Quá trình chuyển hóa sức mạnh mềm của Việt Nam từ nguồn lực đến ảnh hưởng quốc tế
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5204
Tóm tắt: Trong môi trường quốc tế ngày càng phân tán quyền lực và cạnh tranh ảnh hưởng, sức mạnh mềm trở thành một thành tố quan trọng của năng lực quốc gia. Tuy nhiên, sở hữu nguồn lực hấp dẫn không đồng nghĩa với có khả năng tạo ảnh hưởng quốc tế. Bài viết làm rõ quá trình chuyển hóa nguồn lực mềm của Việt Nam từ bản sắc văn hóa, con người và năng lực thích ứng; uy tín của đường lối và thực tiễn hoạt động đối ngoại; thành tựu phát triển và hành vi quốc tế có trách nhiệm thành sự tiếp nhận, tin cậy và ảnh hưởng quốc tế. Đồng thời chỉ ra bốn điểm nghẽn về quản trị, chuỗi giá trị sáng tạo, truyền thông dựa trên lắng nghe và đo lường, từ đó đề xuất khung “nguồn lực - chuyển hóa - tiếp nhận - ảnh hưởng”, nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ quảng bá nguồn lực sang nâng cao khả năng chuyển hóa nguồn lực thành ảnh hưởng quốc tế có thể kiểm chứng. Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài: “Nghiên cứu giải pháp phát huy sức mạnh mềm của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế” của Đại học Quốc gia Hà Nội, mã số QG.25.75.
TS NGUYỄN DUY QUỲNH
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội
PGS, TS HOÀNG ANH
Tạp chí Lý luận chính trị,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Sự phân tán quyền lực, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, gia tăng phụ thuộc lẫn nhau và sự phát triển của không gian số đang làm thay đổi cách thức tạo lập ảnh hưởng quốc tế. Quyền lực quân sự và kinh tế vẫn giữ vai trò nền tảng, nhưng ngày càng cần được bổ trợ bởi sức hấp dẫn, sự tin cậy và tính chính đáng. Sức mạnh mềm, dưới góc độ hành vi, là khả năng định hình mong muốn và lựa chọn của chủ thể khác thông qua sức hấp dẫn thay vì cưỡng chế hay chi trả; đồng thời, nguồn lực sức mạnh mềm là những tài sản có khả năng tạo ra sức hấp dẫn đó (Nye, 2004, tr.5-6). Mặc dù vậy, sở hữu nguồn lực không tự động tạo ra ảnh hưởng. Kết quả phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa có chiến lược các nguồn lực sức mạnh mềm thành sự tiếp nhận, tin cậy và những lựa chọn thuận lợi từ phía công chúng, đối tác.
Đối với Việt Nam, vấn đề này có ý nghĩa chiến lược trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu: “Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao” (ĐCSVN, 2021, tr.112). Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã tích lũy nhiều nguồn lực sức mạnh mềm, thể hiện ở chiều sâu văn hóa, phẩm chất và năng lực thích ứng của con người, thành tựu phát triển và hội nhập, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao. Đại hội XIII của Đảng yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa trên cơ sở “xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam” (ĐCSVN, 2021, tr.145). Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh: “Coi hội nhập quốc tế về văn hóa là cơ hội để truyền bá văn hóa Việt Nam ra thế giới, tăng cường ‘sức mạnh mềm’ của quốc gia” (ĐCSVN, 2026, tr.54).
Tuy nhiên, thách thức đối với Việt Nam nằm ở khả năng chuyển những nguồn lực đó thành ảnh hưởng quốc tế thực tế. Di sản chỉ trở thành sức hấp dẫn khi được sáng tạo, diễn giải và đưa tới công chúng có khả năng tiếp nhận; đường lối, chính sách chỉ tạo uy tín khi được bảo chứng bằng hành động nhất quán trong thực tiễn; thành tựu phát triển chỉ trở thành sức thuyết phục khi hướng đến nâng cao cuộc sống của người dân và nhận được những đánh giá tích cực. Vì vậy, vấn đề cốt lõi không chỉ là Việt Nam có những nguồn lực gì?, mà là những nguồn lực ấy được chuyển hóa thành sự chú ý, thiện cảm, tin cậy, lựa chọn hợp tác và ảnh hưởng quốc tế như thế nào?.
Từ tiếp cận nghiên cứu này, bài viết khái quát cơ sở lý thuyết về sức mạnh mềm; lý thuyết về ngoại giao công chúng; về môi trường quốc tế đương đại, các nguồn lực chủ yếu, cơ chế chuyển hóa và những điểm nghẽn của sức mạnh mềm Việt Nam, qua đó đề xuất định hướng và giải pháp chuyển hóa nguồn lực sức mạnh mềm thành ảnh hưởng quốc tế.
2. Nội dung
2.1. Cơ sở lý thuyết, phương pháp và khung phân tích
Lý thuyết sức mạnh mềm đặt trọng tâm vào khả năng đạt được kết quả mong muốn thông qua sức hấp dẫn, với ba nguồn cơ bản là văn hóa, các giá trị chính trị và chính sách đối ngoại khi được nhìn nhận là chính đáng (Nye, 2004, tr.11). Trong các nghiên cứu sau đó, Nye phân biệt nguồn lực quyền lực với kết quả hành vi và nhấn mạnh vai trò của chiến lược chuyển hóa: cùng một nguồn lực có thể tạo ra những kết quả khác nhau tùy bối cảnh và đặc điểm công chúng mục tiêu (Nye, 2011, tr.10-11, 58). Do đó, sức mạnh mềm không phải danh mục tài sản tĩnh, mà là một quan hệ trong đó giá trị của nguồn lực còn được xác lập thông qua sự tiếp nhận của công chúng mục tiêu.
Lý thuyết về ngoại giao công chúng đóng vai trò làm rõ “khâu trung gian” của tiến trình chuyển hóa này. Cull xác định năm cấu phần gồm lắng nghe, vận động, ngoại giao văn hóa, trao đổi và phát thanh quốc tế, trong đó lắng nghe được đặt ở vị trí tiên phong, đi trước các hợp phần còn lại, bởi việc thấu hiểu sâu sắc công chúng mục tiêu là điều kiện quyết định để kiến tạo một nền ngoại giao công chúng thực sự hiệu quả (Cull, 2008, tr.31-32).
Melissen nhấn mạnh sự chuyển dịch từ truyền thông một chiều sang gắn kết công chúng và xây dựng quan hệ lâu dài (Melissen, 2005, tr.13, 21). Đối với Việt Nam, Rawnsley và Ngac (2016) cùng cho thấy tiềm năng của ngoại giao văn hóa, đồng thời gợi mở yêu cầu tăng tính chiến lược và khả năng chuyển nguồn lực tĩnh thành ảnh hưởng thực tế. Nhìn chung, các nghiên cứu hiện có đã làm rõ nhiều nguồn lực và công cụ sức mạnh mềm của Việt Nam, song cơ chế chuyển từ nguồn lực qua sự tiếp nhận của công chúng tới kết quả ảnh hưởng chưa được phân tích một cách hệ thống.
Lý thuyết về môi trường quốc tế đương đại cũng làm thay đổi điều kiện vận hành của sức mạnh mềm. Acharya sử dụng khái niệm “trật tự thế giới phức hợp” (multiplex world order) để mô tả một thế giới đa dạng về chính trị, văn hóa nhưng liên kết sâu về kinh tế và thể chế, trong đó quyền lực và quản trị còn được định hình bởi các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp và mạng lưới xuyên quốc gia (Acharya, 2017, tr.276-277). Cạnh tranh ảnh hưởng vì thế diễn ra không chỉ bằng năng lực vật chất mà còn qua luật lệ, chuẩn mực, tri thức, công nghệ, văn hóa và mạng lưới. Cấu trúc đó vừa gia tăng cạnh tranh, vừa mở thêm không gian hành động cho các quốc gia không phải cường quốc.
Nghiên cứu về sự nổi lên của Việt Nam như một quốc gia tầm trung cho thấy vai trò quốc tế không chỉ phụ thuộc vào quy mô vật chất mà còn gắn với khả năng duy trì quan hệ với các nước lớn, vai trò trong ASEAN và không gian tự chủ chiến lược (Do Thi Thuy, 2022, tr.290-291). Đối với sức mạnh mềm, điều này hàm ý rằng ảnh hưởng của Việt Nam còn được định hình bởi độ tin cậy, khả năng kết nối, tính nhất quán và giá trị mà Việt Nam mang lại cho quan hệ hợp tác với các nước.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong quá trình triển khai nghiên cứu là phương pháp định tính, kết hợp phân tích tài liệu, tổng hợp lý thuyết và đối chiếu chính sách. Quá trình phân tích gồm ba bước: hệ thống hóa các tiếp cận về sức mạnh mềm và chuyển hóa nguồn lực sức mạnh mềm; nghiên cứu quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về văn hóa, công nghiệp văn hóa và đối ngoại để nhận diện nguồn lực, cơ chế chuyển hóa, điểm nghẽn; đối chiếu với nghiên cứu về Việt Nam và dữ liệu nhận thức quốc tế để xem xét cách các nguồn lực được tiếp nhận. Các bảng xếp hạng quốc tế chỉ được dùng như chỉ báo tham khảo, không phải thước đo toàn diện hay căn cứ suy luận quan hệ nhân quả.
Khung phân tích được xây dựng gồm 4 chỉ số: nguồn lực mềm (văn hóa, giá trị, con người, thành tựu phát triển, uy tín); cơ chế chuyển hóa (chính sách, ngoại giao công chúng, công nghiệp văn hóa, giáo dục, du lịch, truyền thông, nền tảng số và mạng lưới); sự tiếp nhận (biết đến, hiểu, thiện cảm, tin cậy, sẵn sàng tương tác); và ảnh hưởng quốc tế (thu hút hợp tác, gia tăng giá trị, tập hợp ủng hộ, mở rộng không gian thực hiện lợi ích chính đáng). “Ảnh hưởng quốc tế” ở trong bài viết chỉ những kết quả được tạo ra chủ yếu bằng sức hấp dẫn, thuyết phục, uy tín và quan hệ tự nguyện. Đóng góp của nghiên cứu là đặt cơ chế chuyển hóa và sự tiếp nhận vào giữa quan hệ từ nguồn lực mềm Việt Nam đến ảnh hưởng quốc tế.
2.2. Cấu trúc nguồn lực sức mạnh mềm Việt Nam
Có nhiều khái quát về cấu trúc sức mạnh mềm Việt Nam, ở tiếp cận nghiên cứu này, bài viết bước đầu phân tích cấu trúc này trên 3 nội dung chủ yếu:
Một là, bản sắc văn hóa, con người và năng lực thích ứng tạo nên tầng nền của sức mạnh mềm Việt Nam. Lòng yêu nước, ý thức cộng đồng, tinh thần nhân ái, hiếu học cùng quá trình tiếp biến văn hóa với các yếu tố bên ngoài hình thành một bản sắc vừa có tính liên tục, vừa có khả năng thích ứng. Sự đa dạng về vùng miền, tộc người, di sản, nghệ thuật, ẩm thực và cảnh quan cung cấp chất liệu để Việt Nam tạo dựng hình ảnh một xã hội mang chiều sâu văn hóa dân tộc nhưng năng động, cởi mở.
Tuy nhiên, giá trị văn hóa chỉ trở thành sức mạnh mềm quốc gia khi được chuyển hóa thành những sản phẩm, trải nghiệm và biểu tượng mà công chúng quốc tế có thể tiếp cận, nhận biết và gắn với Việt Nam. Ảnh hưởng bền vững đòi hỏi chuỗi giá trị từ sáng tạo, thiết kế, sản xuất đến bảo hộ sở hữu trí tuệ, bản địa hóa và phân phối xuyên biên giới. Bảo tồn tạo nên tính xác thực của nguồn lực; sáng tạo và công nghiệp văn hóa quyết định khả năng biến nguồn lực thành giá trị kinh tế và mở rộng phạm vi ảnh hưởng. Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 và Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã tạo nền tảng chính sách cho quá trình này (Thủ tướng Chính phủ, 2021, 2025).
Hai là, uy tín của đường lối và thực tiễn hoạt động đối ngoại là một nguồn lực quan trọng trong quá trình tạo dựng niềm tin. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế tạo điều kiện để Việt Nam duy trì quan hệ, mở rộng không gian hợp tác và củng cố mức độ tin cậy của các đối tác, làm cho các đối tác nhận diện Việt Nam như một chủ thể độc lập, nhất quán, có thể dự báo và sẵn sàng hợp tác.
Trong môi trường cạnh tranh chiến lược, độc lập, tự chủ giúp Việt Nam phát triển quan hệ với nhiều đối tác mà vẫn giữ vững các nguyên tắc nền tảng về lợi ích quốc gia - dân tộc, Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế và giải quyết hòa bình các bất đồng. Những đóng góp thực chất tại ASEAN, Liên hợp quốc, trong hoạt động gìn giữ hòa bình, xây dựng đồng thuận và xử lý các vấn đề khu vực có khả năng tích lũy niềm tin khi tạo ra giá trị thực cho đối tác. Khả năng tạo ảnh hưởng quốc tế vì thế phụ thuộc vào mức độ nhất quán giữa nguyên tắc được tuyên bố, phương thức ứng xử và giá trị mà các đối tác thực sự nhận được.
Ba là, thành tựu phát triển và hành vi quốc tế có trách nhiệm là cơ sở quan trọng để tích lũy uy tín và niềm tin. Sau 40 năm đổi mới, quá trình giảm nghèo, mở cửa kinh tế, cải thiện đời sống và hội nhập quốc tế đã hình thành câu chuyện về một quốc gia có khả năng thích ứng, cải cách và phát triển trong điều kiện nhiều khó khăn. Giá trị mềm của kinh nghiệm đó không chỉ ở việc nhìn nhận Việt Nam như một mô hình để làm theo, mà còn ở khả năng tạo sự quan tâm, chia sẻ kinh nghiệm và mở rộng hợp tác với các quốc gia có điều kiện và những hướng phát triển đất nước tương đồng.
Uy tín phát triển được củng cố khi đi cùng hành vi quốc tế có trách nhiệm. Việc Việt Nam tham gia chủ động vào ASEAN, Liên hợp quốc và các cơ chế đa phương; đóng góp cho hoạt động gìn giữ hòa bình; thúc đẩy đối thoại và hợp tác trước các thách thức chung góp phần chuyển hình ảnh tích cực thành mức độ tin cậy cao hơn. Ở đây, sức hấp dẫn không chỉ xuất phát từ những gì Việt Nam đạt được cho mình, mà còn từ khả năng đóng góp những giá trị có ích cho cộng đồng quốc tế. Dữ liệu nhận thức quốc tế cung cấp một chỉ báo minh chứng thực tiễn cho quá trình này. Theo Global Soft Power Index 2026, Việt Nam đứng thứ 52/193 quốc gia và thứ 9 tại châu Á; một số thuộc tính được đánh giá tích cực gồm tiềm năng tăng trưởng, ẩm thực, quan hệ với các quốc gia khác, môi trường kinh doanh và công nghệ - đổi mới (Brand Finance, 2026). Giá trị của dữ liệu này chủ yếu nằm ở việc cho thấy những nguồn lực nào đã tạo được liên tưởng tích cực và những khía cạnh nào vẫn cần được chuyển hóa tốt hơn thành mức độ nhận biết, tin cậy và ảnh hưởng quốc tế.
2.3. Cơ chế chuyển hóa sức mạnh mềm của Việt Nam từ nguồn lực thành ảnh hưởng quốc tế
Các nguồn lực sức mạnh mềm không vận hành biệt lập mà tương tác, bổ trợ cho nhau trong quá trình chuyển hóa thành ảnh hưởng quốc tế. Hiệu quả của quá trình này phụ thuộc không chỉ vào giá trị nội tại của nguồn lực mà còn vào năng lực tổ chức, truyền tải và sự tiếp nhận của công chúng, đối tác bên ngoài.
Ba nhóm nguồn lực như bài viết trình bày chỉ có thể tạo ảnh hưởng khi được kích hoạt thông qua các chủ thể và cơ chế chuyển hóa phù hợp. Sức mạnh mềm Việt Nam vì vậy ngày càng mang tính chất của một hệ sinh thái đa chủ thể.
Thứ nhất, chủ thể của quá trình chuyển hóa. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo môi trường, chính sách và uy tín đối ngoại, nhưng hình ảnh quốc gia còn được tạo ra qua sản phẩm doanh nghiệp, nghiên cứu và trao đổi của trường đại học, trải nghiệm tại địa phương, hoạt động của giới sáng tạo và tương tác của công dân. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có vị trí đặc biệt vì vừa kết nối văn hóa, tri thức, kinh doanh, vừa có khả năng diễn giải Việt Nam bằng kinh nghiệm của xã hội sở tại.
Thứ hai, phương thức chuyển hóa. Không gian số mở rộng khả năng tiếp cận công chúng quốc tế nhưng cũng thay đổi điều kiện chuyển hóa sức mạnh mềm. Quyền lựa chọn và phân phối nội dung ngày càng chịu tác động của nền tảng xuyên quốc gia, thuật toán và hành vi người dùng; vì vậy, sự hiện diện nhiều chưa đồng nghĩa với tạo được nhận diện hay niềm tin. Năng lực tạo ảnh hưởng đòi hỏi chất lượng nội dung, dữ liệu về công chúng, khả năng bản địa hóa, bảo vệ tài sản trí tuệ và đối thoại đáng tin cậy. Sức mạnh mềm Việt Nam do đó cần được nhìn như kết quả của quá trình đồng kiến tạo, trong đó Nhà nước định hướng và kết nối, còn các chủ thể xã hội trực tiếp tạo nên sản phẩm, trải nghiệm và quan hệ.
2.4. Những điểm nghẽn trong chuyển hóa nguồn lực thành ảnh hưởng quốc tế
Đối chiếu giữa tiềm năng nguồn lực và quá trình chuyển hóa cho thấy hạn chế của sức mạnh mềm Việt Nam hiện nay không chủ yếu nằm ở sự thiếu hụt nguồn lực, mà ở khả năng kết nối các nguồn lực đó với công chúng mục tiêu và kết quả ảnh hưởng. Có thể nhận diện bốn điểm nghẽn chủ yếu như sau:
Thứ nhất, quản trị còn phân tán và thiếu một khung kết quả thống nhất. Hoạt động liên quan đến sức mạnh mềm trải rộng trên văn hóa, đối ngoại, truyền thông, du lịch, giáo dục, khoa học - công nghệ, thương mại và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Sự đa dạng chủ thể là cần thiết, nhưng khi mục tiêu, dữ liệu, ngân sách và tiêu chí đánh giá chủ yếu được tổ chức theo từng ngành, khả năng tích lũy thành ảnh hưởng quốc gia bị hạn chế. Điểm nghẽn phản ánh sự thiếu logic nối từ nguồn lực, công chúng mục tiêu và hoạt động chuyển hóa đến thay đổi về nhận thức, tin cậy và hành vi. Số sự kiện, ấn phẩm hay lượt tiếp cận trong thực tiễn mới phản ánh sản lượng, chưa cho biết công chúng hiểu gì về Việt Nam và liệu sự thay đổi nhận thức có dẫn đến những thay đổi về hành vi và lựa chọn hợp tác hay không.
Thứ hai, chuỗi giá trị sáng tạo và năng lực phân phối chưa tương xứng với tiềm năng nguồn lực. Việt Nam có chất liệu văn hóa phong phú, nhưng khoảng cách giữa tài nguyên văn hóa và sản phẩm văn hóa có khả năng cạnh tranh, lưu thông, tạo nhận diện quốc tế vẫn đang là một vấn đề cần phát triển trong thực tiễn. Điểm tồn tại này nằm ở cả chuỗi: phát triển ý tưởng, đầu tư, công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ, bản địa hóa, tiếp thị và phân phối. Trong kinh tế nền tảng, “được nhìn thấy” chưa đồng nghĩa với tạo được giá trị và nhận diện quốc gia; nếu không làm chủ tốt hơn bản quyền, dữ liệu, bản địa hóa và kênh thị trường, nội dung có thể được yêu thích nhưng giá trị gia tăng và khả năng gắn sản phẩm với hình ảnh Việt Nam lại bị phân tán hoặc do khâu trung gian chi phối.
Thứ ba, truyền thông đối ngoại chưa thực sự dựa đầy đủ vào lắng nghe và phân khúc công chúng. Sức mạnh mềm phụ thuộc mạnh vào cách công chúng tiếp nhận, trong khi một thông điệp chung khó đồng thời thuyết phục nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư, học giả, thanh niên và du khách. Hạn chế về nghiên cứu công chúng, nội dung ngoại ngữ chuyên sâu, phân khúc đối tượng và khả năng phản hồi nhanh có thể làm giảm hiệu quả của những nguồn lực vốn có giá trị. Đồng thời, tiếng nói của chuyên gia, doanh nhân, cựu sinh viên, nghệ sĩ hay người Việt Nam ở nước sở tại cũng là một kênh truyền thông quan trọng. Đa dạng hóa chủ thể truyền đạt vì thế là một điều kiện để tăng tính xác thực và độ tin cậy của thông điệp.
Thứ tư, còn tồn tại một số khoảng cách giữa hình ảnh và trải nghiệm, trong khi năng lực đo lường ảnh hưởng còn hạn chế. Sức mạnh mềm không chỉ được hình thành qua những gì một quốc gia nói về mình, mà còn qua những gì công chúng trực tiếp trải nghiệm. Chất lượng dịch vụ, môi trường đầu tư - kinh doanh, ứng xử tại điểm đến, giáo dục, an toàn dữ liệu, môi trường hay xử lý khủng hoảng đều có thể củng cố hoặc làm suy giảm uy tín; nhiều chính sách trong nước vì thế đồng thời tạo ra hệ quả đối với sức mạnh mềm. Mặt khác, nếu chỉ dựa vào số sự kiện, lượt xem, độ phủ truyền thông hoặc thứ hạng quốc tế thì khó xác định nguồn lực nào thực sự tạo ảnh hưởng và ảnh hưởng ở công chúng nào. Bảng xếp hạng có giá trị tham khảo nhưng không thể thay thế khảo sát theo từng thị trường và dữ liệu theo thời gian.
2.5. Một số giải pháp chuyển hóa nguồn lực sức mạnh mềm Việt Nam thành ảnh hưởng quốc tế
Từ cấu trúc, cơ chế chuyển hóa và những điểm nghẽn nêu trên, việc chuyển hóa nguồn lực sức mạnh mềm Việt Nam thành ảnh hưởng quốc tế cần được thực hiện đồng bộ, từ quản trị, sáng tạo và phân phối đến tiếp cận công chúng, phát huy mạng lưới chủ thể và đo lường kết quả. Trọng tâm là tạo sự tiếp nhận tích cực và chuyển hóa nguồn lực thành ảnh hưởng có thể nhận biết, kiểm chứng.
Thứ nhất, xây dựng cơ chế quản trị tích hợp và khung câu chuyện quốc gia có khả năng thích ứng. Cần tăng cường điều phối liên ngành ở tầm quốc gia, gắn sức mạnh mềm với mục tiêu phát triển và đối ngoại. Cơ chế này không nhất thiết tập trung mọi hoạt động vào một đầu mối, nhưng phải hình thành khung kết quả chung: xác định mục tiêu, công chúng và địa bàn ưu tiên; chia sẻ dữ liệu; phân công trách nhiệm; huy động doanh nghiệp, trường đại học, địa phương và giới sáng tạo; đồng thời đánh giá định kỳ mức chuyển biến từ nhận biết đến tin cậy và hợp tác.
Việt Nam đồng thời cần một khung câu chuyện quốc gia nhất quán nhưng có năng lực thích ứng, xoay quanh ba lớp giá trị: Giàu bản sắc, nhân văn; đối tác độc lập, hòa bình, đáng tin cậy; quốc gia năng động, đổi mới và có trách nhiệm. Khung này phải được chuyển thể theo từng nhóm công chúng và được bảo chứng bằng chính sách, sản phẩm, con người và trải nghiệm thực tế. Sự nhất quán giữa thông điệp và bằng chứng chính sách quan trọng hơn việc gia tăng số lượng thông điệp.
Thứ hai, phát triển công nghiệp văn hóa thành một hạ tầng quan trọng của quá trình chuyển hóa nguồn lực mềm. Công nghiệp văn hóa cần được coi không chỉ là một ngành kinh tế mà còn là cơ chế đưa giá trị văn hóa thành sản phẩm, trải nghiệm và nhận diện quốc tế. Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tạo khuôn khổ quan trọng cho định hướng này (Thủ tướng Chính phủ, 2025). Trọng tâm cần chuyển từ hoạt động đơn lẻ sang củng cố toàn bộ chuỗi giá trị sáng tạo, từ ý tưởng, sản xuất, tài chính, công nghệ đến bản quyền, bản địa hóa và phân phối.
Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thị trường thông qua hạ tầng dùng chung, dữ liệu văn hóa, hỗ trợ dịch thuật, ươm tạo dự án và thực thi quyền sở hữu trí tuệ; đồng thời tạo điều kiện cho vốn tư nhân và doanh nghiệp sáng tạo. Phân phối quốc tế phải được tính từ khâu phát triển sản phẩm. Thành công cần được đo không chỉ bằng giải thưởng hay lượt xem, mà bằng khả năng duy trì công chúng, doanh thu bản quyền, hợp đồng phân phối và mức độ nhận diện xuất xứ Việt Nam.
Thứ ba, đổi mới ngoại giao công chúng dựa trên nguyên tắc lắng nghe, phân khúc và đối thoại. Đối với các địa bàn ưu tiên, cần xây dựng hồ sơ công chúng, xác định các nhóm công chúng ưu tiên và những chủ thể có khả năng lan tỏa thông tin, định hình nhận thức và lựa chọn kênh tương tác phù hợp. Dữ liệu từ cơ quan đại diện, khảo sát, truyền thông, trường đại học, doanh nghiệp và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cần được kết nối để hình thành vòng phản hồi. Nội dung phải được thiết kế khác nhau cho giới hoạch định chính sách, học giả, doanh nghiệp, thanh niên, du khách và công chúng rộng; đồng thời nâng cao năng lực ngoại ngữ, kể chuyện, phân tích dữ liệu, xác minh thông tin và xử lý khủng hoảng.
Thứ tư, chuyển hóa uy tín đối ngoại thành những đóng góp có thể nhận diện. Những lĩnh vực Việt Nam có lợi ích, kinh nghiệm và khả năng tạo giá trị chung như xây dựng lòng tin, hợp tác tiểu vùng, chuyển đổi xanh, an ninh nguồn nước và lương thực, y tế cộng đồng, gìn giữ hòa bình, có thể trở thành không gian để chuyển uy tín đối ngoại thành ảnh hưởng quốc tế. Ở bình diện đa phương, ảnh hưởng không chỉ đến từ mức độ hiện diện mà từ khả năng đề xuất sáng kiến, dung hòa khác biệt và thực hiện cam kết.
Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tạo khuôn khổ mới để phát huy giá trị văn hóa, tiếp thu tinh hoa nhân loại và nâng cao vị thế quốc gia (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu đưa Việt Nam vào Top 3 ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm. Đây có thể được xem là một chỉ báo tham chiếu quan trọng, nhưng việc triển khai cần hướng tới những thay đổi thực chất về nhận biết, tin cậy, hợp tác và vị thế quốc tế, thay vì đồng nhất kết quả sức mạnh mềm với thứ hạng.
Thứ năm, phát triển mạng lưới chủ thể tạo ảnh hưởng và phát huy sức mạnh tổng hợp. Phối hợp hiệu quả giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp, trường đại học, địa phương, nghệ sĩ, vận động viên, chuyên gia, thanh niên và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tham gia trực tiếp vào quá trình tạo dựng hình ảnh, trải nghiệm và quan hệ của Việt Nam với công chúng quốc tế. Vai trò của Nhà nước trước hết là kiến tạo thể chế, cung cấp thông tin đáng tin cậy, hạ tầng kết nối và công cụ hỗ trợ, thay vì đồng nhất hóa tiếng nói.
Các mạng lưới cựu sinh viên, chương trình trao đổi, dịch thuật, nghiên cứu chung và kết nối chuyên gia có thể tạo quan hệ lâu dài mà quảng bá ngắn hạn khó thay thế. Theo lộ trình của Chiến lược văn hóa đối ngoại, Việt Nam phấn đấu thành lập thêm từ 1 đến 3 Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở nước ngoài đến năm 2030 và tiếp tục thêm ít nhất 5 trung tâm tại các địa bàn phù hợp đến năm 2045 (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Thương hiệu quốc gia đồng thời phải được hỗ trợ bởi chất lượng sản phẩm, năng lực đổi mới và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Thứ sáu, thiết lập hệ thống đo lường đa tầng và vòng phản hồi chính sách. Hệ thống đánh giá cần phục vụ quản trị và nâng cao hiệu quả sức mạnh mềm, thay vì chạy theo thứ hạng, gồm bốn tầng: nguồn lực (nhân lực sáng tạo, tài sản trí tuệ, đầu tư); chuyển hóa (chất lượng sản phẩm, khả năng tiếp cận, bản địa hóa, phân phối); tiếp nhận (biết đến, thiện cảm, tin cậy, ý định tương tác); và ảnh hưởng (hợp tác, lựa chọn đầu tư - học tập - du lịch, doanh thu nội dung, giá trị thương hiệu, mức độ ủng hộ đối với các sáng kiến chính đáng của Việt Nam).
Đối với thị trường và công chúng ưu tiên, cần thiết lập đường cơ sở và khảo sát lặp lại theo thời gian, kết hợp dữ liệu định lượng với nghiên cứu định tính. Mỗi chương trình lớn cần xác định trước mục tiêu, công chúng và cơ chế tác động; kết quả đánh giá phải được dùng để điều chỉnh chính sách và phân bổ nguồn lực. Các chỉ số quốc tế chỉ nên dùng để đối chiếu, không thể thay thế hệ thống dữ liệu phục vụ mục tiêu riêng của Việt Nam. Việc phát huy sức mạnh mềm đồng thời phải được đặt trên nền tảng tôn trọng quyền tự chủ của chủ thể tiếp nhận: mục tiêu là thúc đẩy hiểu biết, tin cậy và hợp tác trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, chứ không phải thao túng nhận thức.
3. Kết luận
Sức mạnh mềm mở rộng không gian hành động của Việt Nam nhưng không tự phát sinh từ lợi thế sẵn có. Lợi thế của Việt Nam nằm ở khả năng kết hợp chiều sâu bản sắc, sự linh hoạt có nguyên tắc và câu chuyện phát triển hòa bình. Điểm quyết định của giai đoạn mới là chuyển từ tư duy “có nguồn lực” sang “tư duy chuyển hóa nguồn lực thành ảnh hưởng quốc tế”. Khung “nguồn lực - chuyển hóa - tiếp nhận - ảnh hưởng” cho thấy cần đồng thời xử lý điều phối liên ngành, chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa, lắng nghe công chúng, phân phối số, mạng lưới đa chủ thể và đo lường kết quả. Các chiến lược về văn hóa, công nghiệp văn hóa và văn hóa đối ngoại giai đoạn 2021-2026 tạo nền tảng chính sách thuận lợi; thách thức còn lại là tổ chức thực thi có trọng tâm, dựa trên dữ liệu và có trách nhiệm giải trình. Sự bảo đảm thống nhất giữa giá trị tuyên bố, chính sách thực hiện và trải nghiệm thực tế, việc phát huy hiệu quả sức mạnh mềm có thể giúp Việt Nam thu hút tri thức, nâng cao giá trị sản phẩm, tập hợp đối tác và đóng góp nhiều hơn cho cộng đồng quốc tế, qua đó góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
_________________
Ngày nhận bài: 25/8/2026; Ngày bình duyệt: 5/9/2026; Ngày quyết định đăng: 14/9/2026.
Email tác giả: quynhnd69@gmail.com; hoanganhqlkh@gmail.com
Tài liệu tham khảo
Acharya, A (2017). After liberal hegemony: The advent of a multiplex world order. Ethics & International Affairs, 31(3), 271-285. https://doi.org/10.1017/S089267941700020X
Brand Finance (2026, January 27). Vietnam sustains global Soft Power ranking as influence grows. https://brandfinance.com/press-releases/brand-finance-global-soft-power-index-2026-vietnam-sustains-ranking-as-influence-grows
Cull, N. J (2008). Public diplomacy: Taxonomies and histories. The ANNALS of the American Academy of Political and Social Science, 616(1), 31-54. https://doi.org/10.1177/0002716207311952
ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Do Thi Thuy (2022). Vietnam’s emergence as a middle power in Asia: Unfolding the power-knowledge nexus. Journal of Current Southeast Asian Affairs, 41(2), 279-302. https://doi.org/10.1177/18681034221081146
Melissen, J. (Ed.) (2005). The new public diplomacy: Soft power in international relations. Palgrave Macmillan.
Nguyễn Phú Trọng (2023). Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Nye, J. S. (2004) Soft power: The means to success in world politics. PublicAffairs.
Nye, J. S (2011). The future of power. PublicAffairs.
Rawnsley, G. D., & Ngac, C (2016). Vietnamese Cultural Diplomacy: An Emerging Strategy. In N. Chitty, L. Ji, G. Rawnsley, & C. Hayden (Eds.), The Routledge Handbook on Soft Power (pp. 425-440). (Routledge International Handbooks). Taylor & Francis. https://doi.org/10.4324/9781315671185
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1909/QĐ-TTg ngày 12/11/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030. https://vanban.chinhphu.vn.
Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. https://vanban.chinhphu.vn.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 1306/QĐ-TTg ngày 17/7/2026 phê duyệt Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. https://vanban.chinhphu.vn.