Nghiên cứu lý luận

Độc lập dân tộc, tự chủ chiến lược và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến Đại hội XIV của Đảng

17/09/2026 10:02

Tóm tắt: Trong bối cảnh thế giới biến động phức tạp và khó lường, độc lập không chỉ là bảo vệ chủ quyền, mà là làm chủ những nguồn lực chiến lược, tăng cường nội lực và quyền lựa chọn con đường phát triển. Bài viết làm rõ sự kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, tự chủ và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong Văn kiện Đại hội XIV và đề xuất giải pháp hiện thực hóa quan điểm Đại hội XIV của Đảng về độc lập dân tộc, tự chủ và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới.

TS NGUYỄN VĂN PHƯƠNG
Trường Sĩ quan Lục quân 2, Bộ Quốc phòng

media.vneconomy.vn-images-upload-2025-02-28-_thanh-pho-thu-duc-tp-ho-chi-minh-41120.jpg

1. Mở đầu

Trong xu thế toàn cầu hóa và tăng cường liên kết quốc tế, vấn đề độc lập, chủ quyền không chỉ giới hạn ở các yếu tố truyền thống như đường biên giới quốc gia hay địa vị pháp lý, mà còn gắn liền với tính tự chủ chiến lược của quốc gia trong hệ thống toàn cầu. Những biến động về thị trường, công nghệ, dữ liệu, năng lượng và chuỗi cung ứng cho thấy, một nước có chủ quyền vẫn có thể rơi vào thế bị động nếu thiếu năng lực làm chủ các nguồn lực thiết yếu. Do đó, độc lập trong bối cảnh hiện nay không chỉ là quyền tự quyết mà còn là năng lực bảo vệ quyền lựa chọn chiến lược trước những áp lực ngày càng phức tạp từ bên ngoài. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho cách nhìn toàn diện ấy. Theo Người, việc giành được độc lập dân tộc chỉ là bước khởi đầu cho một hành trình lâu dài phía trước. Nền độc lập ấy phải được bảo vệ bằng nội lực, được phát triển thông qua năng lực kiến tạo quốc gia, và giá trị đích thực của nó là phải mang lại tự do, ấm no và hạnh phúc của người dân. Đó là một mạch tư tưởng thống nhất, đi từ quyền của dân tộc đến sức mạnh của quốc gia và cuộc sống của mỗi người dân.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng tại các kỳ đại hội trước đó, đưa ra quan điểm về tự chủ chiến lược, sức mạnh nội sinh, đột phá thể chế, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế chủ động. Điểm mới không phải là thay thế độc lập bằng tự chủ, mà là mở rộng những điều kiện cần có để độc lập được giữ vững trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc. Từ góc nhìn này, bài viết góp phần giải đáp những những vấn đề từ thực tiễn đặt ra: Việt Nam cần làm chủ những năng lực nào; tranh thủ nguồn lực bên ngoài ra sao để không lệ thuộc; làm thế nào để thể chế, con người và công nghệ cùng tạo ra sức bật; và bằng cách nào để thành quả phát triển thực sự đến với nhân dân.

2. Nội dung

2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, tự chủ và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh

Trong hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh không dừng lại ở việc đánh đuổi ngoại xâm, giành lại độc lập cho dân tộc, Người đặt ra những câu hỏi cốt lõi về quyền làm chủ thuộc về ai và sức mạnh nào bảo vệ nền độc lập đó. Độc lập phải mang lại ấm no, tự do và sự phát triển thực tế cho dân tộc. Chính những trăn trở toàn diện ấy đã định hình nên nền tảng tư tưởng vững chắc của Người về độc lập đi đôi với tự chủ và kiến tạo tương lai.

Trước hết, độc lập là sự xác lập và khẳng định địa vị chủ thể của dân tộc. Một quốc gia độc lập phải có quyền tối cao trong việc xác lập chủ quyền, lựa chọn chế độ chính trị, quyết định con đường phát triển. Trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.3). Đó không phải là quyền do bên ngoài ban phát, mà là quyền chính đáng do nhân dân Việt Nam tự mình giành lấy. Quyền tự quyết ấy phải đi liền với ý chí bảo vệ. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.534) đã nói rõ trách nhiệm của một dân tộc trước vận mệnh của mình. Độc lập vì thế vừa là thành quả lịch sử, vừa là năng lực phải được bồi đắp qua mỗi thử thách.

Hồ Chí Minh luôn gắn quyền tự quyết của dân tộc với quyền làm chủ của nhân dân. Một nhà nước có chủ quyền nhưng người dân không được phát huy quyền làm chủ, không có điều kiện phát triển thì độc lập chưa đạt tới ý nghĩa đầy đủ. Sức mạnh của Nhà nước phải bắt nguồn từ nhân dân, dựa vào nhân dân và phục vụ nhân dân. Đây là chiều sâu dân chủ, đồng thời là giá trị nhân văn bền vững trong tư tưởng của Người.

Độc lập cũng không thể đứng vững nếu chỉ dựa vào lời tuyên bố. Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh tinh thần tự lực, tự cường. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người viết: “Muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.320). Đến Tổng khởi nghĩa, Người kêu gọi đồng bào “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.596). Chữ “tự” trong lời kêu gọi khẳng định tinh thần tự lực, tự cường, thể hiện bản lĩnh và chủ quyền của một dân tộc chủ động đứng lên làm chủ vận mệnh chính mình. Tự lực không có nghĩa là khép kín. Hồ Chí Minh luôn coi trọng đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè trên thế giới. Người chỉ rõ: sức mình là nền tảng; sự giúp đỡ bên ngoài là điều kiện quan trọng. Ngoại lực chỉ phát huy bền vững khi được tiếp nhận bằng một chủ thể có bản lĩnh, có mục tiêu và có khả năng chuyển hóa thành sức mạnh của chính mình. Từ đó có thể thấy, tự lực đối lập với lệ thuộc chứ không đối lập với hợp tác; tự chủ đối lập với bị chi phối chứ không đối lập với hội nhập. Quyền tự quyết lâu dài của một dân tộc chỉ thực sự được bảo đảm khi tích lũy đủ sức mạnh tổng hợp từ chính trị, kinh tế, quốc phòng cho đến văn hóa và trí tuệ. Nếu thiếu năng lực tự chủ chiến lược, thì độc lập chỉ mang tính hình thức.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ưu tiên lớn nhất của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh là cứu đói cho đồng bào. Người từng nhắc nhở sâu sắc rằng: “Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.175). Lời căn dặn ấy là thước đo chuẩn mực cho giá trị của độc lập dân tộc - giá trị ấy phải được minh chứng bằng cuộc sống ấm no của mỗi người dân. Dù là diệt giặc đói, diệt giặc dốt, hay phát triển sản xuất, mở mang văn hóa, bảo vệ Tổ quốc, tất cả đều chung một hướng đi: vì một đất nước giàu mạnh và nhân dân hạnh phúc.

Sức mạnh quốc gia là điều kiện để bảo vệ độc lập; còn hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu, động lực và thước đo của sức mạnh ấy. Hai phương diện này không thể tách rời. Trong Di chúc, Hồ Chí Minh bày tỏ mong muốn toàn Đảng, toàn dân đoàn kết xây dựng một nước Việt Nam “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.624). Nhìn trong tính chỉnh thể, tư tưởng của Người vận động theo một logic nhất quán: khởi đầu bằng việc giành lại độc lập và quyền tự quyết; lấy tự lực, tự cường làm nền tảng bảo vệ thành quả; dùng kiến thiết quốc gia để tạo nội lực vững mạnh; và lấy tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu tối thượng.

2.2. Sự kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, tự chủ và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh trong quan điểm của Đại hội XIV của Đảng

Đại hội XIV của Đảng tiếp tục phát triển hệ tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, tự lực, tự cường và kiến thiết đất nước trong một hoàn cảnh vị thế quốc tế của quốc gia được nâng lên, tham gia ngày càng sâu vào mạng lưới liên kết, phụ thuộc và cạnh tranh toàn cầu. Có thể nhận diện sự kế thừa và phát triển của Đại hội XIV trên một số phương diện cơ bản: từ độc lập về chủ quyền đến năng lực tự quyết chiến lược; từ tự lực, tự cường đến xây dựng sức mạnh nội sinh; từ kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đến hội nhập quốc tế chủ động, tích cực; từ tư tưởng kiến thiết đất nước đến mô hình phát triển dựa trên thể chế, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và con người; đồng thời từ mục tiêu “độc lập” đến yêu cầu làm cho độc lập có ý nghĩa thực chất thông qua phát triển và bảo đảm hạnh phúc của nhân dân.

Thứ nhất, từ tư tưởng độc lập dân tộc đến quan niệm về tự chủ chiến lược - sự mở rộng nội hàm của quyền tự quyết quốc gia

Một trong những điểm có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là quan niệm độc lập dân tộc không chỉ được xác lập bằng sự chấm dứt tình trạng lệ thuộc về chính trị, mà còn phải được bảo đảm bằng năng lực thực tế của quốc gia. Đại hội XIV của Đảng phát triển tư duy đó trong điều kiện mới khi đặt vấn đề “tự chủ chiến lược” trong quan hệ trực tiếp với đổi mới mô hình phát triển và nâng cao sức mạnh quốc gia. Đảng ta xác định phải “tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân” (ĐCSVN, 2026, tr.372).

Tự chủ chiến lược không phải một khái niệm thay thế cho độc lập dân tộc, mà là sự phát triển về điều kiện bảo đảm cho độc lập dân tộc trong môi trường quốc tế mới. Nếu độc lập dân tộc xác lập quyền tự quyết của quốc gia, thì tự chủ chiến lược phản ánh năng lực thực hiện và bảo vệ quyền tự quyết đó trong những quan hệ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc. Một quốc gia có thể có chủ quyền đầy đủ về pháp lý nhưng vẫn hạn chế quyền lựa chọn nếu phụ thuộc quá lớn vào một thị trường, một nguồn cung công nghệ, một tuyến năng lượng, một hệ thống tài chính, một nền tảng dữ liệu hoặc một chuỗi cung ứng. Do đó, trong điều kiện hiện nay, độc lập không chỉ dừng lại ở việc “ai quyết định vận mệnh quốc gia”, mà còn là năng lực thực tế để biến những quyết định đó thành hiện thực.

Theo quan điểm của Đại hội XIV, có thể xác định ba tầng ý nghĩa của tự chủ chiến lược: Một, tự chủ về lựa chọn chiến lược, tức khả năng xác định lợi ích quốc gia - dân tộc, mục tiêu phát triển và các ưu tiên chính sách mà không bị áp đặt bởi lợi ích của chủ thể bên ngoài. Hai là, tự chủ về năng lực thực thi, tức khả năng chuyển hóa lựa chọn chiến lược thành chính sách, nguồn lực, thể chế và kết quả phát triển. Một quốc gia có thể xác định đúng mục tiêu nhưng nếu thiếu năng lực công nghệ, nguồn nhân lực, thể chế và nguồn lực vật chất thì quyền lựa chọn khó trở thành hiện thực. Ba , tự chủ về khả năng chống chịu và thích ứng, tức năng lực duy trì những chức năng thiết yếu và nhanh chóng phục hồi trước các cú sốc bên ngoài. Trong môi trường quốc tế bất định, tự chủ không đồng nghĩa với loại bỏ phụ thuộc, điều gần như không thể thực hiện trong nền kinh tế thế giới hiện đại, mà là quản trị sự phụ thuộc, đa dạng hóa lựa chọn và tránh để sự phụ thuộc chuyển thành khả năng bị chi phối.

Chính ở phương diện này, quan điểm của Đảng tại Đại hội XIV thể hiện sự phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu trước đây tự lực, tự cường chủ yếu được đặt trong quan hệ với đấu tranh giành và bảo vệ độc lập, thì hiện nay tự chủ phải được thể hiện trong năng lực hoạch định chiến lược, kiểm soát các điểm nghẽn phát triển, duy trì sức chống chịu của nền kinh tế, làm chủ công nghệ và chủ động định hình các quan hệ đối ngoại. Tự chủ vì vậy không phải là “đóng cửa” trước thế giới mà là nâng cao năng lực lựa chọn trong một thế giới mở.

Đây cũng là cơ sở để hiểu đúng mối quan hệ giữa độc lập và hội nhập. Hồ Chí Minh chủ trương dựa vào sức mình đồng thời tranh thủ sự ủng hộ quốc tế. Tinh thần đó được Đại hội XIV phát triển thành phương châm kết hợp giữa độc lập, tự chủ, tự cường với đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Văn kiện tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại (ĐCSVN, 2026, tr. 381-382).

Thứ hai, từ “sức mình” trong tư tưởng Hồ Chí Minh đến sức mạnh nội sinh của quốc gia phát triển

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, “sức mình” không chỉ là nguồn lực vật chất hiện có mà trước hết là khả năng huy động, tổ chức và phát huy sức mạnh của toàn dân tộc. Đó là sức mạnh của lòng yêu nước, ý chí độc lập, đoàn kết, tổ chức chính trị, con người và khả năng biến ý chí thành hành động. Vì vậy, tự lực không đồng nghĩa với tự cung, tự cấp; tự lực là điều kiện để một dân tộc giữ được tư thế chủ động trong quan hệ với bên ngoài.

Đại hội XIV kế thừa trực tiếp tư tưởng này khi nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường; đồng thời phát huy sức mạnh văn hóa và con người thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển (ĐCSVN, 2026, tr.37). Tuy nhiên, điểm phát triển quan trọng là khái niệm “nội lực” được mở rộng từ ý chí và sức dân sang một hệ thống năng lực quốc gia. Trong điều kiện phát triển mới, sức mạnh nội sinh hiện nay được nhìn nhận như sự kết hợp của ít nhất bốn thành tố: chất lượng thể chế; chất lượng nguồn nhân lực; năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; mức độ gắn kết và đồng thuận xã hội. Các thành tố này không tồn tại độc lập mà tạo thành một cấu trúc chuyển hóa nguồn lực.

Nguồn lực vật chất chỉ trở thành sức mạnh phát triển khi được thể chế hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả. Công nghệ chỉ trở thành năng lực quốc gia khi có con người đủ khả năng hấp thụ, cải tiến và sáng tạo. Khát vọng phát triển chỉ trở thành động lực nếu được chuyển hóa thành mục tiêu, thể chế khuyến khích và cơ hội hành động. Ngược lại, một xã hội có nguồn lực nhưng thể chế kém hiệu quả, nhân lực không phù hợp hoặc niềm tin xã hội suy giảm thì nguồn lực có thể không được chuyển hóa thành năng lực phát triển.

Do đó, có thể xem sự phát triển quan trọng trong tư duy của Đại hội XIV là chuyển từ cách tiếp cận “có bao nhiêu nguồn lực” sang “có khả năng chuyển hóa nguồn lực thành sức mạnh đến đâu”. Đây là một bước phát triển có ý nghĩa phương pháp luận. Trong kinh tế tri thức và xã hội số, lợi thế quốc gia không còn chủ yếu được quyết định bởi quy mô tài nguyên hay lao động giá rẻ, mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng thể chế, trình độ nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo, dữ liệu, công nghệ và khả năng tổ chức các mạng lưới sản xuất.

Từ logic đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành một phương diện mới của tự lực, tự cường. Đại hội XIV xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của mô hình tăng trưởng mới (ĐCSVN, 2026, tr.385-386). Điều này cho thấy tự chủ trong thời đại mới không thể chỉ được đo bằng khả năng tự sản xuất mọi sản phẩm. Vấn đề quan trọng hơn là Việt Nam phải từng bước làm chủ những công nghệ, nền tảng và năng lực có ý nghĩa chiến lược.

Ở đây cần phân biệt tiếp nhận công nghệ với làm chủ công nghệ. Một nền kinh tế có thể nhập khẩu thiết bị hiện đại nhưng vẫn phụ thuộc về thiết kế, phần mềm, dữ liệu, tiêu chuẩn, bảo trì hoặc nâng cấp. Khi đó, giá trị của ngoại lực chưa được chuyển hóa đầy đủ thành nội lực. Ngược lại, nếu doanh nghiệp, viện nghiên cứu và đội ngũ nhân lực trong nước có khả năng hấp thụ, cải tiến và sáng tạo trên nền tảng công nghệ tiếp nhận, ngoại lực sẽ trở thành chất xúc tác cho tự cường.

Như vậy, từ tư tưởng Hồ Chí Minh “trước mình phải tự giúp lấy mình”, Đại hội XIV phát triển thành yêu cầu xây dựng năng lực hấp thụ và nội hóa ngoại lực. Đây là điểm rất quan trọng để tránh hai cách hiểu cực đoan: hoặc đồng nhất tự chủ với khép kín, hoặc đồng nhất hội nhập với phụ thuộc. Tự chủ thực chất là khả năng sử dụng quan hệ bên ngoài để làm tăng năng lực bên trong.

Thứ ba, từ tư tưởng kiến thiết đất nước đến quan niệm phát triển như nền tảng vật chất của độc lập, tự chủ

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhiệm vụ kiến thiết quốc gia không tách rời mà được đặt ra đồng thời với tiến trình đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc. Độc lập chưa phải là đích đến cuối cùng của cách mạng, mà là tiền đề chính trị thiết yếu nhằm tạo lập cơ sở hiện thực cho việc xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa, nơi quyền tự do, ấm no và hạnh phúc của nhân dân được bảo đảm. Đây chính là điểm nối giữa độc lập dân tộc và khát vọng kiến tạo tương lai. Độc lập có giá trị không chỉ bởi nó loại bỏ sự thống trị từ bên ngoài, mà còn bởi nó tạo ra khả năng tự mình xây dựng tương lai. Nói cách khác, độc lập là điều kiện của kiến thiết; kiến thiết là phương thức củng cố độc lập; còn hạnh phúc của nhân dân là mục đích cao nhất của cả hai quá trình.

Đại hội XIV tiếp tục phát triển logic đó khi đặt tự chủ chiến lược trong mối quan hệ với đổi mới mô hình phát triển và mục tiêu nâng cao đời sống, hạnh phúc của nhân dân. Mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao đã cụ thể hóa tầm nhìn phát triển dài hạn của đất nước (ĐCSVN, 2026, tr.375). Mục tiêu phát triển không tách rời khỏi chủ thể của phát triển. Đại hội XIV nhấn mạnh: “Dân là gốc”, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới (…) lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân là thước đo và mục tiêu phấn đấu”” (ĐCSVN, 2026, tr. 382). Đây là sự tiếp nối trực tiếp tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng cũng là bước phát triển về phương thức đánh giá thành quả phát triển.

Nếu trong điều kiện trước đây, vấn đề cấp bách là giành độc lập, chống đói, chống dốt, bảo vệ chính quyền và xây dựng những nền tảng ban đầu của quốc gia độc lập, thì trong giai đoạn hiện nay, tiêu chí đánh giá năng lực kiến tạo phải ngày càng dựa vào chất lượng thể chế, năng suất, thu nhập, cơ hội phát triển, chất lượng dịch vụ công, môi trường sống, khả năng tiếp cận các nguồn lực và mức độ hài lòng của người dân.

Như vậy, Đại hội XIV không chỉ kế thừa tư tưởng “độc lập gắn với đời sống nhân dân”, mà còn phát triển thành quan điểm lấy con người làm trung tâm và lấy hạnh phúc của nhân dân làm thước đo cuối cùng của năng lực quốc gia. Điều này làm cho khái niệm khát vọng phát triển vượt ra ngoài ý nghĩa của một mong muốn hay trạng thái tinh thần. Khát vọng phải được thể chế hóa thành mục tiêu, chính sách, nguồn lực, cơ chế thực hiện và kết quả có thể kiểm chứng.

Thứ tư, từ kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đến năng lực nội hóa ngoại lực

Một trong những điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi nhưng luôn giữ vững vai trò chủ thể và tinh thần tự lực, tự cường của dân tộc. Chính vì vậy, quan hệ giữa nội lực và ngoại lực cần được nhìn nhận theo hướng bổ sung và chuyển hóa lẫn nhau.

Đại hội XIV tiếp tục nguyên tắc đó trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Nhưng sự phát triển của bối cảnh đã làm thay đổi chất lượng của vấn đề. Ngoại lực ngày nay không chỉ là sự ủng hộ chính trị hay viện trợ vật chất, mà còn bao gồm vốn, công nghệ, tri thức, thị trường, tiêu chuẩn quốc tế, mạng lưới sản xuất, dữ liệu và các dòng lưu chuyển nhân lực. Do đó, năng lực tự chủ không thể được đo đơn giản bằng mức độ giảm phụ thuộc, mà phải được đo bằng khả năng quản trị sự phụ thuộc và chuyển hóa các quan hệ phụ thuộc thành năng lực phát triển.

Trong một thế giới toàn cầu hóa, mục tiêu hợp lý không phải là “không phụ thuộc”, mà là không để phụ thuộc trở thành lệ thuộc chiến lược. Một nền kinh tế có thể nhập khẩu công nghệ nhưng không nhất thiết mất tự chủ nếu có nhiều nguồn cung, có năng lực thay thế, có khả năng đàm phán và có năng lực nội địa hóa công nghệ. Ngược lại, ngay cả một nền kinh tế có tỷ lệ nội địa hóa cao cũng có thể dễ tổn thương nếu tập trung quá mức vào một số thị trường hoặc công nghệ độc quyền. Do đó, hội nhập quốc tế chủ động phải được gắn với ba yêu cầu: đa dạng hóa quan hệ để mở rộng không gian lựa chọn; nâng cao năng lực hấp thụ để chuyển ngoại lực thành nội lực; và tăng cường sức chống chịu để hạn chế tác động của các cú sốc bên ngoài. Đây chính là cách tiếp cận giúp làm rõ hơn sự phát triển từ tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đến quan niệm tự chủ chiến lược trong Văn kiện Đại hội XIV.

Thứ năm, từ khát vọng độc lập, tự do đến khát vọng phát triển đất nước phồn vinh - sự chuyển hóa từ ý chí chính trị thành năng lực quốc gia

Trong toàn bộ di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, khát vọng vươn lên vì độc lập của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Đó là khát vọng độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân và xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Đại hội XIV kế thừa khát vọng đó nhưng đặt nó trong một hệ mục tiêu phát triển dài hạn. Khát vọng không còn chỉ được thể hiện dưới dạng ý chí giải phóng dân tộc, mà trở thành khát vọng xây dựng một quốc gia phát triển, có năng lực cạnh tranh, có nền kinh tế hiện đại, có đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao và có vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.

Sự phát triển quan trọng nhất ở đây là chuyển khát vọng từ phạm trù tinh thần sang phạm trù năng lực. Một quốc gia có thể có khát vọng lớn nhưng nếu thiếu thể chế hiệu quả, nhân lực chất lượng cao, khoa học - công nghệ, năng lực quản trị và nguồn lực vật chất thì khát vọng khó trở thành hiện thực. Vì vậy, khát vọng phát triển phải được “vật chất hóa” thông qua năng lực của Nhà nước, doanh nghiệp, đội ngũ trí thức và toàn xã hội.

Trong cấu trúc đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế và định hướng phát triển; doanh nghiệp là chủ thể quan trọng của sản xuất, đổi mới sáng tạo và cạnh tranh; đội ngũ trí thức tạo ra tri thức và công nghệ; người dân vừa là chủ thể, vừa là đối tượng thụ hưởng và kiểm chứng thành quả phát triển. Khi các chủ thể này cùng được kết nối trong một hệ thống thể chế minh bạch, hiệu quả và hướng tới lợi ích chung, khát vọng quốc gia mới có thể chuyển hóa thành năng lực hành động.

2.3. Giải pháp hiện thực hóa quan điểm Đại hội XIV của Đảng về độc lập dân tộc, tự chủ và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh trong kỷ nguyên mới

Để tự chủ chiến lược không dừng ở một định hướng lớn, đòi hỏi phải triển khai đồng bộ các giải pháp từ nhận diện năng lực lõi, đổi mới thể chế đến phát triển con người và nâng cao hiệu quả hội nhập. Trọng tâm là chuyển khát vọng thành mục tiêu có thể đo lường, phân công rõ trách nhiệm và kiểm chứng bằng kết quả thực tế.

Một là, xác định đúng những năng lực tự chủ cốt lõi để đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. Tự chủ không đồng nghĩa với tự sản xuất mọi thứ, mà là giữ được quyền lựa chọn và duy trì các chức năng thiết yếu khi môi trường bên ngoài biến động. Vì vậy, từng ngành phải nhận diện khâu nào nếu bị đứt gãy sẽ làm đình trệ cả hệ thống; khâu nào tạo ra giá trị gia tăng và sức lan tỏa; khâu nào có thể hợp tác, nhập khẩu nhưng phải luôn có phương án thay thế. Đây là cơ sở để phân biệt năng lực thực chất với tỷ lệ nội địa hóa mang tính hình thức. Trên cơ sở đó, cần xây dựng bản đồ phụ thuộc chiến lược đối với công nghệ, năng lượng, lương thực, tài chính, dữ liệu và chuỗi cung ứng; định kỳ tổ chức kiểm tra sức chống chịu bằng các kịch bản gián đoạn. Mỗi lĩnh vực phải có mục tiêu làm chủ, lộ trình, nguồn lực và đầu mối chịu trách nhiệm; đồng thời lượng hóa mức độ tập trung nguồn cung, thời gian tìm nguồn thay thế, khả năng phục hồi và năng lực hấp thụ công nghệ. Ngân sách, tín dụng và mua sắm công cần ưu tiên những dự án giúp hình thành năng lực nền tảng, thay vì phân tán nguồn lực theo phong trào.

Hai là, tạo đột phá về thể chế và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện. Điểm nghẽn hiện nay không chỉ nằm ở thiếu nguồn lực, mà còn ở sự không đồng bộ giữa thẩm quyền, trách nhiệm và năng lực thực thi. Một chủ trương đúng vẫn có thể chậm đi vào cuộc sống nếu mục tiêu không rõ, chính sách chồng chéo hoặc người thực hiện không đủ quyền quyết định. Do đó, thể chế phải vừa giữ kỷ cương, vừa mở không gian cho sáng tạo; vừa kiểm soát quyền lực, vừa không biến nỗi sợ trách nhiệm thành lực cản phát triển. Mỗi chương trình chiến lược cần được thiết kế theo chuỗi từ mục tiêu, nguồn lực, thẩm quyền đến sản phẩm đầu ra và tác động cuối cùng. Phân cấp phải đi cùng phân quyền, cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình; những lĩnh vực mới cần có không gian thử nghiệm chính sách trong phạm vi và thời hạn xác định. Việc đánh giá phải dựa trên dữ liệu, tiến độ và chất lượng kết quả, không chỉ dựa vào số văn bản hay tỷ lệ giải ngân. Đồng thời, cần bảo vệ người dám làm vì lợi ích chung, nhưng xử lý nghiêm hành vi lợi dụng đổi mới để vụ lợi.

Ba là, đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo hướng làm chủ những khâu có ý nghĩa chiến lược. Khoảng cách công nghệ không thể thu hẹp chỉ bằng mua sắm thiết bị, bởi máy móc có thể nhập khẩu nhưng năng lực thiết kế, dữ liệu, tiêu chuẩn, bí quyết và đội ngũ không tự động được chuyển giao. Điều quyết định là khả năng hấp thụ, cải tiến và sáng tạo trên nền công nghệ tiếp nhận. Nếu thiếu năng lực này, đầu tư lớn vẫn có thể tạo ra một hệ thống hiện đại nhưng phụ thuộc vào vận hành, bảo trì và nâng cấp từ bên ngoài. Bên cạnh đó, cần tổ chức các chương trình khoa học, công nghệ theo nhiệm vụ lớn của quốc gia, tập trung vào nền tảng số, an toàn dữ liệu, công nghệ nguồn và các lĩnh vực có sức lan tỏa cao. Doanh nghiệp phải giữ vai trò trung tâm ứng dụng và thương mại hóa; nhà trường, viện nghiên cứu cung cấp tri thức, nhân lực và giải pháp; Nhà nước kiến tạo thị trường bằng tiêu chuẩn, đặt hàng và mua sắm công. Hiệu quả phải được đo bằng số công nghệ làm chủ, sản phẩm thương mại hóa, doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị và đội ngũ trưởng thành sau mỗi dự án, chứ không chỉ bằng số đề tài nghiệm thu.

Bốn là, phát triển nguồn nhân lực và khơi dậy sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam. Con người không chỉ là một loại nguồn lực, mà còn là chủ thể lựa chọn, tổ chức và chuyển hóa mọi nguồn lực khác. Tự chủ chiến lược vì thế đòi hỏi đội ngũ có tri thức, kỹ năng, kỷ luật, bản lĩnh và đạo đức công vụ; đồng thời cần một môi trường xã hội tôn trọng sáng tạo và khuyến khích cống hiến. Nếu cơ chế dùng người nặng về bằng cấp, thâm niên hoặc an toàn hình thức, người có năng lực khó phát huy và khát vọng dễ bị bào mòn. Giải pháp căn bản là đổi mới đồng bộ từ giáo dục, đào tạo đến tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ. Giáo dục phải chuyển từ ghi nhớ sang giải quyết vấn đề, tư duy phản biện, khả năng hợp tác và học tập suốt đời. Cơ quan công quyền, cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp cần đánh giá con người bằng sản phẩm, hiệu quả và liêm chính; mở đường cho chuyên gia trong và ngoài nước tham gia các nhiệm vụ chiến lược. Cùng với phát triển nhân tài, phải nuôi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự lực, ý thức cộng đồng và trách nhiệm phụng sự để năng lực cá nhân kết tinh thành sức mạnh quốc gia.

Năm là, nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế theo phương châm chủ động hợp tác nhưng không để phát sinh lệ thuộc. Hội nhập và tự chủ không đối lập nhau: hội nhập tạo thêm thị trường, vốn, tri thức và công nghệ; tự chủ giúp lựa chọn và sử dụng các nguồn lực ấy theo lợi ích quốc gia - dân tộc. Rủi ro xuất hiện khi quan hệ kinh tế, công nghệ hoặc chuỗi cung ứng tập trung quá mức vào một thị trường, một đối tác hay một nền tảng. Khi đó, lợi thế ngắn hạn có thể làm thu hẹp quyền lựa chọn dài hạn. Vì vậy, cần đa dạng hóa thị trường, công nghệ, nguồn vốn và tuyến cung ứng; đồng thời chuẩn bị kịch bản thay thế cho những tình huống bất lợi. Các dự án hợp tác lớn phải được thẩm định không chỉ về vốn và tiến độ, mà còn về chuyển giao công nghệ, quyền kiểm soát dữ liệu, khả năng hình thành nhà cung cấp trong nước và tác động đến an ninh chiến lược. Cơ chế đàm phán cần gắn ưu đãi với cam kết đào tạo, nghiên cứu và phát triển hệ sinh thái nội địa. Ngoại lực chỉ tạo ra tự cường khi được nội hóa thành tri thức, năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của Việt Nam.

Sáu là, đặt nhân dân ở vị trí trung tâm, coi chất lượng cuộc sống và niềm tin xã hội là thước đo của mọi giải pháp. Đây không chỉ là mục tiêu nhân văn, mà còn là điều kiện tạo nên sức mạnh tự chủ. Một xã hội có cơ hội phát triển công bằng, có khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm và môi trường sống an toàn sẽ tích lũy được niềm tin, sự đồng thuận và năng lực huy động trong khủng hoảng. Ngược lại, bất bình đẳng kéo dài, lãng phí, lợi ích nhóm và tình trạng xa dân sẽ làm suy yếu nội lực dù một số chỉ số tăng trưởng vẫn tăng. Mỗi chương trình phát triển vì thế phải công bố rõ nhóm thụ hưởng, chi phí xã hội, tác động dài hạn và cơ chế khắc phục những hệ quả không mong muốn. Bên cạnh chỉ tiêu kinh tế, cần theo dõi chất lượng dịch vụ công, cơ hội việc làm, mức độ an toàn, khả năng tham gia của người dân và sự hài lòng xã hội. Dữ liệu đánh giá phải được công khai để nhân dân giám sát và phản hồi; các phản ánh chính đáng phải trở thành đầu vào của quá trình điều chỉnh chính sách.

3. Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, tự lực, tự cường và kiến thiết tương lai là một chỉnh thể lý luận thống nhất, trong đó độc lập dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện để Nhân dân làm chủ vận mệnh của mình; tự lực, tự cường là nền tảng bảo vệ và củng cố độc lập; phát triển đất nước là phương thức tạo lập tiềm lực quốc gia; còn tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu cao nhất.

Trên nền tảng kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn phát triển đất nước, Đại hội XIV của Đảng đã phát triển nhận thức về độc lập, tự chủ theo hướng toàn diện và phù hợp hơn với môi trường quốc tế ngày càng đan xen, phụ thuộc và biến động. Độc lập dân tộc xác lập quyền tự quyết của quốc gia, tự chủ chiến lược nhấn mạnh năng lực thực hiện, bảo vệ và mở rộng quyền tự quyết đó trong thực tiễn. Tự chủ vì thế không đồng nghĩa với khép kín hay tự cung, tự cấp, mà là khả năng xác định lợi ích quốc gia - dân tộc, chủ động lựa chọn con đường phát triển, duy trì những năng lực thiết yếu, nâng cao sức chống chịu và có khả năng chuyển hóa hiệu quả các nguồn lực bên ngoài thành sức mạnh của chính mình.

Nội lực của đất nước không chỉ được cấu thành bởi nguồn lực vật chất, mà còn bao gồm chất lượng thể chế, nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, văn hóa, niềm tin và sự đồng thuận xã hội. Đại hội XIV đặt yêu cầu phát huy mạnh mẽ những nguồn lực đó, đồng thời chủ động hội nhập, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại để mở rộng không gian phát triển. Vấn đề cốt lõi không phải là loại bỏ mọi sự phụ thuộc bên ngoài, mà là quản trị sự phụ thuộc, tránh lệ thuộc chiến lược và nâng cao năng lực hấp thụ, nội hóa ngoại lực. Chỉ khi ngoại lực được chuyển hóa thành tri thức, công nghệ, năng lực sản xuất và năng lực cạnh tranh của Việt Nam, hội nhập mới thực sự góp phần củng cố tự chủ. Vì vậy, trong kỷ nguyên phát triển mới, bảo vệ độc lập dân tộc không chỉ là bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, mà còn là xây dựng một quốc gia đủ mạnh về thể chế, kinh tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, con người và quốc phòng, an ninh để có khả năng tự quyết định tương lai của mình. Tự chủ chiến lược không phải là trạng thái có sẵn, mà là một năng lực phải được liên tục kiến tạo, củng cố và nâng cao thông qua phát triển.

_________________

Ngày nhận bài: 26/8/2026; Ngày bình duyệt: 12/9/2026; Ngày quyết định đăng: 16/9/2026.

Email tác giả: nguyenphuongtthcmlq2@gmail.com

Tài liệu tham khảo

ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 2). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 3). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Hồ Chí Minh (2011d). Toàn tập (Tập 15). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.