Thực tiễn

Đổi mới định hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Thái Nguyên theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

• 01/10/2026 06:53

Tóm tắt: Bài viết phân tích thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2015-2026, từ đó, đề xuất các giải pháp đổi mới thu hút FDI theo hướng ưu tiên công nghệ cao, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước và nâng cao chất lượng tăng trưởng.

TS NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG
Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên
ThS NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
Tạp chí Lý luận chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

i1-kinhdoanh.vnecdn.net-2026-05-14-_image-639107522908015879-17787-8716-3230-1778753721.jpg
Hiệu ứng dẫn dắt của khu vực FDI đã tạo ra những chuyển biến căn bản trong tăng trưởng và cơ cấu kinh tế của Thái Nguyên_Ảnh: IT

1. Mở đầu

Sau 40 năm đổi mới, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, đóng vai trò là kênh bổ sung vốn, chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường xuất khẩu và thúc đẩy quá trình tham gia của Việt Nam vào mạng lưới sản xuất, chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, Bộ Chính trị cũng thẳng thắn chỉ rõ những giới hạn mang tính cấu trúc của mô hình tăng trưởng dựa vào FDI theo số lượng: “tỷ lệ dự án thâm dụng lao động, tài nguyên, đất đai, năng lượng, gia công, lắp ráp còn cao; tỷ lệ nội địa hóa, giá trị tăng thêm hình thành ở Việt Nam còn thấp; liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước chưa cao, chuyển giao công nghệ còn hạn chế; còn hiện tượng cạnh tranh thu hút đầu tư theo số lượng ở một số địa phương” (Bộ Chính trị, 2026).

Có hạt nhân là Tổ hợp Samsung Electronics tại Khu công nghiệp Yên Bình, Thái Nguyên đã trở thành một trong những điểm sáng tiêu biểu của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ cũng như của cả nước về quy mô vốn đăng ký, giá trị sản xuất công nghiệp và giá trị xuất khẩu. Việc Samsung liên tục mở rộng quy mô từ năm 2013 đến nay đã làm thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế của tỉnh, đưa Thái Nguyên từ một địa phương công nghiệp truyền thống dựa vào khai khoáng và luyện kim trở thành một trung tâm công nghiệp điện tử có sức ảnh hưởng trong khu vực. Tuy nhiên, chính sự thành công mang tính “hiện tượng” gắn với một số ít tập đoàn đa quốc gia cũng đặt ra câu hỏi mang tính chiến lược: liệu mô hình tăng trưởng FDI hiện nay của Thái Nguyên có đủ sức tạo ra nền tảng phát triển bền vững, tự chủ về công nghệ, hay vẫn đang dừng lại ở vị thế “công xưởng lắp ráp” của chuỗi giá trị toàn cầu?

Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đặt ra yêu cầu: “chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; từ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng... làm tiêu chí chủ yếu” (Bộ Chính trị, 2026). Việc nghiên cứu vận dụng tinh thần đổi mới của Nghị quyết số 10-NQ/TW vào điều kiện thực tiễn của tỉnh Thái Nguyên có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.

2. Nội dung

2.1. Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Thái Nguyên

a) Những kết quả đạt được

Thái Nguyên thu hút dự án FDI đầu tiên năm 1993, nhưng phải 20 năm sau, đến khi Tập đoàn Samsung đầu tư vào Khu công nghiệp Yên Bình cuối năm 2013 thì dòng vốn FDI vào tỉnh mới thực sự có bước “bứt phá ngoạn mục” (Báo Thái Nguyên, 2023a). Đến cuối năm 2025, tổng vốn đầu tư của Samsung tại Thái Nguyên (qua hai pháp nhân chính là Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên - SEVT và Samsung Electro-Mechanics Việt Nam - SEMV) đã đạt gần 7,5 tỷ USD, chiếm 63% tổng vốn đầu tư FDI toàn tỉnh. Đầu năm 2026, Samsung tiếp tục triển khai thêm 2 dự án quy mô lớn với tổng vốn đăng ký 5,36 tỷ USD, gồm: Dự án Samsung Việt Nam Semiconductor (sản xuất chip bán dẫn, 4 tỷ USD) và Dự án nhà máy thứ hai của Công ty Samsung Điện cơ (SEMV), sản xuất bảng mạch điện tử cao cấp (1,28 tỷ USD) (Báo Thái Nguyên, 2026a).

Lũy kế đến năm 2025 (tính trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trước hợp nhất), toàn tỉnh có 228 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 11,2 tỷ USD, trong giai đoạn 2021-2025 đã cấp mới và điều chỉnh tăng vốn cho 150 lượt dự án FDI với tổng vốn 2,73 tỷ USD (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2025b).

Theo cơ cấu ngành, nghề, khu vực FDI tại Thái Nguyên tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp điện tử, linh kiện điện tử và bán dẫn, gắn chặt với chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu của Tập đoàn Samsung. Giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực FDI năm 2025 ước đạt 1,06 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 92% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2025a). Điều này cho thấy, tăng trưởng công nghiệp của tỉnh phụ thuộc rất lớn vào khu vực FDI, đồng thời bộc lộ sự chênh lệch đáng kể về quy mô và năng lực sản xuất giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.

Cơ cấu đối tác đầu tư tập trung chủ yếu là Hàn Quốc, với hạt nhân là Tập đoàn Samsung và hệ sinh thái các nhà cung cấp của Samsung trong chuỗi cung ứng điện tử. Sau gần 15 năm phát triển tại thị trường Thái Nguyên, Samsung không chỉ là nhà đầu tư lớn nhất mà còn đóng vai trò doanh nghiệp dẫn dắt, thu hút nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc trong lĩnh vực linh kiện điện tử, cơ khí chính xác, logistics và công nghiệp hỗ trợ đầu tư vào tỉnh, qua đó hình thành cụm công nghiệp liên kết ngành điện tử có quy mô lớn. Đến năm 2025, Thái Nguyên có hơn 95 dự án của các doanh nghiệp Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký khoảng 8,95 tỷ USD, chiếm trên 60% tổng vốn FDI của tỉnh (Báo Thái Nguyên, 2025).

Hiệu ứng dẫn dắt của khu vực FDI đã tạo ra những chuyển biến căn bản trong tăng trưởng và cơ cấu kinh tế của tỉnh. Năm 2014-2015, khi các nhà máy của Samsung đi vào hoạt động, GRDP của tỉnh tăng trưởng đột biến ở mức 29,6% (năm 2014) và 33,2% (năm 2015) (Báo Thái Nguyên, 2023b), góp phần đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 15,9%/năm. Trong giai đoạn 2021-2025, GRDP của Thái Nguyên (trước hợp nhất) bình quân đạt 7,35%/năm. Năm 2025, quy mô GRDP đạt khoảng 202.925 tỷ đồng, gấp 1,6 lần năm 2020; GRDP bình quân đầu người đạt 119 triệu đồng/người, gấp 1,5 lần năm 2020.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa: năm 2025, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng đạt 56,5%; tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản giảm xuống còn 9,5% (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2025b). Khu vực FDI đã trở thành động lực tăng trưởng chủ yếu, đóng góp lớn vào quy mô kinh tế, sản xuất công nghiệp và xuất khẩu của tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu cũng tăng trưởng ấn tượng, từ 158 triệu USD năm 2013, lên gần 30 tỷ USD vào năm 2025 (tương đương mức tăng gần 190 lần), đưa tỉnh trở thành một trong những địa phương có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất cả nước.

b) Một số hạn chế

Bên cạnh những kết quả tích cực, việc thu hút FDI của tỉnh Thái Nguyên còn một số hạn chế là:

Thứ nhất, mức độ phụ thuộc cao vào một số nhà đầu tư FDI dẫn dắt

Tính đến cuối năm 2025, tổng vốn của Tập đoàn Samsung tại Thái Nguyên chiếm khoảng 63% tổng vốn FDI toàn tỉnh (Báo Thái Nguyên, 2026b). Mô hình tăng trưởng dựa trên một tập đoàn dẫn dắt đã tạo động lực quan trọng cho phát triển kinh tế, song cũng làm gia tăng rủi ro khi nền kinh tế địa phương phụ thuộc quá lớn vào một số nhà đầu tư chiến lược, điều chỉnh chuỗi cung ứng hoặc biến động của thị trường toàn cầu. Điều này đặt ra yêu cầu phải đa dạng hóa đối tác đầu tư, mở rộng thu hút các tập đoàn công nghệ và trung tâm nghiên cứu, phát triển mới, đồng thời thúc đẩy liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước nhằm nâng cao tính tự chủ và khả năng chống chịu của nền kinh tế. Đây cũng là định hướng mà Nghị quyết số 10-NQ/TW nhấn mạnh thông qua yêu cầu nâng cao chất lượng dòng vốn FDI, giảm phụ thuộc vào một số thị trường, đối tác và công nghệ, hướng tới cơ cấu đầu tư cân bằng, bền vững hơn.

Thứ hai, tỷ lệ nội địa hóa và mức độ liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp địa phương còn hạn chế, thiếu doanh nghiệp công nghệ cao của Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng ở các khâu cốt lõi

Dù tỷ lệ nội địa hóa trong hệ thống Samsung tại Việt Nam đã đạt khoảng 35% (VnEconomy, 2025), song còn cách xa mục tiêu 45-50% theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên xác định cho các ngành công nghiệp chủ lực đến năm 2030 (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2025b) và Nghị quyết số 10-NQ/TW.

Thực tế, tác động lan tỏa từ chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp FDI vẫn còn yếu, có rất ít doanh nghiệp trong nước tham gia được vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI. Tại Thái Nguyên, hệ sinh thái cung ứng của Samsung vẫn chủ yếu dựa vào các doanh nghiệp FDI Hàn Quốc trong khi số lượng doanh nghiệp thuần Việt tham gia sâu vào chuỗi giá trị, đặc biệt ở các khâu có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao còn rất khiêm tốn.

Thứ ba, thiếu trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại địa phương

Mặc dù Samsung đã đưa vào hoạt động Trung tâm nghiên cứu và phát triển lớn nhất Đông Nam Á tại Hà Nội năm 2022 (VnEconomy, 2025) song Thái Nguyên, nơi đặt tổ hợp sản xuất lớn nhất của tập đoàn tại Việt Nam, vẫn chưa thu hút được các trung tâm nghiên cứu, thiết kế hay trung tâm đổi mới sáng tạo có quy mô tương xứng. Điều này cho thấy, chuỗi giá trị của ngành điện tử trên địa bàn tỉnh vẫn chủ yếu tập trung ở khâu sản xuất, lắp ráp, trong khi các hoạt động tạo ra giá trị gia tăng cao như nghiên cứu, thiết kế và phát triển sản phẩm vẫn chỉ được thực hiện ngoài tỉnh. Đây là hạn chế lớn khi đối chiếu với định hướng của Nghị quyết số 10-NQ/TW về thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư các trung tâm nghiên cứu, thiết kế, đổi mới sáng tạo và trung tâm điều hành tại Việt Nam.

Thứ tư, mô hình tăng trưởng phụ thuộc lớn vào khu vực thâm dụng lao động, gia công, lắp ráp

Mặc dù Samsung đã triển khai một số hoạt động sản xuất linh kiện bán dẫn có hàm lượng công nghệ cao hơn, về cơ bản hoạt động sản xuất chủ lực tại Thái Nguyên vẫn tập trung ở khâu lắp ráp thiết bị điện tử tiêu dùng (điện thoại di động) là công đoạn có giá trị gia tăng thấp hơn so với khâu thiết kế chip, phát triển phần mềm hay nghiên cứu vật liệu mới.

2.2. Những yêu cầu đổi mới thu hút FDI tại Thái Nguyên theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Một là, chuyển từ thu hút vốn sang thu hút công nghệ

Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt ra trong thu hút FDI là “lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng... làm tiêu chí chủ yếu” (Bộ Chính trị, 2026), thay thế cho tiêu chí quy mô vốn đăng ký - từng được coi là thước đo thành công chủ yếu trong giai đoạn trước.

Đối với Thái Nguyên, điều này đặt ra yêu cầu phải thay đổi căn bản cách thức đánh giá hiệu quả thu hút FDI, không chỉ đo bằng tổng vốn đăng ký, số lượng dự án hay giá trị xuất khẩu, mà cần chú trọng các chỉ tiêu chất lượng, như: tỷ lệ chuyển giao công nghệ thực chất, số lượng bằng sáng chế được đăng ký tại địa phương, mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi sản xuất. Yêu cầu hàng đầu là mức độ hình thành năng lực công nghệ nội sinh của nền kinh tế tỉnh sau một thời gian tiếp nhận FDI.

Hai là, chuyển từ ưu đãi đầu tư sang cạnh tranh bằng chất lượng thể chế

Mô hình ưu đãi đầu tư truyền thống của Thái Nguyên bao gồm hỗ trợ 50% phí sử dụng hạ tầng, miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn thuế xuất, nhập khẩu, miễn tiền thuê đất (Diễn đàn Doanh nghiệp, 2024) đã phát huy hiệu quả trong giai đoạn cạnh tranh thu hút “đại bàng công nghệ” đầu tiên. Tuy nhiên, Nghị quyết số 10-NQ/TW yêu cầu “đổi mới cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, chuyển dần từ ưu đãi truyền thống sang cơ chế hỗ trợ gắn với hiệu quả hoạt động của dự án” (Bộ Chính trị, 2026), đồng thời kiên quyết không đánh đổi môi trường, tài nguyên, an sinh xã hội và an ninh kinh tế để đổi lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần và không hình thành mặt bằng ưu đãi thấp để cạnh tranh thu hút đầu tư.

Ba là, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương

Một điểm mới quan trọng của Nghị quyết số 10-NQ/TW là việc đặt yêu cầu thu hút FDI gắn với “hệ sinh thái đổi mới sáng tạo” (Bộ Chính trị, 2026) thay vì chỉ là các dự án sản xuất đơn lẻ. Trước đó, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ I (nhiệm kỳ 2025-2030) cũng đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu: “phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, trong đó doanh nghiệp là trung tâm, viện nghiên cứu và trường đại học là chủ thể nghiên cứu mạnh, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo” (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2025b).

Đối với Thái Nguyên, yêu cầu phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với khu vực FDI có ý nghĩa đặc biệt vì tỉnh có lợi thế nổi trội về nguồn nhân lực khoa học và công nghệ là Đại học Thái Nguyên. Đây là cơ sở đào tạo có quy mô trên 80.000 người học, với 250 ngành trình độ đại học, 70 ngành trình độ thạc sĩ và 35 ngành trình độ tiến sĩ (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2025b). Đây là cơ sở cốt lõi để hình thành mối liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, phù hợp với định hướng phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ mà Nghị quyết số 10-NQ/TW đề ra. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, sự kết nối giữa Đại học Thái Nguyên với các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là Samsung và hệ sinh thái doanh nghiệp vệ tinh vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Hoạt động hợp tác chủ yếu mới dừng lại ở đào tạo, tuyển dụng nhân lực, trong khi các chương trình nghiên cứu chung, chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển trung tâm nghiên cứu, phát triển còn hạn chế.

Bốn là, tăng cường liên kết FDI với doanh nghiệp tư nhân trong nước

Nghị quyết số 10-NQ/TW yêu cầu “xây dựng và triển khai chương trình quốc gia phát triển nhà cung ứng trong nước; hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia, nền tảng kết nối nhà cung ứng, cụm liên kết ngành và cơ chế hợp tác dài hạn giữa nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước” (Bộ Chính trị, 2026). Đối với Thái Nguyên, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I xác định “thúc đẩy hỗ trợ khởi nghiệp và phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế” (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2025b). Do đó, yêu cầu liên kết FDI với kinh tế tư nhân trong nước cần được cụ thể hóa thành các chương trình hành động thiết thực, như: xây dựng cơ sở dữ liệu doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của tỉnh để kết nối với nhu cầu mua sắm của Samsung và các doanh nghiệp FDI khác; thiết lập quỹ hoặc cơ chế tín dụng ưu đãi hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng cấp dây chuyền sản xuất, đạt chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế để đủ điều kiện tham gia chuỗi cung ứng; khuyến khích mô hình “doanh nghiệp đặt hàng hợp tác xã/doanh nghiệp nhỏ và vừa sản xuất” trong các lĩnh vực mà tỉnh có lợi thế.

Năm là, thu hút các ngành công nghệ chiến lược bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, điện tử thế hệ mới, công nghệ xanh, năng lượng sạch, trung tâm nghiên cứu, phát triển

Nghị quyết số 10-NQ/TW xác định rõ các lĩnh vực cốt lõi cần ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài, gồm: “công nghiệp điện tử, chip bán dẫn và thiết bị số; trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, internet vạn vật và chuỗi khối; công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến; công nghệ năng lượng và vật liệu tiên tiến, công nghiệp xanh” (Bộ Chính trị, 2026). Định hướng này hoàn toàn phù hợp với nền tảng công nghiệp điện tử hiện có của Thái Nguyên, tạo cơ hội để tỉnh nâng cấp từ vị thế “trung tâm lắp ráp điện tử” lên vị thế “trung tâm sản xuất bán dẫn, linh kiện công nghệ cao” của vùng.

2.3. Định hướng đổi mới thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Thái Nguyên đến năm 2030

Một là, đổi mới tư duy thu hút FDI

Đảng bộ và chính quyền tỉnh Thái Nguyên cần tổ chức quán triệt sâu rộng Nghị quyết số 10-NQ/TW đến toàn thể cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về đầu tư, xúc tiến đầu tư và quản lý các khu, cụm công nghiệp. Đặc biệt, cần tập trung xây dựng bộ tiêu chí lựa chọn dự án đầu tư mới theo hướng ưu tiên công nghệ, giá trị gia tăng, cam kết chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước, thay cho tiêu chí quy mô vốn đơn thuần; kiên quyết từ chối hoặc hạn chế các dự án thâm dụng lao động giá rẻ, tiêu tốn nhiều tài nguyên, đất đai mà không có cam kết nâng cấp công nghệ theo thời gian.

Hai là, hoàn thiện thể chế và môi trường đầu tư

Thực hiện số hóa toàn trình quy trình cấp phép đầu tư, xây dựng, đất đai liên quan đến dự án FDI; thiết lập cơ chế “một cửa liên thông” giữa Ban Quản lý các khu công nghiệp Thái Nguyên với các sở, ngành liên quan để rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục. Áp dụng cơ chế hậu kiểm gắn với cam kết về công nghệ, chuyển giao công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa thay cho cơ chế tiền kiểm nặng về thủ tục. Xây dựng cơ sở dữ liệu đầu tư đồng bộ, liên thông giữa cấp tỉnh và cấp xã sau khi vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Ba là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Đầu tư, nâng cấp, mở rộng không gian phát triển của Đại học Thái Nguyên theo đúng định hướng mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã xác định, “đảm bảo vai trò Đại học Thái Nguyên là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học của vùng” (Tỉnh ủy Thái Nguyên, 2025b). Triển khai các chương trình đào tạo nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn, AI trên địa bàn tỉnh đến năm 2030 theo định hướng quốc gia; xây dựng cơ chế đặt hàng đào tạo giữa doanh nghiệp FDI (đặc biệt là với Tập đoàn Samsung) với Đại học Thái Nguyên và hệ thống trường nghề, gắn với chính sách hỗ trợ chi phí đào tạo từ ngân sách địa phương theo đúng quy định mới của Nghị quyết số 10-NQ/TW cho phép “các địa phương sử dụng ngân sách địa phương để hỗ trợ chi phí cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài triển khai các hoạt động đào tạo lao động” (Bộ Chính trị, 2026).

Bốn là, xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ

Quy hoạch và đầu tư đồng bộ các khu, cụm công nghiệp hỗ trợ chuyên biệt gắn với cụm ngành điện tử - bán dẫn hiện có (như định hướng phát triển Khu công nghệ thông tin tập trung Yên Bình đã được tỉnh quy hoạch); xây dựng cơ sở dữ liệu doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của tỉnh, công khai năng lực sản xuất để kết nối với nhu cầu mua sắm của doanh nghiệp FDI. Thiết lập quỹ hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nâng cấp công nghệ, đạt tiêu chuẩn quốc tế (ISO, IATF) để đủ điều kiện tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia.

Năm là, tăng cường liên kết doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp tư nhân trong tỉnh

Tổ chức các diễn đàn kết nối thường niên giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh; khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp liên doanh, góp vốn, mua công nghệ từ doanh nghiệp FDI trong các ngành công nghệ chiến lược theo đúng cơ chế mà Nghị quyết số 10-NQ/TW cho phép: “hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam liên doanh, liên kết, mua bán, sáp nhập, từng bước tăng tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần, mua công nghệ, tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài”; khuyến khích cơ chế “chuyên gia, cán bộ quản lý, người lao động Việt Nam đã làm việc trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát huy kinh nghiệm, kỹ năng, mạng lưới để hình thành doanh nghiệp mới, dự án mới” (Bộ Chính trị, 2026). Điều này sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa hai chiều: doanh nghiệp tư nhân được tiếp cận công nghệ, thị trường và kinh nghiệm quản trị hiện đại; doanh nghiệp FDI giảm chi phí logistics, tăng tính ổn định của chuỗi cung ứng tại chỗ.

Sáu là, phát triển trung tâm đổi mới sáng tạo và nghiên cứu, phát triển

Quy hoạch không gian phát triển dành cho trung tâm đổi mới sáng tạo cấp vùng tại Thái Nguyên, gắn kết với Đại học Thái Nguyên và Khu công nghệ thông tin tập trung Yên Bình đã được quy hoạch. Chủ động đề xuất, tạo điều kiện để Samsung và các tập đoàn công nghệ khác đầu tư mở rộng các đơn vị nghiên cứu, phát triển vệ tinh tại Thái Nguyên, tận dụng lợi thế gần với cơ sở sản xuất chính (mô hình R&D gắn với nhà máy sẽ thuận lợi cho việc nghiên cứu cải tiến quy trình sản xuất thực tế); xây dựng cơ chế ưu đãi đặc biệt (về đất đai, hạ tầng số, nhân lực) riêng cho các dự án trung tâm nghiên cứu, thiết kế theo đúng tinh thần “thí điểm mô hình thể chế vượt trội” mà Nghị quyết số 10-NQ/TW cho phép áp dụng tại “các mô hình đổi mới sáng tạo và các không gian phát triển mới” (Bộ Chính trị, 2026).

3. Kết luận

Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng về vai trò, vị trí của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI trong nền kinh tế quốc dân. Giá trị cốt lõi của Nghị quyết nằm ở việc chuyển tư duy quản lý từ “thu hút vốn theo số lượng” sang “thu hút công nghệ, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo theo chất lượng”, đặt ra hệ tiêu chí đánh giá hiệu quả thống nhất cho các địa phương, qua đó khắc phục một cách căn bản tình trạng cạnh tranh thu hút đầu tư chạy theo số lượng.

Việc chuyển đổi thành công mô hình thu hút FDI theo hướng “từ thu hút vốn đến thu hút công nghệ” không chỉ có ý nghĩa đối với tỉnh Thái Nguyên mà còn mang giá trị tham chiếu cho nhiều địa phương khác. Đây là minh chứng sinh động cho việc cụ thể hóa quan điểm “kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia... được Nhà nước khuyến khích phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác” (Bộ Chính trị, 2026) mà Nghị quyết số 10-NQ/TW đã xác định, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu mà Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ I (2025-2030) đã đề ra “xây dựng Thái Nguyên trở thành trung tâm công nghiệp hiện đại, có thu nhập trung bình cao trước năm 2030, tiến tới tỉnh phát triển có thu nhập cao trước năm 2045”.

_________________

Ngày nhận: 18/8/2026; Ngày bình duyệt: 25/8/2026; Ngày quyết định đăng: 30/9/2026.

Email tác giả: thuhuongptj2025@gmail.com

Tài liệu tham khảo:

Báo Thái Nguyên (28/3/2023a). Cú hích chuyển mình của Thái Nguyên sau một thập kỷ, https://baothainguyen.vn

Báo Thái Nguyên (30/6/2023b). Dòng vốn FDI khổng lồ giúp Thái Nguyên bứt phá, https://baothainguyen.vn

Báo Thái Nguyên (23/10/2025). Cầu nối hợp tác kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc, https://baothainguyen.vn

Báo Thái Nguyên (2/5/2026a). Những “sếu đầu đàn” dẫn dắt dòng vốn vào Thái Nguyên, https://baothainguyen.vn

Báo Thái Nguyên (3/5/2026b). “Giải mã” sức hút của Thái Nguyên với dòng vốn FDI, https://baothainguyen.vn

Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Diễn đàn Doanh nghiệp (17/10/2024). Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên đối thoại với các nhà đầu tư FDI, https://diendandoanhnghiep.vn

Tỉnh ủy Thái Nguyên (2025a). Báo cáo chính trị số 89-BC/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020 - 2025 tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Tỉnh ủy Thái Nguyên (2025b). Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030.

VnEconomy (16/11/2025). Samsung: 30 năm hành trình kiến tạo giá trị chung cho nền kinh tế Việt Nam, https://vneconomy.vn