Diễn đàn

Quá trình thực hiện các chiến lược nâng cao sự tham gia của đại biểu nữ trong Quốc hội Việt Nam

• 24/09/2026 14:36

Tóm tắt: Trong bối cảnh thúc đẩy quản trị quốc gia hiệu quả và phát triển bền vững, việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong Quốc hội không chỉ là yêu cầu về bình đẳng giới mà còn là yếu tố quan trọng nâng cao chất lượng đại diện và hiệu quả chính sách. Bài viết phân tích các chiến lược thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong Quốc hội, đánh giá kết quả đạt được, và các vấn đề đặt ra nhằm bảo đảm sự tham gia thực chất, bình đẳng và bền vững của phụ nữ. Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở tổng quan tài liệu và phân tích số liệu thống kê chính thức về đại biểu Quốc hội.

TS TRẦN THỊ HỒNG
Viện Nghiên cứu con người, gia đình và giới

dbnd.1cdn.vn-2026-04-11-_2712788800077762774.jpg
Chương trình Gặp mặt nữ đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI nhân Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI tổ chức ngày 11/4/2026_Ảnh: ĐBND

1. Mở đầu

Tại Việt Nam, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Quốc hội được tổ chức theo mô hình một viện, gồm các đại biểu do cử tri cả nước bầu ra với nhiệm kỳ 5 năm. Đại biểu Quốc hội đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của nhân dân cả nước. Theo quy định của pháp luật, tổng số đại biểu Quốc hội không quá năm trăm người (Quốc hội, 2014). Sự tham gia của phụ nữ trong Quốc hội không chỉ là vấn đề bình đẳng về giới, mà còn là nhân tố then chốt quyết định chất lượng quản trị, sự phát triển bền vững và tính toàn diện của một quốc gia (UNDP, 2024).

Bài viết tập trung làm rõ những chiến lược mà Việt Nam đã và đang thực hiện để thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong Quốc hội, những thành tựu đạt được và những vấn đề cần quan tâm để bảo đảm sự tham gia toàn thiện và bền vững của phụ nữ trong Quốc hội. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu, gồm các văn bản pháp luật, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các báo cáo và công trình nghiên cứu có liên quan; đồng thời kết hợp phân tích số liệu thống kê về đại biểu Quốc hội.

2. Nội dung

2.1. Tiến trình đặt hạn ngạch nữ ứng cử viên - chiến lược thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong Quốc hội

Giai đoạn khởi đầu (1946-1976)

Ngay khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đã khẳng định tư tưởng “không phân biệt gái trai” (tại Điều 1) và “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (tại Điều 9). Dù vậy, trong Quốc hội khóa I, tỷ lệ nữ đại biểu rất thấp, phản ánh bối cảnh chiến tranh và cấu trúc chính trị - xã hội thời kỳ đầu, khi vai trò chính trị của phụ nữ còn hạn chế.

Giai đoạn 1954-1975, Việt Nam trải qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, yêu cầu tổng động viên toàn xã hội thời kỳ này, thúc đẩy phụ nữ tham gia rộng rãi vào sản xuất, hậu cần và tổ chức xã hội, làm gia tăng vai trò chính trị và đại diện của phụ nữ, công tác cán bộ nữ cũng được chú trọng. Nghị quyết số 153-NQ/TW ngày 01/01/1967 của Bộ Chính trị về công tác cán bộ nữ, đã định hướng việc sử dụng, đề bạt và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, đặt biệt chú trọng đề bạt cán bộ nữ vào các chức vụ chủ chốt nhằm nâng cao tỷ lệ nữ hơn nữa. Đối với các ngành, lĩnh vực hoặc các cơ quan cần thiết, có thể quy định tỷ lệ tối thiểu phụ nữ tham gia các trí lãnh đạo, quản lý (ĐCSVN, 1967).

Sau khi thống nhất đất nước (năm 1975), Quốc hội được tổ chức theo tinh thần “đại đoàn kết dân tộc”, mở rộng đại diện các lực lượng tham gia kháng chiến, đồng thời các đóng góp lớn của phụ nữ được ghi nhận.

Giai đoạn định hướng (1976-2011)

Sau khi đất nước thống nhất đến những năm đầu thời kỳ đổi mới, bối cảnh hậu chiến, xung đột biên giới và tái thiết đất nước, các ưu tiên phát triển chủ yếu hướng vào quốc phòng, an ninh và quản trị kinh tế.

Trước tình hình đó, ngày 12/7/1993 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 04-NQ/TW về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới, trong đó định hướng “phấn đấu tăng tỷ lệ nữ trong các cấp ủy Đảng, cơ quan Nhà nước, trong các lĩnh vực quản lý kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục, khoa học, nghệ thuật” và nêu rõ “chống coi thường phụ nữ, phân biệt đối xử, khắt khe, hẹp hòi trong đánh giá, sử dụng, đề bạt cán bộ nữ” (Bộ Chính trị, 1993). Thực hiện nhờ những định hướng về chiến lược và chính sách trên, tỷ lệ nữ đại biểu quốc hội của Việt Nam tăng trở lại Quốc hội khóa X (1997-2002). Năm 1997, Việt Nam thuộc nhóm 10 nước đứng đầu thế giới về tỷ lệ nữ trong Quốc hội (UNDP, 2012).

Ở giai đoạn này, Luật Bình đẳng giới (năm 2006) là khuôn khổ pháp lý cơ bản quy định các nguyên tắc bình đẳng giới trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội và gia đình, cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc bảo đảm các nguyên tắc này. Luật Bình đẳng giới nêu rõ, nam - nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội; Đề ra các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị gồm: Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới (Điều 11). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam nói chung cũng như thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực chính trị nói riêng. Tuy nhiên, Điều 11 của Luật chỉ quy định bảo đảm tỷ lệ phụ nữ được bầu ở mức “thích đáng” mà chưa quy định cụ thể tỷ lệ này trong các văn bản hướng dẫn thi hành.

Ngày 27/4/2007, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó đề ra chỉ tiêu: Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp từ 35% đến 40%. Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ. Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới (Bộ Chính trị, 2007). Đây là lần đầu tiên chỉ tiêu về tỷ lệ nữ đại biểu quốc hội được đưa ra nhưng còn mang tính “khuyến khích” nên hiệu quả chưa cao.

Thực tế, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XII (2007-2011) và khóa XIII (2011-2016) đều giảm so với nhiệm kỳ trước đó. Sự sụt giảm này khiến thứ hạng về tỷ lệ nữ trong Quốc hội của Việt Nam so với các nước trên thế giới đã giảm dần xuống vị trí 44 (năm 2012) và xuống vị trí 71 (trước kỳ bầu cử 2021). Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20/01/2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới, đã chỉ ra nhiều chỉ tiêu của Nghị quyết số 11-NQ/TW về công tác cán bộ nữ chưa đạt yêu cầu; tình trạng định kiến giới vẫn còn tồn tại. Trên cơ sở đó, Chỉ thị yêu cầu người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu về công tác cán bộ nữ theo tinh thần Nghị quyết số 11-NQ/TW. Cùng thời gian đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, tiếp tục đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ nữ trong đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đạt trên 35% (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2018).

Giai đoạn thể chế hóa (2011-2026)

Từ năm 2015, Việt Nam chính thức thể chế hóa quy định về tỷ lệ nữ trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội. Theo Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân (năm 2015), danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội phải bảo đảm có ít nhất 35% là phụ nữ. Mức tỷ lệ này phù hợp với khuyến nghị quốc tế về áp dụng chỉ tiêu giới, đồng thời cao hơn ngưỡng tối thiểu 30% được xác định trong Cương lĩnh hành động Bắc Kinh năm 1995 - mức được xem là cần thiết để phụ nữ có thể tạo ảnh hưởng thực chất đối với quá trình hoạch định và quyết định chính sách.

Cũng trong thời gian này, ngày 16/3/2015, Ban Bí thư ra Thông báo số 196-TB/TW về Kết luận của Ban Bí thư về Đề án “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ trong tình hình mới”. Thông báo nêu rõ, các cấp ủy, tổ chức đảng phải làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và bổ nhiệm cán bộ nữ; thực hiện cho được mục tiêu nêu trong Nghị quyết số 11-NQ/TW đề ra (Ban Bí thư, 2015). Văn bản này cho thấy sự quan tâm của Đảng trong việc thúc đẩy sự tham gia của nữ giới trong Quốc hội, hướng tới mục tiêu đề ra.

Sau khi quy định về tỷ lệ nữ trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội được ban hành, tỷ lệ nữ ứng cử được tăng lên đáng kể. Trong các kỳ bầu cử Quốc hội khóa trước, tỷ lệ nữ ứng viên chỉ đạt khoảng trên 30%, đến Quốc hội khóa XVI (2016-2021), tỷ lệ này đã đạt 38,9% và tăng lên 45,2% ở Quốc hội khóa XV (2021-2026). Nhờ đó, tỷ lệ nữ đại biểu trúng cử đã tăng từ 24,4% ở Quốc hội khóa XII (2011-2016) lên 26,7% ở Quốc hội khóa XIV (2016-2021) và 30,2% ở Quốc hội khóa XV (2021-2026).

Năm 2025, Luật số 83/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp tục quy định: Số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Ban Thường vụ Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, bảo đảm có ít nhất 35% tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ (Quốc Hội, 2025). Điều đó cho thấy, Việt Nam tiếp tục theo đuổi chiến lược quy định chỉ tiêu ứng cử viên nữ nhằm điều chỉnh cơ cấu về giới trong danh sách ứng cử và hướng đến bảo đảm sự tham gia về số lượng của phụ nữ trong Quốc hội.

Có thể nói, với tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội đạt 30,6% tại Quốc hội khóa XV (2021-2026) là một kết quả vượt bậc, góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trong thúc đẩy bình đẳng giới và nâng cao sự tham gia của phụ nữ lĩnh vực chính trị so với các nước trên thế giới. Việt Nam đã vươn từ vị trí thứ 71 lên thứ 51 trên thế giới, đứng thứ tư trong khu vực châu Á và thứ hai trong Liên minh Nghị viện Thế giới về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội (Tổng Cục thống kê, 2023). So với các quốc gia có sự tương đồng về điều kiện kinh tế và các quốc gia trong khu vực, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội của Việt Nam cao hơn đáng kể. Tỷ lệ này cao hơn khoảng 3,05% so với nhóm các quốc gia thu nhập trung bình cao (27,15%), cao hơn 6,73% so với nhóm thu nhập trung bình thấp (23,47%), và cao hơn 7,18% so với mức trung bình của khu vực Đông Á - Thái Bình Dương (23,02%). Đặc biệt, so với nhóm các quốc gia thu nhập thấp (22,67%), tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội của Việt Nam cao hơn 7,53% (Our World in Data, 2026).

Những số liệu này cho thấy, mức độ tham gia của phụ nữ trong Quốc hội ở Việt Nam tương đối cao so với mặt bằng chung của nhiều nhóm quốc gia, phản ánh những nỗ lực của Việt Nam trong việc thúc đẩy bình đẳng giới và tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào đời sống chính trị. Kết quả này có được nhờ việc triển khai đồng bộ các chủ trương, chính sách và cơ chế hỗ trợ, đặc biệt là quy định về tỷ lệ nữ ứng cử viên và các chương trình nâng cao năng lực cho nữ lãnh đạo.

Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn chỉ tiệm cận ngưỡng 30% - mức tối thiểu để phụ nữ có thể tạo ra ảnh hưởng đáng kể trong quá trình hoạch định chính sách. Vì vậy, việc tiếp tục nâng cao tỷ lệ đại diện của phụ nữ trong các cơ quan quyền lực nhà nước vẫn là một yêu cầu quan trọng nhằm thúc đẩy bình đẳng giới thực chất trong lĩnh vực chính trị.

2.2. Chiến lược nâng cao năng lực cho nữ giới tham gia đại biểu Quốc hội

Kinh nghiệm quốc tế trong thúc đẩy sự tham gia thực chất của phụ nữ trong chính trị không chỉ dừng lại ở việc gia tăng số lượng (đại diện hình thức) mà tập trung vào việc nâng cao vai trò, tiếng nói và hiệu quả hoạt động (đại diện nội dung). Các biện pháp nâng cao năng lực thường bao gồm: đào tạo kỹ năng nghị trường (lập pháp, giám sát, soạn thảo luật), thành lập mạng lưới nữ nghị sĩ, triển khai các cải cách chính sách, và can thiệp thể chế để bảo đảm sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý.

Tại Việt Nam, các chương trình bồi dưỡng nữ ứng cử viên đại biểu Quốc hội và nữ đại biểu Quốc hội đã được triển khai trong nhiều năm qua. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong hoạt động này, song hành cùng với sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam. Từ năm 2004, hoạt động bồi dưỡng đại biểu dân cử được tiến hành chuyên biệt thông qua việc thành lập Trung tâm Bồi dưỡng Đại biểu dân cử - đơn vị cấp vụ thuộc Văn phòng Quốc hội, trực tiếp giúp việc Ban Công tác đại biểu (cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội).

Ngày 03/4/2023, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 761/NQ-UBTVQH15 quy định một số nội dung về bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng hoạt động cho đại biểu Quốc hội nhằm xây dựng khuôn khổ pháp lý chặt chẽ, khả thi về hoạt động bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho đại biểu Quốc hội; trang bị, bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội; nâng cao chất lượng, năng lực hoạt động của đại biểu Quốc hội. Đây là lần đầu tiên Quốc hội ban hành nghị quyết riêng về bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng hoạt động của đại biểu Quốc hội nhằm trang bị cho đại biểu Quốc hội có kiến thức chuyên sâu, kiến thức mới liên quan đến đổi mới phương thức hoạt động của Quốc hội trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết không chỉ quy định nội dung bồi dưỡng chung cho đại biểu Quốc hội mà còn dành các chương trình theo nhu cầu đặc thù của một số nhóm đại biểu, trong đó có nữ đại biểu Quốc hội.

Song hành cùng hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực, ngày 15/5/2008 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 620/2008/NQ-UBTVQH về thành lập “Nhóm nữ Nghị sĩ Việt Nam”, với hơn 100 nữ đại biểu Quốc hội tự nguyện tham gia. Nhóm này được thành lập với mục tiêu tạo diễn đàn để các nữ đại biểu Quốc hội có cơ hội giao lưu, trao đổi kinh nghiệm về kỹ năng hoạt động đại biểu cũng như học hỏi kinh nghiệm hoạt động của các nhóm nữ nghị sĩ quốc tế, qua đó góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội; tạo diễn đàn để các nữ đại biểu có tiếng nói chung trong các vấn đề liên quan đến hoạt động của Quốc hội, đồng thời hỗ trợ cho các đại biểu hoạt động tốt hơn, hiệu quả hơn vai trò đại diện của mình. Hoạt động của Nhóm nữ nghĩ sĩ Việt Nam gồm: tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm nhằm cung cấp thông tin, nâng cao kiến thức cho nữ đại biểu về các vấn đề liên quan đến nội dung hoạt động của Quốc hội, đặc biệt là về thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, lồng ghép giới trong quy trình lập pháp và vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình…; tham gia các diễn đàn đa phương và song phương, tiếp đón và làm việc với các đoàn khách quốc tế nhằm chia sẻ kinh nghiệm và góp phần thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa Nhóm nữ nghị sĩ Việt Nam và nhóm nữ nghị sĩ các nước (Nhóm nữ đại biểu quốc hội Việt Nam, 2016).

Về hiệu quả, chính sách bồi dưỡng đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Thứ nhất, góp phần giảm bất lợi ban đầu cho nhiều đại biểu nữ, đặc biệt là đại biểu lần đầu trúng cử trong việc nắm bắt quy trình nghị viện, kỹ năng lập pháp, giám sát và tiếp xúc cử tri. Thứ hai, các chương trình bồi dưỡng theo chuyên đề (ngân sách, đánh giá tác động chính sách, kỹ năng chất vấn) đã nâng cao mức độ tự tin và khả năng tham gia của đại biểu nữ trong các hoạt động nghị trường. Thực tế cho thấy, các đại biểu Quốc hội nói chung cũng như các nữ đại biểu nói riêng thường hoạt động sắc sảo, sôi nổi, chất lượng hơn khi hoạt động từ nhiệm kỳ thứ hai trở đi (Trần Văn Túy & Dương Thị Tình Thương, 2020).

Từ cách tiếp cận giới, bồi dưỡng đại biểu nữ được Đảng và Chính phủ Việt Nam quan tâm không chỉ nhằm nâng cao năng lực, mà còn là biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới theo quy định pháp luật và các chiến lược quốc gia. Đây là điểm tiến bộ khi ở một vài quốc gia, thí dụ: ở Indonesia, các đảng thường cung cấp nội dung đào tạo chính trị một cách chung chung cho cán bộ, hiếm khi tính đến sự khác biệt về thái độ và hành vi của nữ giới và nam giới trong quá trình nâng cao năng lực tham gia chính trường nên không phân loại hay thiết kế chương trình riêng giữa ứng viên nữ và ứng viên nam.

Dù vậy, các chương trình bồi dưỡng kiến thức cần cải thiện để nâng cao hiệu quả khi việc triển khai thường chỉ diễn ra trước thời gian bầu cử, trong khi theo đánh giá của các nữ ứng cử viên, việc nâng cao năng lực phải là một quá trình lâu dài và cần định hướng gắn với vị trí đảm nhiệm (UNDP, 2012). Việc tham gia các khóa bồi dưỡng hiếm khi gắn với lộ trình đảm nhiệm vị trí lãnh đạo sẽ làm suy yếu tác động chuyển hóa của bồi dưỡng, khi năng lực được nâng lên nhưng không có “đầu ra quyền lực” tương ứng. Ngoài ra, các chương trình bồi dưỡng còn ít chú trọng vào kỹ năng diễn thuyết trước công chúng, kỹ năng trả lời phỏng vấn báo chí và kỹ năng xây dựng hình ảnh tích cực trong xã hội (Trần Văn Túy & Dương Thị Tình Thương, 2020). Vẫn còn thiếu quy định về bộ tiêu chuẩn chất lượng đối với các “Chương trình bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng hoạt động đại biểu Quốc hội” để quản lý và bảo đảm chất lượng, hiệu quả (Trần Tuyết Mai, 2019).

2.3. Những vấn đề đặt ra

Phân tích quá trình hình thành, hoàn thiện các thể chế bảo đảm sự tham gia của nữ giới trong Quốc hội ở Việt Nam cho thấy một số vấn đề đáng chú ý sau:

Thứ nhất, việc đề ra, tuy có hiệu quả trong việc tăng tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội nhưng để bảo đảm tính bền vững cần được luật hóa. Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, bầu cử Quốc hội khóa V (1975-1976) mặc dù chưa tồn tại các quy định pháp lý về tỷ lệ giới, phụ nữ vẫn được bảo đảm vị trí trong cơ cấu đại biểu thông qua các chỉ đạo cụ thể trong thực tiễn triển khai khi danh sách ứng cử viên được xây dựng theo cơ cấu các thành phần xã hội - chính trị, như: công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, thanh niên và phụ nữ. Trong cấu trúc này, phụ nữ được xác định là một nhóm đại diện bắt buộc, có vị trí riêng trong thiết kế đại diện chính trị. Cơ chế này làm giảm sự cạnh tranh trực tiếp giữa nam và nữ trong quá trình lựa chọn ứng cử viên, tạo điều kiện cho phụ nữ trúng cử với tỷ lệ cao, điều khó đạt được trong các mô hình bầu cử cạnh tranh mở. Nhiều nữ đại biểu trong nhiệm kỳ này là những người đã có kinh nghiệm lãnh đạo phong trào và được cộng đồng thừa nhận, làm tăng khả năng trúng cử của họ.

Thứ hai, dù đã đề ra các chỉ tiêu về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội từ năm 2007, nhưng cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa đạt chỉ tiêu có 35%-40% nữ đại biểu Quốc hội. Các nghiên cứu cho thấy, sự chênh lệch đáng kể trong tỷ lệ trúng cử giữa hai giới. Trong khi tỷ lệ trúng cử của ứng viên nam thường đạt trên 60-67%, thì tỷ lệ này ở ứng viên nữ chỉ dao động khoảng 45-47% (UNDP, 2014). Nguyên nhân Việt Nam không đạt được các mục tiêu đề ra là ở việc thực thi luật còn hạn chế. Luật Bình đẳng giới còn mang tính khái quát khi sử dụng các quy định như bảo đảm tỷ lệ phụ nữ ở mức “thích đáng”, nhưng chưa quy định cụ thể để làm căn cứ triển khai và giám sát. Bên cạnh đó, việc thực hiện các mục tiêu còn thiếu cơ chế trách nhiệm rõ ràng. Chưa có cá nhân hoặc cơ quan cụ thể chịu trách nhiệm khi không hoàn thành chỉ tiêu, đồng thời cũng thiếu các chế tài xử lý phù hợp. Thực tế nhiều đơn vị không đạt được tỷ lệ như đã đề ra nhưng không có cơ chế xử phạt. Điều đó có nghĩa là phần lớn việc thực thi phụ thuộc vào ý chí chính trị.

Thứ ba, xu hướng tỷ lệ thuận giữa tăng tỷ lệ nữ ứng viên với tỷ lệ nữ trúng cử gợi mở về việc thiết lập lộ trình tăng dần. Nhiều quốc gia như: Mêhicô, Udơbêkixtan và Ailen cho thấy tỷ lệ này được điều chỉnh tăng theo từng giai đoạn, từ 30% lên 35% và 40%, thay vì duy trì ở một mức cố định. Giai đoạn 1995-2025, Udơbêkixtan cũng ghi nhận mức tiến bộ lớn nhất trong khu vực khi tăng 32%, không chỉ dẫn đầu khu vực châu Á về đại diện nghị viện của phụ nữ, mà còn đứng đầu về mức tiến bộ đạt được trong ba thập kỷ qua. Năm 2004, quốc gia này đã áp dụng chỉ tiêu giới, quy định tối thiểu 30% ứng cử viên của các đảng là phụ nữ. Từ đó, tỷ lệ đại diện của phụ nữ đã được cải thiện một cách ổn định qua các năm. Yêu cầu về tỷ lệ bầu cử đã được nâng lên mức 40% trong cuộc bầu cử năm 2024, qua đó tiếp tục thúc đẩy sự cải thiện (Inter-Parliamentary Union, 2025).

Từ kinh nghiệm này, vấn đề đặt ra đối với Việt Nam là cần nghiên cứu cơ chế điều chỉnh tỷ lệ nữ trong danh sách ứng cử theo hướng có lộ trình tăng dần, thay vì chỉ duy trì mức tối thiểu ổn định qua các khóa bầu cử. Việc xây dựng lộ trình phù hợp với từng giai đoạn phát triển giúp bảo đảm tính khả thi, đồng thời tạo áp lực tích cực đối với công tác quy hoạch, đào tạo và giới thiệu cán bộ nữ.

3. Kết luận

Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống chính sách và khuôn khổ pháp lý khá vững chắc về bình đẳng giới nói chung và thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống chính trị nói riêng, từ các quy định trong Hiến pháp đến các luật chuyên ngành. So với nhiều quốc gia, Việt Nam vừa xác định mục tiêu về tỷ lệ nữ đại biểu theo từng giai đoạn, vừa quy định tỷ lệ tối thiểu nữ trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tiễn cho thấy chỉ tiêu giới chỉ phát huy hiệu quả khi được thể chế hóa rõ ràng, thực hiện nhất quán và gắn với cơ chế giám sát, đánh giá. Đồng thời, việc nâng cao tỷ lệ nữ ứng cử cần đi đôi với công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn cán bộ nữ, bảo đảm cả về số lượng và chất lượng. Trong thời gian tới, việc xây dựng lộ trình nâng dần tỷ lệ nữ ứng cử và trúng cử một cách bền vững sẽ góp phần nâng cao chất lượng đại diện của Quốc hội và tiếp tục khẳng định cam kết của Việt Nam trong thúc đẩy bình đẳng giới trong hệ thống chính trị.

Ngày nhận: 9/3/2026; Ngày bình duyệt: 3/7/2026; Ngày quyết định đăng: 22/8/2026.

Email tác giả: hong_xhh@yahoo.com

Tài liệu tham khảo

Ban Bí thư (16/3/2015). Thông báo số 196-TB/TW về Kết luận của Ban Bí thư về Đề án “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ trong tình hình mới”.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng (19/5/2018). Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

Bộ Chính trị (12/7/1993). Nghị quyết 04-NQ/TW về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới.

Bộ Chính trị (27/4/2007). Nghị quyết số 11-NQ/TW về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

ĐCSVN (1967). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 28). NXb Chính trị quốc gia.

Inter-Parliamentary Union (2025). Women in parliament 1995-2025. https://www.ipu.org/

Nhóm nữ đại biểu quốc hội Việt Nam (2016). Báo cáo Tổng kết hoạt động của Nhóm nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII.

Our World in Data (12/01/2026). Share of women in parliament. https://archive.ourworldindata.org/

Quốc hội (2014). Luật Tổ chức quốc hội.

Quốc hội (24/06/2025). Luật số 83/2025/QH15 của Quốc hội: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.

Tổng Cục thống kê (2023). Thông tin Thống kê giới tại Việt Nam.

Trần Tuyết Mai (2019). Nâng cao hiệu quả bồi dưỡng đại biểu Quốc hội. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. https://lapphap.vn.

Trần Văn Túy & Dương Thị Tình Thương (2020). Hoạt động của nữ đại biểu quốc hội: Thực trạng và một số kiến nghị. https://quochoi.vn.

UNDP (2012). Nữ đại biểu Quốc hội ở Việt Nam Hướng tới tương lai.

UNDP (2014). Nữ đại biểu trong Quốc hội Việt Nam: Từ tham gia đến đại diện.

UNDP (2024). Report on Stakeholder Mapping and Analysis on Gender Equality in Political Participation in Viet Nam.