Đào tạo - Bồi dưỡng

Quan điểm của Đảng về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong kỷ nguyên phát triển mới

17/09/2026 11:51

Tóm tắt: Quan điểm “đột phá về phát triển giáo dục và đào tạo” trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng là kết quả của quá trình đổi mới tư duy về phát triển giáo dục và đào tạo. Điểm mới nổi bật là sự dịch chuyển từ vị trí “quốc sách hàng đầu” như một nguyên lý lâu dài thành một trục “đột phá”, gắn trực tiếp với tăng trưởng nhanh, bền vững, với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia.

PGS, TS HOÀNG THỊ THẮM
Trường Đại học Thương mại

ntt.jpg
Sinh viên Trường Đại học Nguyễn Tất Thành trong giờ thực hành thí nghiệm_Ảnh: VNN

The Party’s viewpoint on education and training breakthrough in a new era of development

Abstract: The viewpoint of “breakthrough development in education and training” in the Documents of the 14th National Party Congress is the result of a renovation process on education and training development. A notable new feature in the Party’s perspective on education and training is the shift from its position as a long-standing “top national policy” to a “breakthrough” directly linked to rapid and sustainable growth, to science and technology, innovation, digital transformation, and to the goal of improving the quality of the national human resources.

Keywords: 14th National Party Congress; science and technology; education and training; top national policy; “breakthrough”.

1. Mở đầu

Trong quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng và phát triển đất nước, giáo dục và đào tạo luôn được đặt ở vị trí quan trọng. Đặc biệt, tại Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, giáo dục và đào tạo không chỉ được khẳng định là “quốc sách hàng đầu”, mà còn được yêu cầu cụ thể hóa thành kết quả phát triển về mọi mặt, từ chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả phân bổ nguồn lực công, năng lực đổi mới sáng tạo của hệ thống đại học, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục phổ thông và khả năng bảo đảm cơ hội học tập công bằng giữa các vùng, miền và nhóm xã hội. Qua hơn 10 năm triển khai Nghị quyết 29-NQ/TW, giáo dục và đào tạo đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng nền giáo dục vẫn “chưa thực sự đã thay đổi căn bản, toàn diện”, việc thể chế hóa còn thiếu đồng bộ, còn tồn tại khoảng trống giữa lý luận, chính sách và thực tiễn tổ chức thực hiện (Lê Thị Mai Hoa, 2024).

Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW khẳng định những kết quả đạt được sau 10 năm đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo, đồng thời đặt ra mục tiêu đưa giáo dục và đào tạo Việt Nam “đạt trình độ tiên tiến của khu vực châu Á vào năm 2030 và đạt trình độ tiên tiến của thế giới vào năm 2045” (Bộ Chính trị, 2024a). Kết luận số 91-KL/TW đã chỉ rõ các nhiệm vụ có tính thể chế và vận hành, như sớm xây dựng Luật về nhà giáo, Luật về học tập suốt đời; đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục; bảo đảm ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước; từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học và thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 3 - 5 tuổi (Bộ Chính trị, 2024a).

Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW “về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Nghị quyết số 57-NQ/TW ra đời đã làm thay đổi mạnh mẽ bối cảnh chính sách của giáo dục, trong đó “thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược” là những nội dung trọng tâm, cốt lõi; yêu cầu “tăng cường đầu tư, đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo” (Bộ Chính trị, 2024b) để bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển đội ngũ giảng viên đủ năng lực cho các lĩnh vực công nghệ then chốt. Như vậy, giáo dục không chỉ được tiếp cận từ góc độ an sinh - xã hội, mà được đặt vào trung tâm của chiến lược phát triển lực lượng sản xuất hiện đại.

Tiếp đó, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 “về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo”. Nghị quyết số 71-NQ/TW nhận định, giáo dục và đào tạo “vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế, chưa thực sự trở thành động lực then chốt cho sự phát triển bứt phá của đất nước” (Bộ Chính trị, 2025), đồng thời khẳng định: “Đột phá phát triển giáo dục và đào tạo phải bắt đầu từ đổi mới tư duy, nhận thức và thể chế” (Bộ Chính trị, 2025). Đây là bước chuyển rất quan trọng, từ “đổi mới căn bản, toàn diện” sang “đột phá”, từ yêu cầu cải cách hệ thống sang yêu cầu tạo xung lực phát triển mới cho đất nước thông qua giáo dục và đào tạo.

Tại Đại hội XIV, Đảng tiếp tục khẳng định “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc”; đồng thời đặt mục tiêu “xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới” (ĐCSVN, 2026, tr.100), Đảng ta đặt ra hàng loạt nội dung mới hoặc được đẩy lên cấp độ ưu tiên cao hơn, như Chương trình mục tiêu quốc gia về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; phát triển một số cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu ngang tầm các nước tiên tiến; đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học; đưa giáo dục kỹ năng số, trí tuệ nhân tạo vào hệ thống giáo dục quốc dân ngay từ chương trình giáo dục mầm non; phát triển trường nghề chất lượng cao; đổi mới mạnh mẽ thể chế, tự chủ và trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục (ĐCSVN, 2026, tr.101-102).

2. Nội dung

2.1. Khái quát quá trình hình thành tư duy đột phá về phát triển giáo dục và đào tạo

Hệ thống quan điểm, chính sách giáo dục của Việt Nam đã dịch chuyển từ mô thức “cải cách hệ thống giáo dục” sang mô thức “kiến tạo năng lực phát triển quốc gia thông qua giáo dục”. Nghị quyết số 29-NQ/TW nhấn mạnh đổi mới căn bản, toàn diện; Kết luận số 91-KL/TW nhấn mạnh việc tháo gỡ điểm nghẽn và nâng chuẩn giáo dục và đào tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Bộ Chính trị, 2024a). Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ đối với công tác giáo dục cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao để phát triển các công nghệ chiến lược (Bộ Chính trị, 2024b). Đến Nghị quyết số 71-NQ/TW, Đảng ta đã quy tụ tất cả các yêu cầu đó vào một thiết kế tổng thể: Đổi mới tư duy - đổi mới thể chế - đổi mới phân bổ nguồn lực - tạo không gian mới cho nhà giáo, người học và cơ sở giáo dục (Bộ Chính trị, 2025). Có thể thấy, đột phá không đơn thuần nghĩa là tăng tốc, mà là xác định lại các nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên phát triển và cơ chế thực hiện.

Đại hội XIV của Đảng cho thấy ba thay đổi lớn về tư duy phát triển và đào tạo: 1) thay đổi về phạm vi, từ nghị quyết chuyên đề sang định hướng phát triển quốc gia; 2) thay đổi về tính ràng buộc, từ những yêu cầu chính sách sang nhiệm vụ kèm lộ trình, chương trình mục tiêu và đề án thực hiện; 3) thay đổi về cách tiếp cận liên ngành, trong đó, giáo dục được đặt đồng thời trong quan hệ với văn hóa, khoa học, công nghệ, thị trường lao động, quản trị số và phát triển con người toàn diện. Chính vì vậy, “đột phá giáo dục” mà Đại hội XIV của Đảng đề ra là khái niệm vừa rộng hơn, vừa cụ thể hơn so với các văn kiện trước đây.

Một trong những điểm đặc biệt quan trọng trong tư duy “đột phá về phát triển giáo dục và đào tạo”, đó là từ đổi mới nhận thức đến đổi mới thể chế. Tháo gỡ nút thắt thể chế là vấn đề cấp thiết, như việc thể chế hóa chủ trương đổi mới chưa đầy đủ, đồng bộ; chính sách, pháp luật chậm bổ sung, sửa đổi. Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đều nhấn mạnh việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật, cơ chế phân cấp, phân quyền, tự chủ, phân bổ ngân sách.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng gắn cải cách giáo dục với cải cách thể chế phát triển, đặt ra mục tiêu “Đổi mới mạnh mẽ thể chế, tạo cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho phát triển giáo dục và đào tạo” (ĐCSVN, 2026, tr.102). Đây là khác biệt căn bản giữa giai đoạn cải cách nội bộ ngành và giai đoạn đột phá thể chế để phát triển quốc gia.

Có thể thấy, giáo dục và đào tạo đã dịch chuyển từ vị trí “quốc sách hàng đầu” thành một trục “đột phá”, gắn trực tiếp với tăng trưởng nhanh, bền vững, với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và với mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia.

2.2. “Đột phá phát triển giáo dục và đào tạo” - Chỉ tiêu định lượng và phương thức thực hiện

Về chỉ tiêu định lượng

Nghị quyết số 71-NQ/TW đặt ra một loạt chỉ tiêu về giáo dục: ít nhất 80% trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia; hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 3 - 5 tuổi và giáo dục bắt buộc hết trung học cơ sở; ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành cấp trung học phổ thông và tương đương, không có tỉnh, thành phố nào dưới 60%; 50% người trong độ tuổi theo học các chương trình sau trung học phổ thông; 24% lực lượng lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên; tỷ lệ người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ đạt ít nhất 35%, trong đó có tối thiểu 6.000 nghiên cứu sinh và 20.000 người học các chương trình tài năng; ít nhất 8 cơ sở giáo dục đại học vào nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á, và ít nhất 1 cơ sở vào nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực vào năm 2030. Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam có hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng và chất lượng, thuộc nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới, với ít nhất 5 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới ở một số lĩnh vực (Bộ Chính trị, 2025).

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng không chỉ lượng hóa các chỉ tiêu đầu ra, mà còn gắn với cơ chế thực hiện. Báo cáo chính trị nêu nhiệm vụ “xây dựng, triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo” (ĐCSVN, 2026, tr.101). Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương sau Đại hội tiếp tục cụ thể hóa: triển khai lộ trình phổ cập mầm non 3 - 5 tuổi; dạy học 2 buổi/ngày; đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học; triển khai STEAM và AI trong trường phổ thông; xây dựng cơ chế đột phá cho một số đại học để trở thành trung tâm khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo quốc gia; phát triển một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt trình độ khu vực và thế giới; xây dựng chương trình đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế; và phát triển nguồn nhân lực số cho kinh tế số, xã hội số (ĐCSVN, 2026, tr.161-163). Có thể thấy, Đại hội XIV của Đảng đã chuyển hóa các định hướng của Nghị quyết số 71-NQ/TW thành nhiệm vụ cụ thể, có sự phân công, cùng với cơ chế theo dõi và kiểm tra.

Về phương thức thực hiện

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận đối với giáo dục và đào tạo, từ vị trí, vai trò là một dịch vụ công sang phát triển giáo dục như hạ tầng nhân lực chiến lược. Nghị quyết yêu cầu “xây dựng một số trường, trung tâm đào tạo tiên tiến chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo. Có cơ chế đặc thù về hợp tác công tư trong đào tạo nhân lực công nghệ số. Xây dựng nền tảng giáo dục, đào tạo trực tuyến, mô hình giáo dục đại học số, nâng cao năng lực số trong xã hội” (Bộ Chính trị, 2024b). Với yêu cầu đó, giáo dục được đặt vào đúng vị trí của hạ tầng nhân lực cho công nghệ chiến lược: “Tăng cường đầu tư, đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” (Bộ Chính trị, 2024b).

Đại hội XIV của Đảng tiếp nối bằng cách yêu cầu đưa kỹ năng số và AI vào hệ thống giáo dục quốc dân, phát triển các trường đại học định hướng nghiên cứu thành trung tâm khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và xây dựng chương trình nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế (ĐCSVN, 2026, tr.100-103). Có thể thấy, Đại hội XIV đặt trọng tâm vào phát triển nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển đất nước; muốn đột phá khoa học, công nghệ thì phải đột phá giáo dục.

Chuyển từ mục tiêu công bằng tiếp cận đến mục tiêu công bằng có chất lượng: Nghị quyết số 71-NQ/TW đặt ra yêu cầu vừa mở rộng cơ hội tiếp cận, vừa nâng tiêu chuẩn chất lượng: Chỉ số giáo dục đóng góp vào HDI trên 0,8 và bất bình đẳng giáo dục giảm xuống dưới 10% (Bộ Chính trị, 2025). Đây là bước tiến lớn so với cách tiếp cận thiên về phổ cập đầu vào ở nhiều giai đoạn trước. Thống kê cho thấy, cả nước hiện có trên 5,1 triệu trẻ mầm non, trong đó 4.556.771 trẻ em trong độ tuổi 3 - 5 được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tuy nhiên, ước tính đến năm 2030, giáo dục mầm non còn thiếu khoảng 34.612 giáo viên, tỷ lệ giáo viên/lớp mới đạt 1,86 so với định mức 2,2 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025a). Điều đó cho thấy, đột phá về phổ cập mầm non không chỉ là vấn đề chỉ tiêu hành chính mà là khó khăn về đội ngũ, biên chế, đầu tư trường lớp và công bằng vùng miền.

Chuyển từ xử lý thiếu hụt đội ngũ sang tái định vị nghề dạy học: Trong Nghị quyết số 71-NQ/TW, phần nội dung chính sách đối với nhà giáo là một trong những điểm có tính đặc thù, vượt trội rõ nhất. Nghị quyết đặt ra yêu cầu ưu đãi vượt trội cho đội ngũ nhà giáo; nâng phụ cấp ưu đãi nghề đối với cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông lên tối thiểu 70% cho giáo viên, tối thiểu 30% cho nhân viên, 100% cho giáo viên ở khu vực đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ cho cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, mở rộng khả năng thu hút người giỏi ngoài lực lượng nhà giáo cơ hữu tham gia giảng dạy, nghiên cứu (Bộ Chính trị, 2025). Đại hội XIV của Đảng yêu cầu “có chính sách ưu đãi đặc thù, vượt trội đối với đội ngũ nhà giáo” (ĐCSVN, 2026, tr.101).

Chuyển từ phân mảnh đào tạo sang tái cấu trúc hệ thống giáo dục nghề nghiệp và đại học: Nghị quyết số 71-NQ/TW đã dành dung lượng rất lớn cho giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học: Phát triển hệ thống nghề nghiệp tinh gọn, hiệu quả, đạt chuẩn; hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp để tạo đột phá phát triển nguồn nhân lực kỹ năng nghề cao; hoàn thiện cơ chế liên kết nhà trường - doanh nghiệp; hiện đại hóa và nâng tầm giáo dục đại học để dẫn dắt nghiên cứu, đổi mới sáng tạo; sắp xếp, tái cấu trúc cơ sở giáo dục đại học; đầu tư phát triển 3 - 5 đại học tinh hoa; phát triển mô hình đại học đổi mới sáng tạo, đại học công nghệ thế hệ mới và khu đô thị công nghệ cao - đại học (Bộ Chính trị, 2025). Những định hướng này nhằm giải quyết vấn đề giáo dục nghề nghiệp và đại học “chưa đáp ứng yêu cầu nhân lực cho các ngành kinh tế mới, công nghệ cao”. Với nhận thức rằng, không thể xây dựng nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo bằng một cấu trúc giáo dục nghề nghiệp - đại học dàn trải, thiếu liên kết với thị trường lao động và hệ sinh thái nghiên cứu, Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh, “có chính sách đột phá phát triển một số cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu trở thành trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngang tầm các nước tiên tiến” (ĐCSVN, 2026, tr.101); “phát triển các trường đào tạo nghề chất lượng cao ngang tầm khu vực và thế giới” (ĐCSVN, 2026, tr.102).

Cụ thể hóa mục tiêu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua hệ chỉ tiêu có thể đo lường: Mục tiêu xã hội giai đoạn 2026 - 2030 xác định “tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%” (ĐCSVN, 2026, tr.85). Chỉ tiêu này đặc biệt quan trọng vì nó gắn trực tiếp với năng suất lao động, với khả năng hấp thụ công nghệ và với chính mô hình tăng trưởng mới mà Đại hội XIV của Đảng đề ra.

2.3. Tháo gỡ “điểm nghẽn” để phát triển đột phá giáo dục và đào tạo

Đại hội XIV của Đảng đã đề ra ba nhiệm vụ đối với giáo dục và đào tạo trong giai đoạn phát triển mới: 1) Giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực phát triển con người, gắn với văn hóa, đạo đức, nhân cách, thể chất, thẩm mỹ và hạnh phúc; 2) Giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực phát triển lực lượng sản xuất mới, gắn với khoa học, công nghệ, AI, kỹ năng số, nhân lực chất lượng cao và kinh tế số; 3) Giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực tái cấu trúc nhà nước phát triển, nơi các vấn đề về phân cấp, tự chủ, trách nhiệm giải trình, nguồn lực, dữ liệu và giám sát thực thi trở thành điều kiện của tăng trưởng. Từ đây, “đột phá giáo dục”, theo tinh thần Đại hội XIV, là một cấu phần của chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Tuy nhiên, trong quá trình chuyển hóa từ tinh thần nghị quyết, văn kiện, cần kịp thời tháo gỡ những điểm nghẽn sau:

Thứ nhất, sửa đổi pháp luật và hoàn thiện khung thể chế

Các kết luận, nghị quyết của Bộ Chính trị đã chỉ rõ, cần ban hành và sửa đổi nhiều luật mới liên quan đến giáo dục. Đến nay, nền tảng thể chế liên quan đến giáo dục và đào tạo chưa đủ mạnh để thực hiện các mục tiêu đột phá đã đề ra. Ngoài ra, chính sách ưu đãi đặc biệt cho giáo viên cũng khó đi vào thực tế, việc phân cấp tự chủ đại học khó thể hiện bằng văn bản ràng buộc và cơ chế phân bổ ngân sách cho giáo dục khó được luật hóa.

Thứ hai, nguồn lực tài chính

Cam kết dành tối thiểu 20% tổng chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo (trong Kết luận số 91-KL/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW) là mục tiêu rất cao, nhưng trên thực tế, ngân sách hiện tại còn thiếu hụt. Do đó, để thực hiện mục tiêu trên, Chính phủ và các cơ quan liên quan phải rà soát lại quy trình lập dự toán, cơ chế chi tiêu và nguồn bù đắp (tăng thu thuế, đổi mới tài chính công…) để đạt được mức 20% đã đề ra. Nếu không có nguồn lực thực chất, các nhiệm vụ như xây dựng trường chuẩn, nâng chất giáo viên, trang bị thiết bị công nghệ… sẽ không thể hoàn thành.

Thứ ba, đội ngũ giáo viên và nhà quản lý

Nhiều chính sách đột phá (mở rộng quy mô, đưa chương trình mới vào trường học, xây dựng chuẩn quốc gia…) đều đòi hỏi đội ngũ giáo viên đáp ứng đủ cả về số lượng và trình độ chuyên môn. Hiện đang rất thiếu giáo viên mầm non và giáo viên dạy các môn mới (STEM, kỹ năng số, công nghệ thông tin). Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Việt Nam còn thiếu khoảng 34.612 giáo viên mầm non đến năm 2030 để đạt phổ cập giáo dục mầm non. Ở cấp phổ thông, số lượng giáo viên tin học, ngoại ngữ, STEM… vẫn rất hạn chế. Vì vậy, giải quyết “điểm nghẽn đội ngũ” đòi hỏi phải có chương trình đào tạo, tuyển dụng và đãi ngộ đặc biệt: Tăng mạnh chỉ tiêu đào tạo sư phạm chất lượng cao, thu hút người trẻ giỏi vào nghề giáo, nâng phụ cấp ưu đãi nghề (Nghị quyết số 71-NQ/TW đã đặt mục tiêu tối thiểu 70% phụ cấp cho giáo viên mầm non và phổ thông ở khu vực khó khăn). Nếu không thu hút được lực lượng giáo viên đông đảo, đáp ứng về trình độ, năng lực chuyên môn, việc mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục sẽ không thể đạt chỉ tiêu đã công bố.

Thứ tư, tích hợp với chính sách khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và thị trường lao động

Muốn đột phá giáo dục thành công, phải gắn liền với mục tiêu phát triển lực lượng sản xuất tri thức và lực lượng lao động chất lượng cao. Nghị quyết số 57-NQ/TW đã đề cập việc “tăng cường đầu tư, đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số”. Điều này nghĩa là chương trình đào tạo trong nhà trường phải cập nhật nhanh với công nghệ mới, ngành nghề mới, và phải có cơ chế liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp.

Tuy nhiên, hiện nay giáo dục và thị trường lao động còn vận hành khá tách biệt. Nhiều trường đại học chưa gắn được với nhu cầu của doanh nghiệp, giáo dục nghề chưa đáp ứng chuẩn quốc tế, các lĩnh vực trọng điểm (AI, rôbốt, công nghệ sinh học…) chưa được định hình chương trình đào tạo chính quy. Để khắc phục, cần có đề án và cơ chế cho phép trường học và doanh nghiệp hợp tác đào tạo (ví dụ, cho phép doanh nghiệp đầu tư vào cơ sở giáo dục đại học, cùng xây dựng chương trình), thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng trong trường học và đưa giáo dục STEM, ngoại ngữ, kỹ năng số trở thành chuẩn đầu ra. Nói cách khác, nếu chính sách giáo dục không tích hợp đồng thời với chính sách khoa học, công nghệ và chính sách phát triển nhân lực, thì đột phá giáo dục sẽ không còn ý nghĩa thực chất.

Thứ năm, năng lực dữ liệu và giám sát thực thi

Bài học từ các chính sách giáo dục trước cho thấy sự thiếu hụt về cơ chế đánh giá tiến độ và chất lượng. Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh vấn đề này. Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV nêu: “xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục, nền tảng quản lý, giám sát, đánh giá dựa trên công nghệ thông tin, chuyển đổi số” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026). Yêu cầu xây dựng “nền tảng số theo dõi tiến độ theo thời gian thực” trong Chương trình hành động cho thấy, Đảng ta đã nhận thức rõ việc phải có hệ thống thông tin để giám sát từng nhiệm vụ cụ thể.

Tuy nhiên, năng lực hiện tại còn hạn chế: Hệ thống dữ liệu giáo dục còn rời rạc, báo cáo chưa kịp thời, việc chia sẻ thông tin giữa các bộ ngành còn hạn chế. Vì vậy, nếu không đầu tư mạnh vào công nghệ thông tin - truyền thông, cơ sở dữ liệu và đào tạo chuyên gia dữ liệu trong ngành, thì “giám sát thời gian thực” khó thực hiện. Điều này là then chốt để kịp điều chỉnh chính sách, bảo đảm các mục tiêu đột phá được thực hiện có hiệu quả.

3. Kết luận

“Đột phá về phát triển giáo dục - đào tạo” là kết quả của quá trình không ngừng đổi mới tư duy, nhận thức của Đảng, được cụ thể hóa thành những chủ trương, quan điểm chỉ đạo và mục tiêu phát triển. Đại hội XIV đã chắt lọc, nâng cấp và khái quát hóa thành định hướng phát triển giáo dục và đào tạo quốc gia đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, theo đó, giáo dục và đào tạo được đặt trong quan hệ hữu cơ với ba đột phá lớn của đất nước. Một là, đột phá thể chế: không đổi mới tư duy, quản trị, phân cấp, pháp luật và cơ chế đầu tư thì không thể đột phá giáo dục. Hai là, đột phá về nguồn lực con người: giáo dục phải tạo ra nguồn nhân lực có kỹ năng, có ngoại ngữ, có năng lực số, có khả năng học tập suốt đời và đổi mới sáng tạo. Ba là, đột phá khoa học, công nghệ, chuyển đổi số: giáo dục không chỉ phục vụ khoa học, công nghệ, mà trở thành cơ chế tái sản xuất lâu dài của năng lực cạnh tranh công nghệ quốc gia. Chính vì vậy, điểm mới lớn nhất về giáo dục và đào tạo trong Văn kiện Đại hội XIV không chỉ là đặt ra nhiệm vụ mới cho ngành giáo dục, mà còn xây dựng, củng cố vai trò chiến lược của giáo dục trong mô hình phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới.

_________________

Ngày nhận bài: 24/5/2026; Ngày bình duyệt: 9/6/2026; Ngày quyết định đăng: 14/9/2026.

Email tác giả: hoangtham@tmu.edu.vn

Tài liệu tham khảo:

Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013, ngày 4/11). Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026, ngày 13/2). Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của

Đảng. Cổng Thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn

Bộ Chính trị (2024a, ngày 12/8). Kết luận số 91-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW.

Bộ Chính trị (2024b, ngày 22/12). Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Bộ Chính trị (2025, ngày 22/8). Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025a, ngày 26/6). Quốc hội thông qua Nghị quyết về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi. https://moet.gov.vn.

Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026, ngày 20/1). Giáo dục và đào tạo đang bước vào giai đoạn tạo đột phá về thể chế và chất lượng. https://moet.gov.vn.

ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Lê Thị Mai Hoa (2024, ngày 17/4). Giáo dục Việt Nam sau 10 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Tạp chí Giáo dục. https://tapchigiaoduc.edu.vn.