Dân chủ và thực tiễn xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5203
Tóm tắt: Bài viết đánh giá thực trạng quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, làm rõ những thành tựu trong việc thể chế hóa quyền làm chủ của nhân dân cũng như nhận diện những tồn tại, hạn chế từ thực tiễn. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, hoàn thiện thể chế dân chủ đi đôi với kỷ cương, pháp luật, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
ThS NGUYỄN THANH VÂN
Vụ Các trường chính trị,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Dân chủ luôn là khát vọng to lớn của quần chúng nhân dân lao động trên hành trình tự giải phóng khỏi áp bức, bóc lột và bất công. Sau khi giành được chính quyền, trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc thiết lập và không ngừng hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là bản chất, đồng thời là động lực then chốt thúc đẩy sự phát triển xã hội. Tại Việt Nam, công cuộc đổi mới đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết về việc định hình nhận thức và thực hành hiệu quả dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu “phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân” (ĐCSVN, 2026, tr.375). Tuy nhiên, việc thực thi dân chủ trong thực tiễn vẫn còn có mặt hạn chế, đòi hỏi phải nghiên cứu lý luận sâu sắc, kết hợp với đánh giá thực trạng khách quan để tìm ra cách thức giải quyết. Bài viết làm rõ bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, từ đó liên hệ với thực tiễn Việt Nam hiện nay nhằm tìm ra giải pháp xây dựng nền dân chủ ngày càng hoàn thiện, thực chất và bền vững.
2. Nội dung
2.1. Cơ sở lý luận về dân chủ và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Khái niệm dân chủ đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử, “khoảng thế kỷ VII - VI trước Công nguyên, khi các nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại sử dụng cụm từ “demoskratos” để chỉ quyền lực của nhân dân, trong đó “demos” là nhân dân và “kratos” là cai trị” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2021, tr.126). Trải qua các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, nội hàm của dân chủ không ngừng được mở rộng nhưng về cơ bản vẫn giữ nguyên giá trị cốt lõi là quyền lực thuộc về nhân dân. Sự ra đời của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, khởi nguồn từ Công xã Pari năm 1871 và chính thức xác lập trên thực tế sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử khi đưa đại đa số quần chúng nhân dân nước Nga Xô viết lên địa vị người chủ chân chính của xã hội.
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ, dân chủ trước hết là một giá trị tiến bộ của nhân loại, là sản phẩm và thành quả của quá trình đấu tranh giai cấp của những người lao động. Xét trên phương diện chế độ xã hội và lĩnh vực chính trị, dân chủ gắn liền với bản chất của giai cấp cầm quyền. Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ, dân chủ là một phạm trù lịch sử, ra đời và phát triển gắn liền với nhà nước và sẽ mất đi khi nhà nước tiêu vong trong xã hội cộng sản chủ nghĩa tương lai. V.I.Lênin khẳng định, “Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần” (V.I.Lênin, 2005, tr.312), bởi nó là chế độ dân chủ vì lợi ích của đại đa số nhân dân lao động.
Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã phát triển khái niệm dân chủ trên cơ sở coi dân chủ là một giá trị xã hội mang tính phổ quát toàn nhân loại. Người chỉ rõ mọi quyền hạn đều thuộc về nhân dân và dân chủ phải được thể hiện một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, tinh thần. Người khẳng định “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào - đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.83-84).
Trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện phương châm “lấy dân làm gốc” trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân là trọng tâm của quá trình đổi mới đất nước. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mang những đặc trưng sau:
Về chính trị: đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của một Đảng của giai cấp công nhân, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, thể hiện qua việc nhân dân lao động tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào xây dựng bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương và đóng góp ý kiến vào việc xây dựng chính sách, pháp luật. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là điều kiện tiên quyết để nền dân chủ đi đúng hướng, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân.
Về kinh tế: dựa trên chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội, đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân đối với quá trình sản xuất, quản lý và phân phối. Khác với nền dân chủ tư sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa vận hành theo cơ chế phân phối theo kết quả lao động, thiết lập sự bình đẳng về kinh tế từ đó xóa bỏ tận gốc nguồn gốc của áp bức, bóc lột.
Về tư tưởng, văn hóa và xã hội: lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng, kế thừa và phát huy tinh hoa văn hóa truyền thống, thành tựu văn minh của nhân loại. Sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân, tập thể và toàn xã hội trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã tạo ra sự hài hòa lợi ích giữa cá nhân, tập thể và xã hội, tạo động lực to lớn khơi dậy tiềm năng sáng tạo của nhân dân.
2.2. Kết quả xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Chế độ dân chủ nhân dân ở nước ta được xác lập từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và không ngừng được củng cố, phát triển trong suốt các thời kỳ lịch sử. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhận thức về dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được hoàn thiện và thể chế hóa sâu rộng. Đảng ta khẳng định, dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước; là mục tiêu tổng quát của cách mạng Việt Nam trong xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Về thực thi dân chủ đại diện
Những thành tựu trong thực thi dân chủ gián tiếp (hay dân chủ đại diện) được thể hiện rõ nét qua sự tham gia tích cực, tự giác của nhân dân vào việc bầu cử các cơ quan quyền lực nhà nước. Thành công của các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp là điểm nổi bật khi ghi nhận tỷ lệ cử tri đi bầu luôn ở mức cao trên cả nước, trực tiếp thực hiện quyền công dân của mình. Điều này minh chứng cho ý thức trách nhiệm chính trị cao của người dân, đồng thời phản ánh niềm tin vững chắc của quần chúng vào hệ thống thể chế dân chủ đại diện. Cơ cấu đại biểu Quốc hội các khóa cho thấy sự vươn lên mạnh mẽ về tính dân chủ, bình đẳng thể hiện ở tỷ lệ đại biểu là người dân tộc thiểu số và đại biểu nữ. Khẳng định Quốc hội thực sự là “cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước, thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp theo đúng tinh thần Hiến pháp” (Quốc hội, 2013). Tính công khai, minh bạch trong hoạt động của Quốc hội ngày càng được nâng cao thông qua các phiên chất vấn, giải trình, nơi các lãnh đạo bộ, ngành thực hiện trách nhiệm giải trình trực tiếp trước cử tri cả nước về những vấn đề kinh tế, dân sinh.
Về thực thi dân chủ trực tiếp
Những năm qua, dân chủ trực tiếp đã đạt được những bước tiến vượt bậc. Sự ra đời của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 tạo hành lang pháp lý vững chắc, đưa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đi vào chiều sâu của đời sống thực tiễn (Quốc hội, 2022). Hiệu quả quá trình này được phản ánh sinh động qua Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI). Theo đó, điểm số ở trục nội dung “Tham gia của người dân ở cấp cơ sở” và “Công khai, minh bạch trong ra quyết định” đã ghi nhận sự cải thiện đáng kể ở nhiều tỉnh thành, cho thấy nỗ lực của chính quyền địa phương trong việc mở rộng không gian dân chủ (UNDP, 2024). Tỷ lệ người dân tham gia đóng góp ý kiến vào các dự án quy hoạch sử dụng đất và xây dựng hạ tầng tại xã, phường tiếp tục gia tăng. Cùng với đó, Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) liên tục duy trì ở mức cao trên 80%, cho thấy sự chuyển biến tích cực trong tư duy phục vụ của bộ máy công quyền từ “quản lý” sang “kiến tạo, phục vụ”” (Bộ Nội vụ, 2023). Sự tham gia trực tiếp của người dân còn được thúc đẩy mạnh mẽ qua quá trình chuyển đổi số. Tính đến cuối năm 2023, Cổng Dịch vụ công quốc gia đã thu hút hàng chục triệu tài khoản đăng ký và xử lý khối lượng khổng lồ các hồ sơ trực tuyến, giúp người dân giám sát trực tiếp tiến độ giải quyết thủ tục hành chính.
Những điểm nghẽn
Mặc dù đã đạt được những thành tựu mang tính lịch sử, quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vẫn đang phải đối diện với không ít khó khăn, thách thức và những điểm nghẽn cần tháo gỡ. Đảng đã thi hành kỷ luật các tổ chức đảng và đảng viên sai phạm, một mặt cho thấy quyết tâm chính trị trong việc làm trong sạch bộ máy, bảo vệ nền dân chủ; nhưng mặt khác phản ánh sự suy thoái nghiêm trọng về đạo đức công vụ của một bộ phận đảng viên được trao quyền lực, đi ngược lại lợi ích của nhân dân.
Bên cạnh đó, năng lực làm chủ, trình độ nhận thức pháp luật và kỹ năng thực hành dân chủ của một bộ phận nhân dân còn hạn chế, dẫn đến tình trạng thờ ơ với các công việc chung của đất nước hoặc ngược lại, đòi hỏi dân chủ cực đoan, khiếu kiện vượt cấp kéo dài. Trên mặt trận tư tưởng, các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng không gian mạng và chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để xuyên tạc, kích động biểu tình, gây bạo loạn nhằm thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, cố tình bôi nhọ và phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Những trở ngại này đòi hỏi hệ thống chính trị phải tiếp tục có những giải pháp chiến lược, đồng bộ và quyết liệt để không ngừng củng cố, hoàn thiện nền dân chủ trong giai đoạn mới.
2.3. Giải pháp xây dựng, phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Để nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần thực hiện những giải pháp sau:
Một là, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và kiện toàn bộ máy nhà nước pháp quyền. Điều kiện tiên quyết là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực cầm quyền và sức chiến đấu. Cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phải là những tấm gương mẫu mực về thực hành dân chủ sâu rộng, gắn dân chủ với kỷ cương, kiên quyết phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nhà nước thể chế hóa đầy đủ quyền con người, quyền công dân, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, thiết lập chế tài nghiêm minh đối với hành vi lạm quyền và hành vi lợi dụng dân chủ; thực hiện hiệu quả quyền dân chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực, bảo đảm mọi chính sách, pháp luật phải có đủ chế tài nghiêm minh để bảo vệ quyền tự do của công dân, trừng trị thích đáng mọi hành vi lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật, xâm phạm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Hai là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động để nâng cao vị trí, vai trò trong việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tạo ra khối đại đoàn kết toàn dân, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, tạo cơ chế thuận lợi để nhân dân tham gia giám sát, phản biện chính sách. Việc thực hiện hiệu quả cơ chế giám sát và phản biện xã hội là khâu đột phá để các chủ trương, chính sách thực sự bám sát thực tiễn và nhận được sự đồng thuận xã hội.
Ba là, củng cố nền tảng kinh tế. Hoàn thiện khung pháp lý về sở hữu trí tuệ, cổ phần hóa, quản lý tài sản công và minh bạch hóa các quan hệ kinh tế để khơi dậy mọi tiềm năng sáng tạo của xã hội. Đẩy mạnh cải cách hành chính từ thể chế, bộ máy, thủ tục hành chính nhằm xóa bỏ các rào cản, tạo môi trường kinh doanh minh bạch, kiến tạo động lực phát triển cho mọi tầng lớp nhân dân. Tạo môi trường bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn lực kinh tế, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mọi thành phần kinh tế. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xóa bỏ rào cản, tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch để giải phóng sức sản xuất của toàn xã hội.
Bốn là, nâng cao dân trí và kiến tạo văn hóa pháp quyền. Nền dân chủ chỉ thực sự vững mạnh khi được xây dựng trên một nền tảng dân trí cao. Do đó, đầu tư cho giáo dục, phổ biến pháp luật nhằm xóa bỏ tư tưởng lạc hậu, nâng cao năng lực thực hành dân chủ của người dân là giải pháp mang tính gốc rễ. Khi ý thức được quyền lợi song hành cùng nghĩa vụ, người dân sẽ là chủ thể tự giác kiến tạo và bảo vệ nền dân chủ. Chỉ khi người dân có đầy đủ tri thức, nhận thức rõ ràng về quyền lợi đi đôi với nghĩa vụ, họ mới có thể thực hiện đúng, đầy đủ quyền làm chủ của mình, đồng thời tự giác tuân thủ kỷ cương, kỷ luật xã hội, tạo thành bức tường thành vững chắc chống lại mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch.
3. Kết luận
Dân chủ xã hội chủ nghĩa mang giá trị phổ quát, phản ánh khát vọng ngàn đời của nhân loại về công bằng, tự do, đồng thời là động lực cho sự phát triển bền vững của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đưa quyền lực vào tay nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo kiên định, sáng suốt của Đảng và sự quản lý thống nhất bằng pháp luật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Quá trình dân chủ không phải là một trạng thái tĩnh. Việc đối diện với những thách thức phức tạp, những mặt trái của kinh tế thị trường và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi sự nỗ lực, quyết tâm chính trị cao độ của cả hệ thống chính trị. Phát huy dân chủ luôn phải song hành cùng pháp chế và kỷ cương xã hội, thực hiện triệt để phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” là con đường tất yếu để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng xây dựng quốc gia phồn vinh, hạnh phúc, vững bước trên con đường xã hội chủ nghĩa.
_________________
Ngày nhận bài: 05/9/2026; Ngày bình duyệt: 10/9/2026; Ngày quyết định đăng: 14/9/2026
Email tác giả: nguyenthanhvan0505@gmail.com
Tài liệu tham khảo:
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021). Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý luận chính trị). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Bộ Nội vụ (2023). Báo cáo Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2023.
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 13). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.
V.I.Lênin (2005). Toàn tập (Tập 37). Nxb Chính trị quốc gia.
Quốc hội (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
Quốc hội (2022). Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (Luật số 10/2022/QH15).
UNDP (2024). Báo cáo Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) năm 2023.