lịch biển đảo được ưu tiên hơn so với bảo tồn các giá trị di sản văn hóa. Các giá trị di sản văn hóa biển đảo chưa thực sự phát huy “sức mạnh mềm” trong khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên biển đảo.
Thứ ba, nguồn kinh phí dành cho các hoạt động sưu tầm, nghiên cứu, trùng tu di tích, tổ chức, phục dựng các lễ hội truyền thống… vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thực tế; nguồn lực còn dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm. Một số hoạt động bảo tồn còn mang tính thời vụ, phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Công tác xã hội hóa nguồn lực phục vụ bảo tồn các giá trị di sản văn hóa biển đảo còn nhiều hạn chế.
Thứ tư, nhận thức của một bộ phận cán bộ và người dân về vị trí, vai trò của các giá trị di sản văn hóa chưa thực sự đáp ứng tốt yêu cầu từ thực tiễn.
2.4. Một số kinh nghiệm trong hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa biển đảo tại Khánh Hòa thời gian tới
Một là, xác định đúng vị trí, vai trò, tầm quan trọng của các di sản văn hóa biển đảo và công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo trong chiến lược tổng thể phát triển của địa phương. Cần thay đổi nhận thức từ việc xem di sản văn hóa biển đảo chỉ để bảo vệ và khám phá sang coi di sản là nguồn lực thúc đẩy sự phát triển thịnh vượng. Đây cũng là tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết Đại hội XIV (năm 2026) trong “bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế di sản” (ĐCSVN, 2026a, tr.97). Trên cơ sở thống nhất về nhận thức, đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu, định hình hệ giá trị di sản văn hóa biển đảo; chỉ khi đó mới đánh giá chính xác giá trị hiện tồn và tạo lập một cách đồng bộ cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo.
Hai là, gắn kết chặt chẽ giữa bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo với phát triển bền vững kinh tế biển, du lịch biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển. Từ những kết quả đạt được trong gắn kết bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo với kinh tế biển, du lịch biển cho thấy, cần phải chuyển đổi sang phát triển bền vững, gắn mục tiêu phát triển kinh tế, du lịch với bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, đa dạng sinh học và thích ứng với biến đổi khí hậu; đồng thời phải chuyển hóa di sản văn hóa biển đảo thành “sức mạnh mềm” trong khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên biển, trong đó, quán triệt sâu sắc yêu cầu “kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại để phát huy sức mạnh mềm Việt Nam góp phần tạo thế và lực mới cho đất nước” (ĐCSVN, 2026a, tr.114).
Ba là, lấy cộng đồng cư dân vùng biển đảo làm trung tâm trong mọi hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo. Cộng đồng cư dân là chủ thể sáng tạo, giữ gìn, phát huy giá trị di sản văn hóa. Do vậy, các cấp ủy, chính quyền địa phương cần phát huy mạnh mẽ vai trò, vị trí của người dân trong thực thi nhiệm vụ, trên cơ sở đó điều chỉnh cách thức tiến hành trên nguyên tắc: mọi hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa biển đảo đều phải có sự tham gia của cộng đồng cư dân ven biển và hải đảo với tư cách là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ các giá trị di sản văn hóa đó. Quán triệt quan điểm “tổ chức các hoạt động văn hóa theo hướng thiết thực, linh hoạt, lấy địa bàn cơ sở, người dân làm trung tâm” (ĐCSVN, 2026a, tr.98), hướng về cơ sở, quan tâm đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa ở cơ sở để người dân có điều kiện nhiều hơn tham gia sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa biển đảo.
Bốn là, nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa trong bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo. Từ thực tiễn ở tỉnh Khánh Hòa cho thấy, để bảo tồn và phát huy có hiệu quả các giá trị di sản văn hóa biển đảo cần huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, tránh được tình trạng khoán trắng nhiệm vụ này cho ngành văn hóa dẫn tới chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa được triển khai thiếu đồng bộ. Trước yêu cầu ngày càng cao, quán triệt quan điểm mới của Đảng tại Nghị quyết số 80-NQ/TW, đòi hỏi các cấp ủy đảng, chính quyền phải đánh giá đúng tiềm năng, lợi thế, xác định đúng trọng tâm, trọng điểm để chỉ đạo thực hiện có hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo trong giai đoạn mới.
Năm là, đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo. Đây là một trong những kinh nghiệm và là định hướng giải pháp quan trọng nhằm huy động sự tham gia của toàn xã hội vào công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo. Đa dạng hóa các nguồn lực xã hội, huy động nguồn lực của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, sự đóng góp của cộng đồng địa phương; nguồn tài trợ từ hợp tác quốc tế... Bên cạnh đó, cần nghiên cứu ban hành các chính sách nhằm khuyến khích các hoạt động hợp tác trong nghiên cứu, bảo tồn di sản văn hóa biển đảo giữa các địa phương ven biển; mở rộng hợp tác quốc tế nhằm tiếp thu kinh nghiệm, công nghệ và nguồn lực phục vụ công tác bảo tồn giá trị di sản văn hóa biển đảo; phối hợp chung trong trách nhiệm bảo tồn cảnh quan, môi trường đại dương.
3. Kết luận
Tỉnh Khánh Hòa đã cụ thể hóa quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa biển đảo bằng những chủ trương, chính sách và giải pháp phù hợp với thực tiễn địa phương, đạt những kết quả trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản, bản sắc văn hóa biển đảo Khánh Hòa. Trong quá trình đó, di sản văn hóa không chỉ là sự kết tinh của lịch sử, ký ức và đời sống cộng đồng mà còn trở thành cầu nối giữa truyền thống và hiện đại, giữa bảo tồn văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội, giữa phát triển văn hóa với củng cố quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn Khánh Hòa là những gợi mở có giá trị đối với các địa phương có lợi thế về biển đảo, hướng tới bảo tồn gắn với phát triển bền vững, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng Việt Nam “mạnh về biển, giàu từ biển”.
_________________
Ngày nhận bài: 08/7/2026; Ngày bình duyệt: 14/8/2026; Ngày quyết định đăng: 6/9/2026.
Email tác giả: hieuhv3@gmail.com
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
Chính phủ (2023). Nghị quyết số 48/NQ-CP ngày 04/3/2023 Phê duyệt Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn năm 2050.
Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (07/7/2025). Khánh Hòa có đường bờ biển dài nhất Việt Nam sau khi sáp nhập, https://vasi.mae.gov.vn
Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa (2020). Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2020 - 2025.
Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa (2025). Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.
ĐCSVN (2007). Văn kiện Đảng, Toàn tập (Tập 51), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2007). Văn kiện Đảng, Toàn tập (Tập 66), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2018). Văn kiện Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng.
ĐCSVN (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Giang Đình (17/8/2021). Phát huy giá trị đình làng ở xứ Trầm, https://baokhanhhoa.vn
Bùi Hoài Sơn (01/01/2026). 15 thách thức lớn đối với sự phát triển văn hóa trong nhiệm kỳ Đại hội XIV: Nhìn thẳng để bứt phá trong kỷ nguyên mới, Báo Quân đội nhân dân, https://www.qdnd.vn
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa (2025). Báo cáo tham luận của Đảng bộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ nhất.
Nguyễn Phú Trọng (24/11/2021). Ra sức xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, https://www.tapchicongsan.org.vn
Tỉnh ủy Khánh Hòa (2014). Chương trình hành động số 23-CTr/TU ngày 23/10/2014 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước,
Tỉnh ủy Khánh Hòa (2017). Chương trình hành động số 14-CTr/TU ngày 24/7/2017 thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Tỉnh ủy Khánh Hòa (2019). Chương trình hành động số 31-CTr/TU ngày 05/7/2019 thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045” trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.
Tỉnh ủy Khánh Hòa (2023). Nghị quyết số 34 - NQ/TU ngày 22/12/2023 về phát huy các giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững tỉnh Khánh Hòa đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Tỉnh ủy Khánh Hòa (2026). Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 14/5/2026 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030.
Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa, Sở Văn hóa và Thể thao (2022). Báo cáo số 3559/BC-SVHTT ngày 15/12/2022, Báo cáo Tổng kết công tác văn hóa, thể thao năm 2022, phương hướng, nhiệm vụ năm 2023.
Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2025). Báo cáo số 4240/BC-SVHTTDL ngày 26/12/2025, Báo cáo Tổng kết công tác văn hóa, thể thao và du lịch năm 2025, phương hướng, nhiệm vụ năm 2026.
Văn phòng Trung ương Đảng. (2014). Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương khóa XI.