Chuyển đổi số và sự hình thành lối sống mới của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng
Tóm tắt: Chuyển đổi số ở nông thôn không chỉ là quá trình đưa thiết bị, dữ liệu và nền tảng số vào sản xuất, mà còn là quá trình con người biến đổi phương thức tổ chức đời sống, kiến tạo quan hệ xã hội và tự xác lập vị thế chủ thể của mình trong xây dựng nông thôn mới. Trên cơ sở tiếp cận lối sống như một chỉnh thể gồm phương thức sản xuất, phương thức tiêu dùng và phương thức ứng xử, bài viết phân tích tác động của chuyển đổi số đến sự hình thành lối sống mới của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay.
ThS KHUẤT THỊ VANG
Học viện Kỹ thuật và Công nghệ an ninh

1. Mở đầu
Trong bối cảnh chuyển đổi số, khi dữ liệu, nền tảng số, thương mại điện tử, thanh toán số, mạng xã hội và dịch vụ trực tuyến thâm nhập ngày càng sâu vào đời sống nông thôn, những quan hệ vốn được duy trì chủ yếu bằng tiếp xúc trực tiếp đã và đang từng bước được tái cấu trúc. Người nông dân không chỉ thay đổi công cụ lao động, mà còn phải thay đổi cách thức tiếp cận tri thức, thị trường, thời gian, không gian xã hội và các quan hệ cộng đồng. Đây chính là cơ sở xã hội của sự hình thành lối sống mới.
Theo kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024, dân số vùng đồng bằng sông Hồng là 24,0 triệu người, chiếm 23,7% dân số cả nước, mật độ dân cư là 1.126 người/km², cao nhất cả nước (Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê, 2025). Đây cũng là khu vực có mức độ công nghiệp hóa, đô thị hóa và kết nối thị trường cao, trong đó nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và đô thị đan xen. Những đặc điểm đó làm cho nông dân đồng bằng sông Hồng ngày càng trở thành một chủ thể đa vai trò. Một hộ gia đình có thể đồng thời có người sản xuất nông nghiệp, người làm việc tại khu công nghiệp, người kinh doanh dịch vụ hoặc tham gia thương mại trực tuyến. Vì vậy, “nông dân” ngày càng ít đồng nhất với “người chỉ sống bằng nông nghiệp”. Chính cấu trúc sinh kế hỗn hợp này tạo điều kiện để công nghệ số thâm nhập vào nhiều phương diện của đời sống.
Nội dung bài viết tập trung làm rõ sự hình thành lối sống mới của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng dưới tác động của chuyển đổi số trên ba phương diện chủ yếu: phương thức sản xuất, phương thức tiêu dùng và phương thức giao tiếp, ứng xử. Qua đó góp phần nhận diện sâu hơn sự biến đổi của chủ thể nông dân trong tiến trình xây dựng nông thôn hiện đại, nông dân văn minh.
2. Nội dung
2.1. Lối sống mới của nông dân trong điều kiện chuyển đổi số
a) Khái niệm lối sống
Lối sống là một khái niệm có phạm vi rộng, được tiếp cận từ nhiều ngành khoa học, như triết học, xã hội học, văn hóa học, tâm lý học và chính trị học. Điểm chung trong các cách tiếp cận là không đồng nhất lối sống với một vài thói quen hay phong cách sinh hoạt cá nhân, mà xem đó là tổng thể tương đối ổn định các phương thức hoạt động, quan hệ và ứng xử của con người trong những điều kiện xã hội - lịch sử nhất định.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu lối sống, đồng thời chỉ rõ: “Lối sống là gì nếu không phải là những hoạt động sống, những hoạt động thực sự có tính người của những cá nhân, thành viên tích cực của xã hội, biết đau khổ, cảm giác, suy nghĩ và hành động như một con người” (C.Mác và Ph.Ăngghen, I.V.Xtalin, 1978, tr.37). Theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, lối sống chính là phương thức sống, là những hoạt động sống của con người. Mỗi phương thức sản xuất sẽ tạo ra một kiểu sinh hoạt, một cách sống tương ứng với nó.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), lối sống là một trong những yếu tố then chốt ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Sự hình thành và thay đổi lối sống chịu ảnh hưởng từ gia đình, giáo dục, truyền thông, điều kiện sống và môi trường xã hội. Khác với bản năng sinh học, lối sống có thể thay đổi có ý thức và chịu tác động qua lại giữa cá nhân và môi trường (Scholarhub, 2026).
Theo quan điểm của một số nhà khoa học Việt Nam, thì lối sống là “một hệ thống những nét căn bản” thể hiện hoạt động của các dân tộc, giai cấp, tập đoàn xã hội và cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định (Thanh Lê, 2001). Cách tiếp cận này nhấn mạnh tính xã hội và tính lịch sử của lối sống: lối sống không tồn tại biệt lập với phương thức sản xuất, các quan hệ xã hội và điều kiện tồn tại của cộng đồng. Nhấn mạnh tính ổn định và định hướng giá trị, một số nghiên cứu cho rằng, lối sống là tổng hòa những dạng hoạt động sống điển hình, tương đối ổn định, được vận hành theo một hệ giá trị xã hội nhất định và thống nhất với những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội (Nguyễn Viết Chức, 2001).
Như vậy, giá trị xã hội là yếu tố định hướng cách con người lựa chọn và thực hiện các hoạt động sống. Ở góc độ văn hóa học, lối sống được xem là tổ hợp các mô hình, cách thức và phong thái sống được thể hiện trong mọi phương thức và lĩnh vực hoạt động, từ sản xuất, tiêu dùng, sinh hoạt đến thái độ, hành vi, tư duy và ứng xử (Nguyễn Văn Huyên, 2003). Cách tiếp cận này mở rộng khái niệm lối sống từ “hoạt động” sang phương thức thực hiện hoạt động, qua đó nhấn mạnh sự thống nhất giữa hành vi bên ngoài với nhận thức, thái độ và cách ứng xử của chủ thể. Tiếp cận lối sống như “chiều cạnh chủ quan của văn hóa”, là quá trình hiện thực hóa các giá trị văn hóa thông qua hoạt động sống; những hoạt động và phương thức hoạt động ấy được cộng đồng chấp nhận, thực hành tương đối ổn định trong tương tác với các điều kiện sống hiện hữu và bối cảnh lịch sử (Phạm Hồng Tung, 2011). Quan niệm này làm nổi bật tính chủ thể, tính thực hành và tính văn hóa của lối sống.
Từ các quan điểm trên, có thể khái quát: Lối sống là tổng thể tương đối ổn định các phương thức hoạt động, quan hệ, ứng xử và tổ chức đời sống của cá nhân hoặc cộng đồng, được định hướng bởi các giá trị nhất định, hình thành và biến đổi trong sự tương tác giữa chủ thể với những điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và lịch sử cụ thể. Cách hiểu này đặc biệt phù hợp khi nghiên cứu lối sống của nông dân, bởi nó cho phép xem xét đồng thời các phương diện lao động - sản xuất, tiêu dùng, giao tiếp, gia đình, cộng đồng, đời sống tinh thần và sự biến đổi hệ giá trị.
b) Lối sống mới của nông dân trong điều kiện chuyển đổi số
Từ cách tiếp cận trên, có thể hiểu lối sống mới của nông dân trong điều kiện chuyển đổi số là hệ thống tương đối ổn định nhưng luôn vận động của các phương thức tổ chức lao động, sản xuất, tiêu dùng, giao tiếp, tiếp nhận tri thức và tham gia xã hội của nông dân, được tái cấu trúc dưới tác động đồng thời của công nghệ số, kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, đô thị hóa và những biến đổi về hệ giá trị.
Điểm cần nhấn mạnh là “mới” không đồng nghĩa với “phủ định hoàn toàn cái cũ”. Lối sống mới hình thành thông qua quá trình kế thừa, chọn lọc, cải tiến và loại bỏ. Những giá trị như cần cù, tiết kiệm, tương trợ, coi trọng gia đình, cộng đồng vẫn tiếp tục tồn tại, nhưng được thực hiện trong những điều kiện kinh tế - xã hội và phương thức giao tiếp mới. Do đó, hình thành lối sống mới có thể được khái quát theo logic: từ biến đổi điều kiện sản xuất, biến đổi phương thức hoạt động, biến đổi quan hệ xã hội, biến đổi hệ giá trị và chuẩn mực, biến đổi hành vi, để hình thành phương thức sống mới. Đây là luận điểm có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng, bởi lẽ không thể nghiên cứu lối sống mới của nông dân chỉ bằng cách khảo sát tỷ lệ sử dụng điện thoại thông minh, internet hay thương mại điện tử. Những chỉ báo công nghệ chỉ phản ánh điều kiện và biểu hiện bên ngoài, vấn đề khoa học cốt lõi là xác định công nghệ đã làm thay đổi như thế nào phương thức con người lao động, tiêu dùng, giao tiếp, học tập và tham gia xã hội.
2.2. Tiền đề hình thành lối sống mới của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng
Thứ nhất, quan điểm của Đảng về ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong nông nghiệp, nông thôn
Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng trở thành động lực quan trọng để phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững. Quan điểm này thể hiện bước chuyển từ tư duy chủ yếu dựa vào mở rộng nguồn lực vật chất sang phát triển nông nghiệp dựa ngày càng nhiều vào tri thức, công nghệ, dữ liệu và năng lực đổi mới sáng tạo. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 xác định phát triển nông nghiệp phải dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực của nông dân trong ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ sang sản xuất, kinh doanh theo chuỗi giá trị (Ban Chấp hành Trung ương, 2022). Đặc biệt, Nghị quyết đặt khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, cơ giới hóa và tự động hóa vào quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại, chuyên canh hàng hóa, quy mô phù hợp, gắn sản xuất với bảo quản, chế biến và tiêu thụ nông sản.
Từ góc độ này, chuyển đổi số không được hiểu đơn thuần là đưa công nghệ số vào một số khâu sản xuất, mà là quá trình thay đổi phương thức tổ chức, quản trị và kết nối của toàn bộ hệ sinh thái nông nghiệp. Đó là sự chuyển từ sản xuất dựa nhiều vào kinh nghiệm sang kết hợp kinh nghiệm với dữ liệu và tri thức khoa học; từ sản xuất đơn lẻ sang liên kết chuỗi; từ tiêu thụ thụ động sang chủ động tiếp cận thị trường; từ quản lý thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu. Nghị quyết 19-NQ/TW đồng thời yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thúc đẩy thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc, kết nối cung - cầu và tăng cường liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân.
Quan điểm này được nhận thức rộng hơn theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, theo đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu và động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Đồng thời, xác định người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể, nguồn lực và động lực chính; dữ liệu được nhìn nhận như một tư liệu sản xuất quan trọng của nền kinh tế số (Bộ Chính trị, 2024). Điều đó có ý nghĩa trực tiếp đối với nông nghiệp: nông dân không chỉ là đối tượng tiếp nhận công nghệ mà phải trở thành chủ thể sử dụng, khai thác và tạo lập giá trị từ công nghệ, dữ liệu và tri thức.
Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 của Bộ Chính trị tiếp tục chỉ ra rằng nhiều khâu trong sản xuất nông nghiệp vẫn chưa ứng dụng sâu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh (Bộ Chính trị, 2025). Điều này cho thấy yêu cầu hiện nay không dừng ở việc mở rộng ứng dụng công nghệ, mà phải tạo ra chuyển biến về chất trong phương thức phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn.
Như vậy, theo quan điểm của Đảng, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là nền tảng; chuyển đổi số là phương thức thúc đẩy tái cấu trúc và nâng cao hiệu quả hệ thống nông nghiệp; nông dân là chủ thể cần được nâng cao năng lực để làm chủ quá trình chuyển đổi. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là tạo ra nền nông nghiệp có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao hơn, mà còn góp phần hình thành người nông dân có tri thức, kỹ năng, năng lực số và khả năng thích ứng cao; xây dựng nông thôn hiện đại, sinh thái, văn minh và nâng cao toàn diện chất lượng đời sống cư dân nông thôn. Quan điểm này tạo cơ sở lý luận quan trọng để nghiên cứu sự biến đổi phương thức lao động, tiêu dùng, giao tiếp và các giá trị của lối sống nông dân trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
Thứ hai, điều kiện kinh tế - xã hội
Đồng bằng sông Hồng là không gian xã hội có quy mô dân cư lớn, mật độ dân số cao và mức độ giao lưu kinh tế - xã hội khá mạnh. Quy mô dân số lớn và mật độ dân số cao tạo nên một không gian xã hội có cường độ tương tác lớn, trong đó quan hệ giữa nông thôn với đô thị, giữa sản xuất nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ, giữa cộng đồng cư trú truyền thống với các mạng lưới xã hội hiện đại ngày càng đan xen. Đây là một trong những điều kiện khách quan làm cho lối sống của nông dân trong vùng không còn được hình thành chủ yếu trong phạm vi làng, xã mà ngày càng chịu tác động của thị trường lao động, đô thị hóa, công nghệ và các mạng lưới xã hội mở rộng.
Mật độ dân số cao của vùng tạo ra sức ép đáng kể đối với không gian sản xuất nông nghiệp. Trong vụ Đông - Xuân năm 2024, đồng bằng sông Hồng có 471,4 nghìn ha lúa, năng suất đạt 66,9 tạ/ha, sản lượng đạt khoảng 3,154 triệu tấn (Tổng cục Thống kê, 2024). So với quy mô dân cư của vùng, những con số này cho thấy nông nghiệp vẫn giữ một nền tảng vật chất quan trọng, nhưng hoạt động sản xuất nông nghiệp diễn ra trong điều kiện quỹ đất có tính cạnh tranh cao với công nghiệp, đô thị và hạ tầng. Đối với lối sống của nông dân, điều này thúc đẩy quá trình chuyển từ phương thức sống dựa tương đối ổn định vào đất đai và sản xuất nông nghiệp sang phương thức sống đa sinh kế, trong đó nông nghiệp có thể được kết hợp với làm công nghiệp, dịch vụ, kinh doanh, thương mại và các hoạt động tạo thu nhập khác.
Đặc điểm đáng chú ý khác là chất lượng nguồn nhân lực của vùng có sự thay đổi theo hướng gia tăng hàm lượng tri thức. Tỷ lệ lao động qua đào tạo của vùng đồng bằng sông Hồng tăng từ 31,7% năm 2020 lên 40,7% năm 2025; bình quân tăng khoảng 1,8 điểm phần trăm/năm, trong khi đó, tỷ lệ bình quân của cả nước tăng từ 24,1% lên 29,3% (Cục Thống kê, 2026). Những con số này có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi thị trường lao động, cho thấy môi trường xã hội của vùng đang tạo ra điều kiện thuận lợi hơn cho sự hình thành những phương thức sống dựa trên tri thức, kỹ năng, khả năng tiếp nhận công nghệ và năng lực thích ứng với thay đổi. Đối với nông dân, quá trình này đặt ra yêu cầu chuyển từ kinh nghiệm sản xuất thuần túy sang kết hợp kinh nghiệm với kiến thức khoa học, thông tin thị trường, dữ liệu và kỹ năng số.
Tính cơ động xã hội của dân cư cũng là một chỉ báo quan trọng về sự biến đổi lối sống. Năm 2022, đồng bằng sông Hồng có tỷ suất di cư thuần 2,4‰, trong đó tỷ suất nhập cư đạt 3,7‰ và tỷ suất xuất cư 1,3‰ (UNDP, 2024). Điều này phản ánh sức hút của vùng đối với dòng dịch chuyển dân cư và lao động, đồng thời cho thấy ranh giới giữa “nông dân”, “công nhân” và “lao động dịch vụ” ngày càng có tính mở. Một bộ phận cư dân nông thôn có thể đồng thời duy trì quan hệ với đất đai, gia đình và cộng đồng làng xã nhưng tham gia thường xuyên vào các không gian việc làm, tiêu dùng và giao tiếp ở đô thị. Vì vậy, lối sống của nông dân đồng bằng sông Hồng cần được nhận thức như một lối sống có tính chuyển tiếp và đa không gian, thay vì đồng nhất với lối sống nông nghiệp truyền thống.
2.3. Sự hình thành lối sống mới của nông dân đồng bằng sông Hồng trong chuyển đổi số
Thứ nhất, phương thức lao động của người nông dân có sự chuyển biến theo hướng tri thức hóa, dữ liệu hóa và gia tăng tính chủ động của chủ thể
Điều kiện tự nhiên, đất đai, nguồn nước và khí hậu của vùng đồng bằng sông Hồng đã hình thành phương thức sản xuất mang tính thời vụ, đồng thời tạo nên hệ thống tri thức bản địa được tích lũy và truyền qua nhiều thế hệ. Trong cấu trúc xã hội truyền thống, lao động của người nông dân không chỉ tạo ra sản phẩm mà còn gắn với duy trì quan hệ gia đình, dòng họ, làng xóm và tái sản xuất các giá trị văn hóa cộng đồng. Vì vậy, phương thức lao động truyền thống đồng thời định hình những đặc trưng quan trọng của lối sống nông dân như coi trọng kinh nghiệm, cần cù, tiết kiệm, gắn bó với đất đai và cộng đồng.
Sự phát triển của khoa học, công nghệ, kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, đô thị hóa và đặc biệt là chuyển đổi số đang làm thay đổi những điều kiện xã hội vốn định hình phương thức lao động đó. Trong môi trường số, quyết định sản xuất ngày càng được hỗ trợ bởi hệ thống thông tin đa chiều và cập nhật nhanh, từ dự báo thời tiết, giá cả, giá vật tư, kỹ thuật canh tác, cảnh báo sâu bệnh đến tiêu chuẩn sản phẩm, nhu cầu thị trường và phản hồi của khách hàng. Do đó, chuyển đổi số không chỉ cung cấp thêm công cụ sản xuất mà sâu xa hơn làm biến đổi cơ chế hình thành và thực hiện quyết định của chủ thể sản xuất.
Mặc dù vậy, tri thức số không thay thế tri thức kinh nghiệm mà tái cấu trúc quan hệ giữa hai loại tri thức này. Tri thức kinh nghiệm vẫn giữ giá trị bởi được hình thành từ quá trình thích nghi lâu dài với điều kiện tự nhiên, đất đai, nguồn nước và đặc điểm sinh thái của từng địa bàn, nhưng kinh nghiệm không còn là nguồn tri thức duy nhất. Người nông dân ngày càng có khả năng đối chiếu kinh nghiệm với dữ liệu, thông tin khoa học và tín hiệu thị trường. Sự kết hợp đó làm xuất hiện phương thức lao động mới, trong đó năng lực sản xuất không chỉ phụ thuộc vào “tay nghề” mà còn phụ thuộc vào khả năng tìm kiếm, lựa chọn, đánh giá và sử dụng thông tin.
Sự thay đổi về phương thức lao động đồng thời làm biến đổi vị trí của người nông dân trong chuỗi giá trị. Không gian số mở ra khả năng để hộ nông dân và hợp tác xã tham gia trực tiếp hơn vào những khâu phía sau sản xuất, như giới thiệu sản phẩm, xây dựng thương hiệu, kết nối khách hàng, tiếp nhận phản hồi và tổ chức dịch vụ sau bán hàng. Người nông dân vì thế có điều kiện chuyển từ vị trí chủ yếu là người sản xuất hàng hóa sang chủ thể tham gia quản trị một phần chuỗi giá trị.
Sự thay đổi vị trí kinh tế kéo theo biến đổi lối sống nghề nghiệp. Người nông dân không chỉ quan tâm đến “trồng cây gì, nuôi con gì và sản xuất như thế nào”, mà còn phải quan tâm đến bao bì, hình ảnh sản phẩm, thương hiệu, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng, phản hồi khách hàng và uy tín trên môi trường số. Ranh giới giữa lao động sản xuất và lao động thông tin ngày càng mờ đi. Một sản phẩm nông nghiệp muốn tiêu thụ không chỉ cần chất lượng vật chất mà còn cần thông tin đáng tin cậy và khả năng tạo dựng niềm tin với người tiêu dùng. Từ đó hình thành dạng chủ thể nông dân đa vai trò: vừa là người sản xuất, vừa tiếp nhận và xử lý thông tin, bán hàng, xây dựng thương hiệu, giao tiếp với khách hàng và trong một số trường hợp tổ chức hoạt động kinh doanh. Đây là biến đổi quan trọng đối với cấu trúc lối sống.
Bên cạnh đó, đồng bằng sông Hồng đang hình thành cấu trúc sinh kế ngày càng đa dạng. Nông nghiệp có thể tồn tại cùng việc làm công nghiệp, dịch vụ, kinh doanh, chế biến, du lịch nông thôn hoặc kinh doanh trực tuyến. Một hộ có thể duy trì sản xuất nông nghiệp nhưng có thành viên làm việc tại khu công nghiệp, kinh doanh dịch vụ hoặc bán sản phẩm trên nền tảng số. Vì vậy, người nông dân đương đại ngày càng cần được nhìn nhận như một chủ thể đa sinh kế, đa vai trò và đa không gian hoạt động, thay vì chỉ là người sống bằng nghề nông.
Sự biến đổi này cũng làm thay đổi thời gian lao động. Tính thời vụ của nông nghiệp không mất đi, nhưng thời gian sống của người nông dân không còn hoàn toàn trùng với thời gian mùa vụ. Bên cạnh gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch còn xuất hiện thời gian tìm kiếm thông tin, giao dịch, quảng bá, giao hàng, tương tác khách hàng và quản trị nền tảng số. Kinh tế số đưa vào đời sống nông dân một dạng “thời gian tức thời”: nhu cầu khách hàng có thể phát sinh bất cứ lúc nào, giá cả biến động nhanh, thông tin cập nhật liên tục và tốc độ phản hồi có thể tác động trực tiếp đến cơ hội kinh doanh.
Như vậy, chuyển đổi số làm thay đổi cả cách thức làm việc lẫn quan niệm về năng lực nghề nghiệp. Lao động nông nghiệp ngày càng đòi hỏi sự kết hợp giữa kỹ năng sản xuất, năng lực công nghệ, giao tiếp thị trường và quản trị thông tin. Điều này thúc đẩy tính chủ động, tinh thần kinh doanh và khả năng tự tổ chức của người nông dân, đồng thời tạo ra yêu cầu cao hơn về tiêu chuẩn hóa sản phẩm, tốc độ phản hồi, cạnh tranh, bảo vệ uy tín và quản trị danh tiếng trên môi trường số.
Thứ hai, biến đổi phương thức tiêu dùng theo hướng hình thành cấu trúc tiêu dùng trực tiếp và trực tuyến đan xen
Trong cộng đồng nông thôn đồng bằng sông Hồng truyền thống, tiêu dùng chịu ảnh hưởng mạnh của không gian làng xã, quan hệ cộng đồng và mạng lưới cung ứng tại chỗ. Các chuẩn mực tiết kiệm, tích lũy, ưu tiên gia đình, coi trọng sự bền chắc và phù hợp với điều kiện kinh tế có vai trò quan trọng trong định hình hành vi tiêu dùng. Chuyển đổi số đang mở rộng đáng kể không gian tiêu dùng. Thương mại điện tử, thanh toán số và các nền tảng trực tuyến làm giảm sự phụ thuộc vào giới hạn địa lý của thị trường địa phương. Hàng hóa, dịch vụ, thông tin về sức khỏe, giáo dục, giải trí và nhiều dịch vụ khác có thể được tiếp cận trực tiếp từ môi trường số. Phương thức tiêu dùng vì thế ngày càng mang tính kết nối, linh hoạt và đa lựa chọn.
Quan trọng hơn, chuyển đổi số không chỉ thay đổi cách thức mua hàng mà còn tác động đến cách nhu cầu được hình thành. Trong môi trường số, người tiêu dùng thường xuyên tiếp xúc với quảng cáo cá nhân hóa, đánh giá trực tuyến, nội dung của người có ảnh hưởng và hệ thống đề xuất sản phẩm. Quyết định tiêu dùng vì thế được hình thành trong sự tương tác giữa nhu cầu thực tế của cá nhân với những tín hiệu được tạo ra bởi thị trường và nền tảng công nghệ. Điều này góp phần thu hẹp sự khác biệt về kiểu mẫu tiêu dùng giữa nông thôn và đô thị. Người nông dân có thể tiếp cận nhanh hơn với sản phẩm, dịch vụ và xu hướng tiêu dùng trước đây tập trung chủ yếu ở đô thị. Mặt tích cực là mở rộng quyền lựa chọn, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện chất lượng đời sống. Tuy nhiên, môi trường này cũng tạo nguy cơ tiêu dùng phô trương, mua sắm bốc đồng, chạy theo xu hướng hoặc sử dụng tín dụng thiếu kiểm soát. Do đó, năng lực tiêu dùng số trở thành một thành tố của năng lực làm chủ đời sống. Người tiêu dùng không chỉ cần biết mua sản phẩm mà còn phải phân biệt nhu cầu thực với nhu cầu được kiến tạo bởi quảng cáo, nhận diện quảng cáo trá hình, kiểm chứng chất lượng và nguồn gốc, đánh giá độ tin cậy của người bán, đồng thời bảo vệ dữ liệu cá nhân và tài chính.
Chuyển đổi số đồng thời thúc đẩy quá trình tri thức hóa nông dân. Khả năng tiếp cận thông tin tạo điều kiện để người nông dân lựa chọn không chỉ hàng hóa mà cả những phương thức sống phù hợp hơn với sức khỏe, môi trường và chất lượng đời sống. Nghị quyết số 30-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định đồng bằng sông Hồng phải đi đầu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, xã hội số và phát triển nông nghiệp công nghệ cao, xanh, hữu cơ, tuần hoàn (Bộ Chính trị, 2022). Điều này đặt yêu cầu phát triển nông nghiệp theo hướng hiệu quả, bền vững, sinh thái, công nghệ cao, hữu cơ và tuần hoàn. Trong bối cảnh đó, công nghệ có thể hỗ trợ tối ưu hóa sử dụng nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; kiểm soát quy trình sản xuất; truy xuất nguồn gốc; giám sát môi trường và kết nối sản phẩm an toàn với thị trường.
Từ đây có thể nhận diện một biểu hiện mới của lối sống: lối sống sinh thái - số. Khi người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sản phẩm an toàn, nguồn gốc rõ ràng và sản xuất bền vững, bảo vệ môi trường không còn chỉ là chuẩn mực đạo đức được tuyên truyền từ bên ngoài mà từng bước trở thành một bộ phận của logic kinh tế và năng lực cạnh tranh. Sự thay đổi này đồng thời làm biến đổi quan niệm về “đời sống tốt”. Các giá trị truyền thống như tiết kiệm, cần cù, bền bỉ và tích lũy cho gia đình vẫn có khả năng được duy trì, nhưng tương tác với những chuẩn mực mới như tiện nghi, trải nghiệm cá nhân, chất lượng dịch vụ và khả năng biểu đạt bản thân. Đây không nên được nhìn nhận giản đơn như sự suy giảm của đạo đức truyền thống, mà là quá trình tái cấu trúc hệ giá trị tiêu dùng trong điều kiện nhu cầu cá nhân, giao lưu xã hội và khả năng lựa chọn được mở rộng.
Tựu trung lại, lối sống của nông dân đồng bằng sông Hồng hiện nay chịu tác động đồng thời của văn hóa làng xã, văn hóa đô thị và văn hóa nền tảng. Đây không phải quá trình thay thế đơn tuyến mà là quá trình tương tác, điều chỉnh và tái cấu trúc. Những giá trị truyền thống có thể được chuyển hóa trong điều kiện mới. Khả năng kết hợp giữa tiết kiệm với tiện ích, trách nhiệm gia đình với nhu cầu cá nhân và tiêu dùng hiện đại với trách nhiệm môi trường sẽ quyết định chiều sâu văn hóa của lối sống mới.
Thứ ba, phương thức giao tiếp, ứng xử chuyển từ giao tiếp trực diện sang cấu trúc giao tiếp kết hợp trực tiếp và trực tuyến
Chuyển đổi số không xóa bỏ cấu trúc cộng đồng mà đang tái cấu trúc phương thức tồn tại của cộng đồng. Các nhóm Zalo, Facebook và những kênh giao tiếp số trở thành phần mở rộng của quan hệ làng xã. Thông tin về sản xuất, việc làng, cưới hỏi, hiếu hỉ, tương trợ, cảnh báo rủi ro hoặc hoạt động cộng đồng có thể được truyền tải nhanh hơn. Những người đi làm xa vẫn có thể tham gia vào các hoạt động và quan hệ của quê hương. Cộng đồng làng vì thế không còn hoàn toàn bị giới hạn bởi không gian địa lý mà có thể được mở rộng vào không gian số. Sự thay đổi này làm mở rộng không gian xã hội của cá nhân vượt khỏi phạm vi làng, xã và nơi cư trú. Người nông dân có thể đồng thời tham gia cộng đồng địa phương, cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng sở thích, cộng đồng tiêu dùng hoặc mạng lưới đồng hương. Điều này làm tăng khả năng tiếp cận nguồn lực xã hội và thông tin, nhưng cũng khiến cấu trúc quan hệ cá nhân trở nên phức tạp hơn.
Giao tiếp số đồng thời làm biến đổi cơ chế tạo lập và duy trì niềm tin. Trong cộng đồng truyền thống, uy tín thường được xác nhận qua tiếp xúc lâu dài, sự chứng kiến trực tiếp và lịch sử quan hệ. Trên môi trường số, uy tín có thể được biểu đạt thông qua hình ảnh, lượt tương tác, bình luận và lời chứng thực. Một cá nhân vì vậy có thể nhanh chóng tạo dựng ảnh hưởng, nhưng uy tín cũng có thể suy giảm nhanh chóng. Do đó, môi trường số vừa tăng cường kết nối, vừa tạo nguy cơ phân mảnh và trình diễn trong quan hệ xã hội. Tin đồn có thể lan truyền nhanh hơn khả năng kiểm chứng; xung đột nhỏ có thể bị công khai và khuếch đại; những vấn đề vốn được giải quyết trong phạm vi quan hệ trực tiếp có thể trở thành vấn đề của cộng đồng trực tuyến rộng lớn hơn. Ranh giới giữa đời sống riêng tư và đời sống công cộng vì vậy trở nên phức tạp hơn.
Cùng với đó, cá nhân hóa trở thành một xu hướng đáng chú ý. Người nông dân có nhiều không gian hơn để thể hiện sở thích, quan điểm và năng lực cá nhân, đồng thời có thể tham gia các cộng đồng vượt khỏi giới hạn làng xã. Đây là điều kiện mở rộng quyền tự chủ và giải phóng một số năng lực cá nhân. Tuy nhiên, cá nhân hóa không đồng nghĩa với chủ nghĩa cá nhân. Vấn đề cốt lõi của lối sống mới là mở rộng quyền tự quyết mà không làm suy giảm nghĩa tình, trách nhiệm, tinh thần hợp tác và liên đới cộng đồng.
Không gian số cũng làm thay đổi cấu trúc quyền lực biểu tượng trong cộng đồng. Người có khả năng sản xuất nội dung, quản trị nhóm, kết nối thị trường hoặc sử dụng công nghệ có thể nhanh chóng tích lũy ảnh hưởng, trong khi trước đây uy tín thường gắn nhiều hơn với tuổi tác, vị trí xã hội hoặc lịch sử quan hệ. Điều này mở ra cơ hội để thanh niên, phụ nữ và những người có kinh nghiệm di cư, kinh doanh hoặc làm việc trong môi trường hiện đại tham gia mạnh hơn vào đời sống cộng đồng. Đồng thời, nó có thể tạo ra sự va chạm giữa thẩm quyền kinh nghiệm và thẩm quyền kỹ thuật. Vì vậy, cộng đồng số cần tạo cơ chế để kinh nghiệm thực tiễn và tri thức mới bổ sung cho nhau.
Quan hệ trực tuyến cũng không nên được coi là quan hệ “ảo” theo nghĩa không có hậu quả thực. Một thông tin sai có thể ảnh hưởng đến danh dự cá nhân, uy tín sản phẩm, giá nông sản hoặc sự đồng thuận cộng đồng. Một nội dung thiếu kiểm chứng có thể tạo ra hành vi tập thể với hậu quả ngoài không gian mạng. Vì vậy, đạo đức số phải được hiểu như sự kéo dài của đạo đức xã hội trong môi trường mới. Không gian mạng không phải là nơi các chuẩn mực trách nhiệm được đình chỉ.
Chuyển đổi số còn tạo ra phương thức học tập mới. Video hướng dẫn, lớp học trực tuyến, hội nhóm nghề nghiệp và tư vấn từ xa làm thay đổi cơ chế truyền bá tri thức. Người nông dân không còn chỉ tiếp nhận kiến thức theo tuyến từ cơ quan chuyên môn xuống cơ sở mà có thể tìm kiếm, so sánh, trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm theo mạng ngang. Vì vậy, năng lực tự học trở thành phẩm chất quan trọng của lối sống mới, bởi công nghệ, thị trường và tiêu chuẩn sản xuất thay đổi nhanh hơn chu kỳ đào tạo chính thức. Tuy nhiên, người nông dân cần phân biệt chứng cứ với ý kiến, kinh nghiệm cá biệt với kết luận có tính khái quát, số lượt chia sẻ với độ tin cậy của thông tin. Đây là bước phát triển quan trọng của lối sống mới: từ khả năng sử dụng công nghệ sang khả năng làm chủ công nghệ về mặt nhận thức và hành vi.
Môi trường mở cũng làm thay đổi quan hệ giữa chuyên gia và người dân. Tri thức chuyên môn không còn chỉ lưu thông một chiều từ cơ quan chuyên môn xuống cơ sở mà phải cạnh tranh với những nội dung ngắn, giàu cảm xúc và có khả năng lan truyền nhanh. Điều này đặt ra yêu cầu đổi mới hoạt động khuyến nông, giáo dục và truyền thông khoa học theo hướng giải thích, đối thoại và cùng kiểm chứng. Kinh nghiệm của người nông dân không nên bị xem thấp hơn một cách máy móc; nếu được ghi nhận, chuẩn hóa và kiểm chứng, kinh nghiệm địa phương có thể trở thành nguồn dữ liệu quan trọng cho phát triển tri thức.
Việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến cũng có thể góp phần hình thành thói quen hành động theo quy trình pháp lý, lưu giữ bằng chứng giao dịch, theo dõi tiến độ xử lý và yêu cầu phản hồi. Vì thế, vhuyển đổi số có khả năng góp phần dịch chuyển một bộ phận quan hệ xã hội từ tâm lý dựa nhiều vào quan hệ cá nhân sang ý thức về quyền, nghĩa vụ, thủ tục và trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, điều đó chỉ thực sự diễn ra khi hệ thống số bảo đảm tính minh bạch, khả năng tiếp cận và trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ; bản thân công nghệ không tự động tạo ra văn hóa pháp quyền.
Như vậy, chuyển đổi số đồng thời tạo ra cơ hội và mâu thuẫn trong sự hình thành lối sống mới. Cùng một cơ chế kết nối có thể mở rộng cơ hội giao tiếp nhưng cũng làm gia tăng phân mảnh; cùng một nền tảng có thể giảm chi phí giao dịch nhưng đồng thời tạo sự phụ thuộc vào thuật toán; cùng một quá trình cá nhân hóa có thể giải phóng năng lực sáng tạo nhưng cũng có thể làm suy yếu liên đới cộng đồng. Những mâu thuẫn của lối sống số vì vậy nảy sinh ngay trong cấu trúc vận động của quá trình chuyển đổi số.
3. Kết luận
Chuyển đổi số đang trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy biến đổi lối sống của nông dân đồng bằng sông Hồng. Tác động của chuyển đổi số không chỉ thể hiện ở việc sử dụng điện thoại thông minh, thương mại điện tử hay nền tảng số, mà sâu xa hơn là sự tái cấu trúc phương thức tồn tại xã hội của người nông dân, từ sản xuất, tiêu dùng, giao tiếp, học tập đến tham gia cộng đồng.
Lối sống mới không phải sự đoạn tuyệt với các giá trị truyền thống, mà là quá trình kế thừa, chọn lọc và tái cấu trúc chúng trong điều kiện kinh tế - xã hội mới. Những giá trị như cần cù, tiết kiệm, nghĩa tình, tinh thần cộng đồng và gắn bó quê hương cần được kết hợp với tri thức, năng lực số, tính chủ động, ý thức pháp luật, tư duy thị trường, trách nhiệm môi trường và năng lực hợp tác trong không gian mạng. Về thực chất, quá trình này góp phần hình thành kiểu chủ thể nông dân mới: từ người sản xuất chủ yếu dựa vào đất đai và kinh nghiệm trở thành chủ thể có khả năng kết hợp kinh nghiệm với dữ liệu, sản xuất gắn với thị trường, tự chủ cá nhân với trách nhiệm xã hội và cộng đồng trực tiếp với mạng lưới số.
_________________
Ngày nhận bài: 27/9/2026; Ngày bình duyệt: 30/9/2026; Ngày quyết định đăng: 2/10/2026.
Email tác giả: vangk52@gmail.com.
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, I.V.Xtalin (1978). Về thanh niên, Nxb Sự thật.
Cục Thống kê (2026). Niên giám Thống kê 2025. Nxb Thống kê.
Phạm Hồng Tung (2011). Nghiên cứu về lối sống: Một số vấn đề về khái niệm và cách tiếp cận. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nguyễn Viết Chức (2001). Xây dựng tư tưởng đạo đức, lối sống văn hóa ở Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nxb Văn hóa - Thông tin.
Nguyễn Văn Huyên (2003). Lối sống người Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hóa hiện nay. Tạp chí Triết học (12), 29-34.
Thanh Lê (2001). Lối sống xã hội chủ nghĩa và xu thế toàn cầu hóa. Nxb Khoa học xã hội.
Tổng cục Thống kê (2024). Kết quả sản xuất lúa Đông Xuân năm 2024.
Tổng cục Thống kê (06/01/2025). Thông cáo báo chí kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ 2024. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2025/01/thong-cao-bao-chi-ket-qua-dieu-tra-dan-so-va-nha-o-giua-ky-nam-2024/.
UNDP (2024). Di cư nội địa ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long: Vấn đề hiện nay và hàm ý chính sách. https://www.undp.org/vi/vietnam/publications/di-cu-noi-dia-o-dong-bang-song-hong-va-dong-bang-song-cuu-long-van-de-hien-nay-va-ham-y-chinh-sach.