Sự biến đổi cơ cấu nghề nghiệp của đội ngũ trí thức khoa học công nghệ Việt Nam trong chuyển đổi số
Tóm tắt: Chuyển đổi số đang tạo ra những biến đổi trong cơ cấu nghề nghiệp của đội ngũ trí thức khoa học công nghệ, thể hiện trên các phương diện quy mô, cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn, phương thức và không gian lao động. Bài viết làm rõ những xu hướng biến đổi chủ yếu của đội ngũ trí thức Việt Nam trong chuyển đổi số; dự báo xu hướng biến đổi đến năm 2030, tầm nhìn 2045 gắn với quan điểm, định hướng của Đại hội XIV của Đảng. Từ đó đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của đội ngũ trí thức khoa học công nghệ, đáp ứng yêu cầu phát triển quốc gia trong thời đại số.
ThS ĐỖ VĂN PHƯƠNG
Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Cơ cấu nghề nghiệp là một trong những chỉ số phản ánh sự phân bố và tổ chức của các nhóm nghề nghiệp trong xã hội; được phân chia theo ngành nghề, tình độ, kỹ năng và vai trò trong nền kinh tế. Sự biến đổi của cơ cấu nghề nghiệp không chỉ là hệ quả mà còn là chỉ báo quan trọng của mức độ phát triển kinh tế - xã hội. Trong số các nhóm nghề nghiệp, đội ngũ trí thức khoa học công nghệ giữ vị trí đặc biệt bởi vai trò sáng tạo, truyền bá tri thức. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 06/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước khẳng định: “cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia” (Ban Chấp hành Trung ương, 2008).
Trong những năm gần đây, trong xu thế phát triển mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đội ngũ trí thức, với tư cách là nguồn nhân lực chất lượng cao, vừa là một chủ thể trực tiếp kiến tạo chuyển đổi số, vừa là đối tượng chịu tác động sâu sắc nhất của quá trình này. Vì vậy, việc nghiên cứu sự biến đổi cơ cấu nghề nghiệp của đội ngũ trí thức trong tiến trình chuyển đổi số có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2. Nội dung
2.1. Một số vấn đề về đội ngũ trí thức, cơ cấu nghề nghiệp và chuyển đổi số
Hồ Chí Minh nhìn nhận đội ngũ trí thức là một bộ phận có vai trò đặc biệt trong sự nghiệp kiến thiết đất nước. Người khẳng định: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.114). Người kêu gọi: “đồng bào ta ai có tài năng và sáng kiến về những công việc đó, lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ. Chúng tôi sẽ nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng, có thể thực hành được thì sẽ thực hành ngay” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.114).
Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới tiếp tục khẳng định: “Đội ngũ trí thức là lực lượng lao động trí óc, có trình độ học vấn cao, chuyên môn sâu về một lĩnh vực… có trách nhiệm tiên phong, tạo ra sản phẩm tinh thần, vật chất chất lượng cao cho xã hội… là nhân tố quan trọng trong nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, nâng tầm trí tuệ và sức mạnh dân tộc, đóng góp to lớn cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Ban Chấp hành Trung ương, 2023). Như vậy, về mặt cấu trúc xã hội học, đội ngũ trí thức được nhận diện qua ba tiêu chí cơ bản: trình độ học vấn, chuyên môn được đào tạo một cách hệ thống; tính chất lao động trí óc, sáng tạo là chủ đạo; sản phẩm lao động mang giá trị tinh thần, tri thức, có tác động dẫn dắt sự phát triển của các lĩnh vực đời sống xã hội.
Cơ cấu nghề nghiệp, trong xã hội học, được hiểu là sự phân bố của các nhóm nghề nghiệp. Dưới tác động của khoa học, kỹ thuật, công nghệ, tất yếu dẫn tới sự biến đổi tương ứng trong cơ cấu nghề nghiệp, biểu hiện ở bốn khía cạnh: (i) biến đổi về quy mô, tỷ trọng của từng nhóm nghề nghiệp trong tổng thể lực lượng lao động; (ii) biến đổi về nội dung, tính chất công việc trong từng ngành nghề; (iii) sự xuất hiện của các nhóm nghề nghiệp mới, sự suy giảm hoặc biến mất của các nghề nghiệp cũ; (iv) biến đổi về phương thức, không gian và quan hệ lao động. Đối với đội ngũ trí thức, những biến đổi này diễn ra rõ ràng do tính chất lao động gắn bó chặt chẽ với công cụ, phương tiện xử lý thông tin và tri thức.
Có thể phân chia sự phát triển cơ cấu nghề nghiệp của đội ngũ trí thức Việt Nam thành ba giai đoạn. (1) Giai đoạn trước đổi mới (trước năm 1986), đội ngũ trí thức chủ yếu tập trung trong các cơ quan, tổ chức sự nghiệp công, cơ cấu ngành nghề gắn liền với hệ thống giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học theo mô hình kế hoạch hóa tập trung. (2) Giai đoạn từ đổi mới đến trước cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, cơ cấu nghề nghiệp của đội ngũ trí thức biến chuyển nhanh chóng; đã xuất hiện các nhóm trí thức trong khu vực kinh tế tư nhân, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức phi chính phủ. (3) Giai đoạn chuyển đổi số hiện nay, đặc biệt là từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 và sau đó là Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024, cơ cấu nghề nghiệp của đội ngũ trí thức khoa học công nghệ bước vào quá trình tái cấu trúc sâu sắc dưới tác động trực tiếp, mạnh mẽ của công nghệ số, đánh dấu bước chuyển từ mô hình trí thức “công nghiệp” sang mô hình trí thức “số hóa”.
Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới” (Bộ Chính trị, 2024).
Dưới tác động của chuyển đổi số, cơ cấu nghề nghiệp của đội ngũ trí thức khoa học công nghệ biến đổi theo ba xu hướng chủ đạo: Xu hướng phân cực kỹ năng, theo đó nhóm lao động trí óc có kỹ năng số cao được mở rộng nhanh chóng về quy mô và thu nhập, trong khi nhóm lao động trí óc có kỹ năng số thấp đối diện nguy cơ bị thay thế hoặc phải chuyển đổi nghề nghiệp; xu hướng hội tụ liên ngành, khi ranh giới giữa các lĩnh vực chuyên môn truyền thống dần bị xóa nhòa bởi sự xuất hiện của các ngành nghề lai ghép (ví dụ tin - y, tin - sinh, tin - luật.. ); và xu hướng phi tập trung hóa không gian lao động, với công nghệ số có thể làm việc từ xa, xuyên biên giới quốc gia, hình thành các mô hình lao động trí óc linh hoạt, phi chính thức mới.
2.2. Thực trạng biến đổi cơ cấu nghề nghiệp của đội ngũ trí thức khoa học công nghệ Việt Nam trong chuyển đổi số
a) Biến đổi về quy mô và chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao
Tính đến quý IV/2025, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 53,8 triệu người, trong đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 29,5%tăng 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước (Cục Thống kê, 2026). Điều này cho thấy, cả nước vẫn còn khoảng 70% lao động chưa qua đào tạo, cơ cấu lao động - nghề nghiệp vẫn còn khoảng cách lớn giữa nhóm lao động giản đơn với nhóm lao động trí óc trình độ cao.
Xét riêng bộ phận nhân lực khoa học và công nghệ, theo Bộ Khoa học và Công nghệ, năm 2020 cả nước có khoảng 1,5 triệu người có trình độ từ đại học, cao đẳng tham gia hoạt động khoa học công nghệ, trong đó hơn 14.000 tiến sĩ, hơn 11.000 thạc sĩ và hơn 34.000 cán bộ hoạt động chuyên trách trong lĩnh vực khoa học công nghệ (Phạm Quang Chính và Phạm Thị Thanh Bình, 2025). Quy mô đội ngũ trí thức có học hàm, học vị cao đã tăng lên đáng kể. Đến cuối năm 2023, cả nước có khoảng 9.000 giáo sư và phó giáo sư, khoảng 24.000 tiến sĩ và hơn 100.000 thạc sĩ (Hồng Hạnh, 2023).
Riêng đối với đội ngũ giảng viên đại học, cả nước có gần 94.000 giảng viên (năm 2025). Trong đó, số giảng viên có trình độ tiến sĩ tăng từ 21.170 người năm 2022 lên 26.528 người năm 2025 (tăng hơn 25%); số giáo sư, phó giáo sư tăng từ 6.091 lên 6.976 người (Lê Huyền, 2026).
b) Biến đổi cơ cấu ngành nghề, hình thành và mở rộng nhóm trí thức số
Dưới tác động của chuyển đổi số, cơ cấu nghề nghiệp đội ngũ trí thức có sự biến đổi rõ nét. Trong đó, có sự hình thành và mở rộng nhanh chóng của nhóm nghề nghiệp mới là “trí thức số” bao gồm các kỹ sư phần mềm, chuyên gia dữ liệu, chuyên gia trí tuệ nhân tạo, kiến trúc sư hệ thống, chuyên gia an ninh mạng, nhà thiết kế sản phẩm số. Đội ngũ này có tốc độ gia tăng nhanh, những năm 2000, cả nước chỉ có khoảng 50.000 người, đóng góp khoảng 0,5% GDP, đến năm 2024, quy mô lao động đã vượt 1,5 triệu người, đóng góp khoảng 14,3% GDP. Như vậy, chỉ trong khoảng hai thập niên, quy mô lao động đã tăng gấp 30 lần (Duy Khánh & Trường Thanh, 01/7/2026).
Số lượng doanh nghiệp công nghệ số năm 2025, có khoảng 80.000 doanh nghiệp công nghệ với trên 1,9 triệu lao động (Gia Huy, 2025). Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030, ngành công nghiệp công nghệ số đạt doanh thu tối thiểu 300 tỷ USD, hình thành 100.000 doanh nghiệp công nghệ số và hơn 3 triệu nhân lực chất lượng cao (Thủ tướng Chính phủ, 2026). Nếu mục tiêu này đạt được, quy mô nhóm trí thức số sẽ tăng gấp hơn hai lần so với hiện nay chỉ trong vòng chưa đầy một thập niên.
Tuy vậy, cung - cầu trên thị trường lao động số hiện đang trong trạng thái mất cân đối nghiêm trọng. Theo đó, năm 2025, thị trường lao động công nghệ thông tin Việt Nam cần bổ sung khoảng 500.000 lao động công nghệ, đặc biệt trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn và an ninh mạng (Hương Nha, 2025). Điều này cho thấy, xu hướng chuyển dịch cơ cấu đào tạo và cơ cấu nghề nghiệp trong toàn xã hội theo hướng ưu tiên nhóm ngành công nghệ số.
c) Biến đổi trong cơ cấu đóng góp kinh tế và vị thế của lao động số hóa
Sự biến đổi cơ cấu nghề nghiệp không chỉ thể hiện ở số lượng lao động mà còn ở tỷ trọng đóng góp kinh tế ngày càng lớn của khu vực lao động sáng tạo gắn với công nghệ số. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP Việt Nam đã tăng liên tục qua các năm: 12,87% năm 2021, 12,83% năm 2022, 12,98% năm 2023, 13,22% năm 2024 và đạt 14,02% năm 2025; trong đó, khu vực kinh tế số lõi đóng góp 8,13% (chiếm 62% tổng giá trị kinh tế số), phần còn lại 5,05% (chiếm 38%) đến từ số hóa các ngành kinh tế truyền thống (Tổng cục Thống kê, 2026).
Cùng với sự gia tăng tỷ trọng kinh tế số, trí thức số ngày càng có thu nhập và điều kiện lao động tốt hơn nhiều so với mặt bằng chung. Trong khi thu nhập bình quân của người lao động cả nước năm 2023 chỉ đạt 7,1 triệu đồng/tháng và tăng lên 8,4 triệu đồng/tháng vào năm 2025 (Mai Chi, 2024; Cục thống kê, 2026), thì lương kỹ sư phần mềm tại Việt Nam dao động từ 1.100 đến 3.000 USD/tháng, với các vị trí chuyên môn sâu, mức thu nhập có thể cao hơn (Việt Dũng, 2026). Điều này tạo nên sự phân hóa thu nhập ngày càng rõ nét trong trí thức nói riêng và lao động nói chung. Đây là biểu hiện cụ thể của xu hướng phân cực kỹ năng. Nhóm trí thức có kỹ năng số cao được hưởng lợi vượt trội từ chuyển đổi số, trong khi nhóm trí thức chưa kịp thích ứng có nguy cơ tụt hậu tương đối về thu nhập.
Năng lực quản trị số của khu vực công cũng được cải thiện rõ rệt. Theo số liệu công bố tháng 9/2024, Việt Nam vươn lên vị trí 71/193 quốc gia trong Bảng xếp hạng Chỉ số phát triển chính phủ điện tử (EGDI) của Liên hợp quốc, tăng 15 bậc so với năm 2022. Lần đầu tiên, Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia có chỉ số EGDI ở mức “rất cao” (Phạm Đông, 2025).
d) Biến đổi trong phân bố không gian và cơ cấu vùng, miền
Sự phát triển của công nghệ thông tin, chuyển đổi số tác động thu hẹp khoảng cách về không gian của đội ngũ trí thức nhờ khả năng làm việc từ xa và kết nối trực tuyến. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, đội ngũ trí thức vẫn tiếp tục quy tụ tại các đô thị lớn. Theo đó, số giáo sư và phó giáo sư sinh sống tại Hà Nội và các tỉnh, thành vùng đồng bằng sông Hồng chiếm hơn 64% (4.377 trên tổng số 6.814 người). Tỷ lệ giảng viên trình độ tiến sĩ cũng rất cao với 12.922/29.463, chiếm hơn 40,9%, tiếp theo là Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực đồng bằng sông Cửu Long (Nghiêm Huê, 2025).
Sự phân bố không đồng đều này cho thấy chuyển đổi số, dù mở ra khả năng cho việc phân tán không gian lao động trí óc, vẫn chưa đủ sức làm thay đổi cấu trúc phân bố vốn gắn chặt với hệ thống hạ tầng giáo dục, viện nghiên cứu và trung tâm kinh tế - hành chính truyền thống.
e) Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra
Sự biến đổi cơ cấu nghề nghiệp của đội ngũ trí thức Việt Nam bắt nguồn từ ba yếu tố chính. Trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ có hàm lượng tri thức và công nghệ cao, đặc biệt là các lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin và số hóa, dẫn đến nhu cầu lớn về lao động trí óc có kỹ năng số. Bên cạnh đó, hệ thống thể chế và chính sách của Đảng và Nhà nước, định hướng xây dựng đội ngũ trí thức chất lượng cao, cơ cấu hợp lý, hội nhập quốc tế, qua đó thúc đẩy các cơ sở đào tạo và nghiên cứu ưu tiên phát triển các ngành STEM. Trước áp lực cạnh tranh toàn cầu về nhân lực số, buộc doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và người lao động phải chủ động thích ứng, dẫn đến sự dịch chuyển mạnh mẽ trong cơ cấu nghề nghiệp.
Quá trình biến đổi này cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Trước hết là sự mất cân đối trong cơ cấu ngành nghề đào tạo, với tình trạng thiếu hụt nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ mới nổi nhưng dư thừa ở một số ngành truyền thống. Bên cạnh đó, sự thiếu hụt chuyên gia đầu ngành do sự già hóa, sự phân bố nhân lực chất lượng cao không đồng đều giữa các vùng miền, cùng với cơ chế đãi ngộ chưa đủ sức cạnh tranh. Ngoài ra, sự biến đổi nhanh của cơ cấu nghề nghiệp còn đặt ra yêu cầu cấp thiết về mô hình quản lý nhân lực, chính sách lao động, tiền lương, bảo hộ sở hữu trí tuệ, trong khi hệ thống thể chế hiện hành chưa theo kịp tốc độ phát triển, dễ trở thành rào cản đối với động lực sáng tạo và hội nhập quốc tế.
2.3. Dự báo xu hướng biến đổi cơ cấu nghề nghiệp của đội ngũ trí thức Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045
Đại hội XIV xác định: “đẩy mạnh đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chủ động hội nhập quốc tế” (ĐCSVN, 2026, tr.81),xác lập mô hình tăng trưởng mới “lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính” (ĐCSVN, 2026, tr.82) đặt ra yêu cầu đổi mới cơ chế đối với đội ngũ trí thức theo hướng trọng dụng nhân tài, đánh giá dựa trên sản phẩm, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học. Giai đoạn 2026 - 2030, Đại hội XIV xác định yêu cầu hoàn thiện hạ tầng số, dữ liệu số, xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, phổ cập kỹ năng số, thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng miền.
Trên cơ sở những quan điểm, định hướng của Đại hội XIV và xu thế phát triển nhanh của các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn…, dự báo cơ cấu nghề nghiệp của đội ngũ trí thức Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 sẽ tiếp tục biến đổi theo bốn xu hướng chủ yếu: (1) Về quy mô và cơ cấu ngành nghề, nhóm trí thức số và trí thức gắn với công nghệ chiến lược tiếp tục mở rộng nhanh, đòi hỏi chuyển dần từ mô hình đào tạo một lần theo văn bằng sang mô hình đào tạo lại, bồi dưỡng suốt đời. (2) Về thể chế, chính sách, phương thức quản lý sẽ chuyển mạnh từ cơ chế hành chính sang cơ chế trọng dụng nhân tài, đánh giá theo sản phẩm, tài chính linh hoạt (3) Về phương thức, không gian lao động, các hình thức việc làm linh hoạt, phi truyền thống sẽ mở rộng nhanh trong nhân lực trí thức số, kéo theo sự dịch chuyển từ quản lý theo thời gian sang quản lý theo kết quả công việc. (4) Về phân bố vùng miền, hạ tầng số quốc gia phát triển sẽ dần san bằng khoảng cách phân bố đội ngũ trí thức giữa các vùng miền, song tốc độ vẫn chậm hơn tốc độ biến đổi cơ cấu nghề nghiệp nói chung, nếu không có chính sách điều tiết chủ động.
2.4. Một số giải pháp đáp ứng xu hướng chuyển đổi nghề nghiệp của đội ngũ trí thức trong chuyển đổi số
Thứ nhất, đổi mới căn bản cơ cấu ngành nghề đào tạo theo hướng ưu tiên các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM). Đây là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh chuyển đổi số, không chỉ tăng chỉ tiêu đào tạo mà cần gắn kết chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp, thị trường lao động số. Các cơ sở giáo dục đại học cần chủ động điều chỉnh chương trình, phương pháp giảng dạy theo hướng thực tiễn, cập nhật công nghệ mới, đồng thời thiết lập cơ chế hợp tác với doanh nghiệp để sinh viên có cơ hội thực tập, nghiên cứu ứng dụng và tiếp cận nhu cầu thực tế.
Cần xây dựng hệ thống học bổng, hỗ trợ tài chính cho đào tạo gắn với nhu cầu, cùng cơ chế tuyển dụng nhân lực vào các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ cao, hình thành đội ngũ chuyên gia công nghệ số. Cùng với đó, cần tiếp tục chính sách thu hút trí thức, chuyên gia quốc tế tham gia giảng dạy, nghiên cứu, hợp tác tại Việt Nam với cơ chế, thủ tục đơn giản; gắn đãi ngộ với thành tích nghiên cứu.
Thứ hai, gắn đào tạo ban đầu với bồi dưỡng, đào tạo lại, cập nhật kỹ năng số thường xuyên, suốt đời, coi đây là yêu cầu liên tục. Thông qua các chương trình bồi dưỡng ngắn hạn, chuyên đề, chứng chỉ chuyên môn cập nhật định kỳ, giúp trí thức các ngành, lĩnh vực, bổ sung kỹ năng số gắn với chuyên môn đã đào tạo. Song song với đó, cần nâng cao năng lực ngoại ngữ, hội nhập quốc tế cho trí thức. Thực hiện đưa chuẩn ngoại ngữ vào tiêu chí đánh giá năng lực.
Thứ ba, tiếp tục thể chế hóa đầy đủ và đồng bộ các quan điểm của Đảng tại Nghị quyết số 45-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW và Văn kiện Đại hội XIV về phát triển đội ngũ trí thức và phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Trên cơ sở đó, xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển đội ngũ trí thức trong thời kỳ mới, gắn kết chặt chẽ với chương trình hành động quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nhằm bảo đảm thể chế hóa định hướng của Đảng, thành chính sách của Nhà nước đáp ứng nhu cầu thực tiễn thị trường lao động. Cần thiết lập các chỉ tiêu cụ thể, lộ trình rõ ràng và nguồn lực bảo đảm để chiến lược, tránh tình trạng hình thức hoặc chậm triển khai.
Thứ tư, xây dựng cơ chế đặc thù về tiền lương, thu nhập cạnh tranh; môi trường làm việc và điều kiện nghiên cứu, sáng tạo, hiện đại nhằm thu hút, phát huy tiềm lực đội ngũ chuyên gia, trí thức trẻ có năng lực trong các lĩnh vực công nghệ then chốt, đặc biệt là AI, bán dẫn, công nghệ sinh học. Hướng tới mục tiêu hình thành đội ngũ trí thức số đạt quy mô hơn 3 triệu người vào năm 2030 theo định hướng của Chính phủ (Thủ tướng Chính phủ, 2026).
Thứ năm, xây dựng chính sách áp dụng công nghệ nhằm giảm bớt hoạt động làm việc trực tiếp truyền thống thông qua các mô hình đào tạo trực tuyến chất lượng cao, mạng lưới nghiên cứu liên vùng, cơ chế hợp tác từ xa giữa các trung tâm khoa học lớn với các địa phương. Các nền tảng học tập trực tuyến cần được chuẩn hóa, ứng dụng công nghệ thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo, bảo đảm chất lượng tương đương đào tạo trực tiếp; mạng lưới nghiên cứu liên vùng giúp các địa phương cùng tham gia dự án khoa học lớn, chia sẻ dữ liệu qua hạ tầng số.
Thứ sáu, nghiên cứu, hoàn thiện khung pháp lý lao động theo hướng thừa nhận, khuyến khích quản lý lao động trí óc dựa trên kết quả, sản phẩm và mục tiêu công việc. Theo đó, các hình thức làm việc linh hoạt cần được bảo vệ quyền lợi như những công việc làm trực tiếp, hành chính nếu vẫn bảo đảm đầu ra của công việc phù hợp. Trao quyền chủ động về thời gian, địa điểm làm việc gắn với trách nhiệm giải trình về chất lượng, tiến độ sản phẩm cho các cá nhân, tập thể. Đồng thời, sửa đổi, bổ sung quy định về thời gian làm việc, làm thêm giờ, bảo hiểm xã hội, an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với lao động từ xa và việc làm phi chính thức mới.
3. Kết luận
Chuyển đổi số đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ. Xu hướng biến đổi này sẽ tiếp tục diễn ra với tốc độ nhanh hơn, kéo theo sự dịch chuyển từ phương thức quản lý lao động theo thời gian sang quản lý theo kết quả, sản phẩm công việc, sự phân hóa kỹ năng và thu nhập. Những biến đổi này vừa phản ánh xu thế phát triển tất yếu, khách quan của phân công lao động xã hội trong kỷ nguyên số.
Trong bối cảnh đó, phát triển đội ngũ trí thức không chỉ là vấn đề chính sách nguồn nhân lực, mà còn là vấn đề chiến lược, gắn trực tiếp với năng lực tự chủ khoa học, công nghệ và sức cạnh tranh quốc gia. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “tri thức là vốn liếng quý báu của dân tộc” và tinh thần đột phá của Nghị quyết số 45-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW và Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, việc giải quyết đồng bộ những vấn đề nêu trên góp phần xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, để đội ngũ trí thức Việt Nam thực sự trở thành lực lượng quan trọng của công cuộc đổi mới, đóng góp xứng đáng vào mục tiêu đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên phát triển mới.
_________________
Ngày nhận bài: 11/9/2026; Ngày bình duyệt:30/9/2026;Ngày quyết định đăng: 2/10/2026.
Email tác giả: dovanphuong87@gmail.com
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương (2008). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 06/8/2008 về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ban Chấp hành Trung ương (2023). Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Cục Thống kê (06/01/2026). Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động, việc làm Quý IV và cả năm 2025.
Duy Khánh & Trường Thanh (01/7/2026). Nguồn nhân lực số: Chìa khóa để Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên số. https://vjst.vn.
Gia huy (30/12/2025). Doanh nghiệp công nghệ Việt Nam phải trở thành lực lượng tiên phong trong kỷ nguyên số. https://baochinhphu.vn.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (tập 4). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồng Hạnh (21/11/2023). Cả hệ thống giáo dục đại học Việt Nam mới có khoảng 200 bằng độc quyền sáng chế. https://daibieunhandan.vn.
Hương Nha (30/01/2025). Bùng nổ thị trường việc làm ngành IT. https://laodong.vn.
Lê Huyền (24/11/2026). Cả nước có gần 94.000 giảng viên đại học, nhưng số giáo sư, tiến sĩ chưa đến 1/3. https://vietnamnet.vn.
Mai Chi (04/01/2024). Năm 2023 thu nhập mỗi tháng của người lao động là bao nhiêu?. https://tuoitre.vn.
Nghiêm Huê (18/9/2025). Nơi nào đang tập trung nhiều GS, PGS nhất?. https://tienphong.vn.
Phạm Đông (06/02/2025). Việt Nam có Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử rất cao. ">https://laodong.vn.
Phạm Quang Chính & Phạm Thị Thanh Bình (03/4/2025). Phát triển nhân lực khoa học, công nghệ Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. https://tapchicongsan.org.vn/
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 840/QĐ-TTg ngày 13/5/2026 phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn 2045.
Tổng cục Thống kê (2026). Thông cáo báo chí tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP, GRDP giai đoạn 2021-2025. https://www.nso.gov.vn.
Việt Dũng (13/7/2026). Lương “nghìn đô” vẫn thiếu nhân sự: Đào tạo thực chiến mang đến lợi thế cho sinh viên Kỹ thuật phần mềm. https://giaoduc.net.vn.