Xây dựng Trường Chính trị tỉnh Lào Cai đạt chuẩn mức 2 - Nỗ lực từ một tỉnh miền núi
Tóm tắt: Xây dựng trường chính trị chuẩn có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của địa phương. Bài viết nghiên cứu, làm rõ quá trình xây dựng Trường Chính trị tỉnh Lào Cai đạt chuẩn mức 2, tập trung vào sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, phát triển đội ngũ, đổi mới đào tạo, nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ và xây dựng văn hóa trường Đảng; chỉ ra những vấn đề còn tồn tại và nhiệm vụ trọng tâm nhằm duy trì, nâng cao chất lượng Trường sau đạt chuẩn.
TS NGUYỄN THỊ VÂN HẰNG
Trường Chính trị tỉnh Lào Cai

1. Mở đầu
Xây dựng đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định đối với năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.309). Trong hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng, trường chính trị cấp tỉnh trực tiếp đào tạo trung cấp lý luận chính trị, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức; đồng thời, thực hiện nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn và cung cấp luận cứ phục vụ cấp ủy, chính quyền địa phương. Vì vậy, chất lượng hoạt động của trường chính trị tác động trực tiếp đến chất lượng đội ngũ cán bộ ở cơ sở.
Quy định số 11-QĐ/TW ngày 19/5/2021 và Quy định số 396-QĐ/TW ngày 06/01/2026 của Ban Bí thư về trường chính trị chuẩn, đã xác lập khuôn khổ chính trị, pháp lý cho việc nâng cao đồng bộ chất lượng tổ chức bộ máy, đội ngũ, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, xây dựng văn hóa trường Đảng và các điều kiện bảo đảm. Các quyết định, hướng dẫn của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tiếp tục cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và quy trình công nhận vấn đề này; đồng thời đặt ra yêu cầu duy trì, nâng cao chất lượng sau khi đạt chuẩn. Xây dựng Trường Chính trị tỉnh Lào Cai đạt chuẩn mức 2 không chỉ nhằm đáp ứng các tiêu chí, chỉ tiêu theo quy định, mà còn hướng tới nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu và phục vụ công tác cán bộ của tỉnh.
2. Nội dung
2.1. Bối cảnh đặc thù và yêu cầu xây dựng trường chính trị chuẩn mức 2 ở tỉnh Lào Cai
Quá trình xây dựng và phát triển Trường Chính trị tỉnh Lào Cai không thể tách rời điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội và yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ của địa phương. Sau khi hợp nhất hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái từ ngày 01/7/2025, tỉnh Lào Cai có diện tích trên 13.200 km², gồm: 99 xã, phường với dân số trên 1,7 triệu người (Tỉnh ủy Lào Cai, 2026, tr.10). Với địa bàn rộng và địa hình bị chia cắt, nhiều xã vùng cao, biên giới và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đã đặt ra yêu cầu cao đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở của tỉnh.
Thực tiễn phát triển của tỉnh đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với năng lực lý luận, tư duy phát triển và khả năng xử lý những vấn đề phức tạp của đội ngũ cán bộ cơ sở, như: các vấn đề liên quan đến quản lý đất đai, giảm nghèo bền vững, phát triển du lịch cộng đồng, bảo tồn văn hóa gắn với sinh kế, phòng, chống tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, giữ vững an ninh, trật tự và quản lý địa bàn biên giới... Vì vậy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tại Lào Cai không chỉ phải bảo đảm kiến thức lý luận chính trị và quản lý nhà nước mà còn phải gắn chặt với đặc điểm vùng cao, biên giới, đa dân tộc và yêu cầu thực tiễn của từng vị trí việc làm.
Khi bắt đầu triển khai xây dựng trường chính trị chuẩn, Nhà trường phải tiếp tục hoàn thiện một số điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị công nghệ, số lượng và cơ cấu giảng viên, để đáp ứng yêu cầu của chuẩn mức 2. Sau khi Nhà trường được tổ chức lại, việc hài hòa quy chế, dữ liệu, tài liệu phục vụ giảng dạy, phương thức làm việc và phân công chuyên môn tiếp tục đặt ra những yêu cầu mới. Nhà trường phải đồng thời kiện toàn tổ chức, bố trí đội ngũ và duy trì liên tục hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn.
Trong bối cảnh đó, xây dựng trường chính trị chuẩn mức 2 là quá trình nâng cao đồng bộ chất lượng tổ chức bộ máy, đội ngũ, đào tạo, nghiên cứu khoa học, văn hóa trường Đảng và các điều kiện bảo đảm. Các quy định của Ban Bí thư, hướng dẫn của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cùng đề án, kế hoạch của Tỉnh ủy đã tạo căn cứ và lộ trình để Nhà trường tập trung khắc phục những nội dung chưa đạt, phát huy kết quả đã có và gắn việc hoàn thành tiêu chí với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.
2.2. Thực trạng xây dựng Trường Chính trị tỉnh Lào Cai đạt chuẩn mức 2
Một là, sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và tính chủ động của Nhà trường trong tổ chức thực hiện
Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy cùng với sự chủ động tham mưu và tổ chức thực hiện của Nhà trường là nội dung quan trọng bảo đảm hoàn thành các tiêu chí, chỉ tiêu của trường chuẩn mức 2. Tỉnh ủy xác định, xây dựng trường chuẩn là một nội dung của công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị, nhiệm vụ này được triển khai với sự tham gia của các cơ quan liên quan, không chỉ thuộc trách nhiệm riêng của Nhà trường.
Trên cơ sở các quy định của Trung ương về trường chính trị chuẩn, Tỉnh ủy và Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành các đề án, kế hoạch, quyết định, xác định mục tiêu, lộ trình, trách nhiệm phối hợp và nguồn lực thực hiện. Nội dung tập trung vào kiện toàn tổ chức bộ máy, phát triển đội ngũ, đổi mới đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, ứng dụng công nghệ và đầu tư cơ sở vật chất. Qua đó, việc xây dựng trường chuẩn được triển khai theo lộ trình và gắn với trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị.
Sau khi Nhà trường được tổ chức lại, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tiếp tục chỉ đạo bảo đảm hoạt động ổn định, liên tục và phù hợp với yêu cầu mới. Đề án số 06-ĐA/TU ngày 30/8/2025 đã xác định nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, phát triển Trường Chính trị tỉnh Lào Cai đạt chuẩn mức 2 giai đoạn 2026-2030; Quyết định số 38-QĐ/TU ngày 11/4/2026 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Nhà trường. Cùng với các văn bản phân công và kiểm tra tiến độ, đây là căn cứ để ổn định tổ chức, xác định trách nhiệm và giải quyết những khó khăn trong quá trình hoàn thành các tiêu chí, chỉ tiêu.
Nhà trường chủ động rà soát thực trạng, xác định những chỉ tiêu còn thiếu, những kết quả chưa bảo đảm tính bền vững và các khó khăn vượt thẩm quyền, để tham mưu cấp có thẩm quyền và phối hợp với các cơ quan liên quan. Nội dung tham mưu tập trung vào tổ chức bộ máy, bố trí và phát triển đội ngũ, chính sách đào tạo nâng cao trình độ, thực hiện nhiệm vụ khoa học, đầu tư cơ sở vật chất và huy động nguồn lực. Việc kịp thời báo cáo, đề xuất phương án xử lý đã góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp và tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình xây dựng trường chuẩn.
Trên cơ sở chủ trương, đề án và quyết định của Tỉnh ủy, Nhà trường rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống quy chế, quy định về tổ chức cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, tài chính, thi đua, quản lý học viên và xây dựng văn hóa trường Đảng. Chức năng, nhiệm vụ của các khoa, phòng được phân định rõ; trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm phối hợp được gắn với tiến độ, chất lượng và sản phẩm công việc. Các quy trình về quản lý đào tạo, dự giờ, thao giảng, đánh giá bài giảng, thực hiện nhiệm vụ khoa học và nghiệm thu sản phẩm từng bước được hoàn thiện.
Việc hoàn thiện quy chế, quy trình không chỉ đáp ứng yêu cầu về căn cứ và hồ sơ mà còn tạo cơ sở để tổ chức thực hiện nhiệm vụ đồng bộ, chặt chẽ và có thể kiểm tra, đánh giá. Qua đó, trách nhiệm của tập thể, cá nhân được xác định rõ hơn; sự chồng chéo từng bước được khắc phục; kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện nhiệm vụ được tăng cường. Sự lãnh đạo của Tỉnh ủy gắn với tính chủ động tham mưu và tổ chức thực hiện của Nhà trường đã tạo nên sự thống nhất từ chủ trương đến hành động, góp phần quyết định vào kết quả hoàn thành các tiêu chí, chỉ tiêu của trường chuẩn mức 2.
Hai là, phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên - nền tảng nâng cao chất lượng hoạt động
Đội ngũ cán bộ, giảng viên là nhân tố trực tiếp quyết định chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn của Nhà trường. Đối với trường chính trị tỉnh Lào Cao, là tỉnh ở tỉnh miền núi, yêu cầu phát triển đội ngũ không chỉ đặt ra ở học vị và chức danh nghề nghiệp, mà còn ở bản lĩnh chính trị, năng lực giảng dạy lý luận, khả năng nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và mức độ am hiểu địa bàn vùng cao, biên giới. Vì vậy, Nhà trường chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ; cử giảng viên nghiên cứu thực tế; tham gia đề tài, hội thảo, viết bài khoa học; duy trì dự giờ, thao giảng và sinh hoạt chuyên môn.
Đến giữa năm 2026, Nhà trường có 73 viên chức, trong đó có 61 giảng viên, chiếm 83,56%; 100% giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên, gồm: 12 tiến sĩ và 19 nghiên cứu sinh. Trong đội ngũ giảng viên, có 56/61 người trình độ cao cấp hoặc cử nhân lý luận chính trị; 45/53 người đủ điều kiện về thời gian công tác giữ ngạch giảng viên chính và tương đương; 2 người giữ ngạch giảng viên cao cấp. Giai đoạn 2021-2025, Nhà trường có 12 lượt giảng viên đạt danh hiệu giảng viên dạy giỏi cấp Học viện, trong đó 04 lượt đạt danh hiệu giảng viên dạy xuất sắc (Trường Chính trị tỉnh Lào Cai, 2026, tr.2).
Những kết quả trên, phản ánh bước tiến quan trọng về học vị, trình độ lý luận chính trị và chức danh nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ, giảng viên của Nhà trường. Giá trị của những kết quả đó cần tiếp tục được thể hiện qua khả năng luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn; đưa kết quả nghiên cứu vào bài giảng; tổ chức lớp học phát huy tư duy độc lập; giữ vững định hướng chính trị trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm và sử dụng công nghệ có trách nhiệm.
Ba là, đổi mới đào tạo, bồi dưỡng gắn với năng lực thực tiễn của cán bộ vùng cao, biên giới
Giai đoạn 2021 - 2025, Nhà trường đã tổ chức 228 lớp đào tạo, bồi dưỡng 15.109 lượt học viên; trong đó, có 76 lớp trung cấp lý luận chính trị với 4.585 lượt học viên và 152 lớp bồi dưỡng với 10.524 lượt học viên (Trường Chính trị tỉnh Lào Cai, 2026, tr.35). Kết quả này cho thấy, quy mô và vai trò của Nhà trường trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh.
Cùng với duy trì quy mô, nội dung đào tạo từng bước được gắn chặt với thực tiễn địa phương. Bên cạnh việc thực hiện chương trình khung, Nhà trường thường xuyên cập nhật các quan điểm, chủ trương mới của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và định hướng phát triển của tỉnh vào bài giảng. Những vấn đề về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, kinh tế cửa khẩu, du lịch, nông nghiệp, giảm nghèo, bảo tồn văn hóa, chuyển đổi số, quốc phòng và an ninh biên giới... được sử dụng làm nội dung liên hệ, tình huống và chủ đề nghiên cứu thực tế.
Việc gắn nội dung giảng dạy với thực tiễn có ý nghĩa trực tiếp đối với học viên là cán bộ ở vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thông qua phân tích tình huống và nghiên cứu thực tế, học viên có điều kiện đối chiếu tri thức lý luận với những vấn đề cụ thể của địa phương, từ đó nâng cao khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn công tác.
Phương pháp giảng dạy từng bước chuyển từ truyền đạt một chiều sang nêu vấn đề, thảo luận, nghiên cứu tình huống, trao đổi kinh nghiệm và nghiên cứu thực tế. Mô hình đồng giảng và giảng viên - học viên đồng kiến tạo tri thức được triển khai thí điểm, nhằm kết hợp thế mạnh chuyên môn của giảng viên với kinh nghiệm thực tiễn của người học. Trong quá trình này, giảng viên giữ vai trò định hướng lý luận, phương pháp và chuẩn mực khoa học; học viên tham gia phân tích tình huống, phản biện và đề xuất phương án xử lý. Qua đó, tính đối thoại được tăng cường, kinh nghiệm thực tiễn của học viên được phát huy và quá trình học tập hướng nhiều hơn vào năng lực phân tích, vận dụng.
Công tác kiểm tra, đánh giá được đa dạng hóa thông qua thi viết, thi vấn đáp, xây dựng ngân hàng câu hỏi, ngân hàng đề thi và tổ chức trộn đề trắc nghiệm trên giấy. Thi vấn đáp giúp đánh giá trực tiếp kiến thức, kỹ năng trình bày, tư duy phân tích và khả năng xử lý tình huống; đồng thời, góp phần hạn chế lối học thuộc lòng, ghi nhớ máy móc. Việc xây dựng ngân hàng câu hỏi, ngân hàng đề thi và tiêu chí chấm từng bước tạo cơ sở nâng cao tính khách quan, thống nhất trong kiểm tra, đánh giá.
Quản lý học viên được gắn với duy trì kỷ luật, kỷ cương và rèn luyện tác phong cán bộ. Việc thực hiện nội quy, quy chế, theo dõi quá trình học tập và đánh giá ý thức rèn luyện góp phần duy trì nền nếp lớp học, nâng cao trách nhiệm và hình thành phương pháp học tập phù hợp với đặc thù đào tạo lý luận chính trị.
Bốn là, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn và cung cấp luận cứ
Nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn là cầu nối giữa lý luận với thực tiễn, đồng thời là điều kiện để nâng cao chất lượng giảng dạy và khả năng tham mưu của trường chính trị. Đối với Lào Cai, hoạt động nghiên cứu chỉ thực sự có giá trị khi bám sát những vấn đề của địa bàn miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những yêu cầu mới của quá trình phát triển.
Từ năm 2021 đến giữa năm 2026, Nhà trường triển khai 12 đề tài, đề án, báo cáo tổng kết thực tiễn cấp tỉnh và tương đương, gồm: 05 đề tài đã nghiệm thu, 02 đề tài đang thực hiện, 02 nhiệm vụ tổng kết thực tiễn đã nghiệm thu và 03 đề án phục vụ phát triển Nhà trường. Ở cấp cơ sở, có 58 đề tài được triển khai và nghiệm thu (Trường Chính trị tỉnh Lào Cai, 2026, tr.47). Nội dung nghiên cứu tập trung vào phát triển du lịch bền vững, bảo tồn văn hóa các dân tộc, đào tạo nghề gắn với việc làm, phát triển lực lượng công nhân, bình đẳng giới, nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng, giảm nghèo, phòng, chống tảo hôn và chuyển đổi số ở cấp xã.
Từ hoạt động nghiên cứu, hội thảo và tọa đàm, Nhà trường có 17 kết quả nghiên cứu được chuyển giao và 18 báo cáo kiến nghị cấp tỉnh được nghiệm thu, phê duyệt (Trường Chính trị tỉnh Lào Cai, 2026, tr.49). Các kết quả về phát triển đảng viên ở khu vực biên giới, đào tạo nghề cho lao động nông thôn, phát triển lực lượng công nhân, du lịch cộng đồng và nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở cho thấy, hoạt động nghiên cứu đã từng bước vượt khỏi phạm vi phục vụ nội bộ, hướng tới cung cấp luận cứ cho lãnh đạo, quản lý địa phương.
Những kết quả đó cho thấy, hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn đã có bước phát triển, từng bước gắn nội dung nghiên cứu với những vấn đề của tỉnh miền núi, biên giới và yêu cầu phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý ở địa phương. Tuy nhiên, hiệu quả nghiên cứu cần được xem xét thêm qua mức độ tiếp nhận, sử dụng kết quả sau nghiệm thu.
Năm là, ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong hoạt động của Nhà trường
Trong điều kiện địa bàn rộng, các hoạt động được tổ chức tại nhiều địa điểm, Nhà trường xác định chuyển đổi số là giải pháp quan trọng để kết nối quản lý, đào tạo và nghiên cứu. Hạ tầng mạng, thiết bị phòng học, hệ thống quản lý văn bản, cổng thông tin điện tử và thư viện số từng bước được đầu tư; một số phòng học được trang bị màn hình tương tác, hệ thống âm thanh, camera phục vụ giảng dạy, dự giờ và đánh giá chuyên môn. Phần mềm quản lý đào tạo và văn phòng điện tử được sử dụng để quản lý lịch giảng, hồ sơ học viên, giáo án, kết quả học tập và xử lý văn bản, góp phần rút ngắn thời gian giải quyết công việc, tăng khả năng chia sẻ thông tin và theo dõi tiến độ nhiệm vụ.
Cùng với đầu tư hạ tầng, Nhà trường tổ chức bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo cho đội ngũ cán bộ, giảng viên; từng bước sử dụng công nghệ trong xây dựng bài giảng, tìm kiếm tài liệu, thiết kế tình huống, trực quan hóa nội dung và xử lý dữ liệu. Việc tổ chức thi trắc nghiệm trên máy tính và xây dựng ngân hàng câu hỏi bước đầu hỗ trợ công tác kiểm tra, đánh giá và giảm một phần khối lượng xử lý hành chính. Những kết quả trên, bước đầu tạo điều kiện kết nối hoạt động quản lý, đào tạo và nghiên cứu; đồng thời, đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện dữ liệu, nâng cao năng lực sử dụng công nghệ và bảo đảm trách nhiệm trong ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
Sáu là, xây dựng văn hóa trường Đảng, phát huy phong trào thi đua và các mô hình đổi mới
Văn hóa trường Đảng được thể hiện ở bản lĩnh chính trị, chuẩn mực đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, phong cách khoa học, dân chủ, đoàn kết và nêu gương. Nhà trường gắn xây dựng văn hóa với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đề cao kỷ luật phát ngôn, chuẩn mực giao tiếp, tinh thần tận tụy trong giảng dạy, nghiên cứu, quản lý và phục vụ người học. Phương châm “Đoàn kết - Kỷ cương - Chất lượng - Phát triển” được cụ thể hóa trong thực hiện nhiệm vụ và đánh giá kết quả công việc.
Các phong trào thi đua được triển khai gắn với nhiệm vụ chuyên môn và trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân. Từ thực tiễn hoạt động, Nhà trường từng bước áp dụng các mô hình, như: đưa giảng viên nghiên cứu thực tế có kỳ hạn tại cơ sở; phối hợp chuyên môn với các trường chính trị; hỗ trợ các trung tâm chính trị nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ và ứng dụng công nghệ trong quản lý, giảng dạy. Các mô hình này góp phần tăng cường nghiên cứu thực tế, chia sẻ kinh nghiệm chuyên môn và nâng cao hiệu quả phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ.
Với những nỗ lực đồng bộ, Trường Chính trị tỉnh Lào Cai đã đạt 6/6 nhóm tiêu chí, 60/60 chỉ tiêu, trong đó có 15 chỉ tiêu vượt chuẩn. Kết quả này phản ánh sự chuyển biến trên các lĩnh vực hoạt động, khả năng huy động nguồn lực và sự phối hợp giữa Nhà trường với các cơ quan liên quan trong quá trình xây dựng trường chuẩn mức 2.
Những vấn đề đặt ra trong duy trì và nâng cao chất lượng Nhà trường sau khi đạt chuẩn
Bên cạnh kết quả đạt được, việc duy trì và nâng cao chất lượng sau khi đạt chuẩn tiếp tục đặt ra một số vấn đề cần được nhận diện rõ:
Một là, hệ thống chỉ báo đánh giá chất lượng đầu ra chưa đầy đủ. Các chỉ tiêu về học vị, chức danh nghề nghiệp, số lớp, đề tài và cơ sở vật chất tương đối dễ xác định, nhưng chưa có hệ thống chỉ báo đầy đủ để đo lường chất lượng bài giảng, năng lực vận dụng của học viên, giá trị sử dụng của kết quả nghiên cứu và tác động của chuyển đổi số.
Hai là, việc phối hợp và phát huy nguồn lực sau tổ chức lại tiếp tục đặt ra yêu cầu hoàn thiện. Quy chế, dữ liệu, quy trình và phân công chuyên môn cần được rà soát thường xuyên; việc bố trí đội ngũ phải gắn với vị trí việc làm, năng lực, sở trường và yêu cầu phát triển lâu dài của Nhà trường.
Ba là, yêu cầu chuyển trình độ của đội ngũ thành chất lượng sản phẩm chuyên môn ngày càng cao. Sự gia tăng số lượng tiến sĩ, nghiên cứu sinh và giảng viên chính cần tiếp tục được thể hiện rõ hơn qua chất lượng bài giảng, công trình khoa học, năng lực tổng kết thực tiễn và giá trị tham mưu.
Bốn là, hiệu quả sau đào tạo và sau nghiệm thu nhiệm vụ khoa học chưa được theo dõi đầy đủ. Khả năng vận dụng của học viên cần được đánh giá thông qua khảo sát sau đào tạo và phản hồi của cơ quan sử dụng cán bộ; sản phẩm khoa học cần được xem xét qua mức độ tiếp nhận, sử dụng trong giảng dạy, tham mưu và thực tiễn công tác.
Năm là, dữ liệu và công nghệ chưa được tích hợp đầy đủ vào hệ thống bảo đảm chất lượng. Dữ liệu cần được kết nối, cập nhật và khai thác thường xuyên; việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo phải đi cùng yêu cầu kiểm chứng, trích dẫn, bản quyền, bảo mật và trách nhiệm cá nhân.
2.3. Nhiệm vụ trọng tâm nhằm duy trì, nâng cao chất lượng sau khi đạt chuẩn
Từ kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra, Nhà trường cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm nhằm duy trì, nâng cao chất lượng sau khi đạt chuẩn.
Một là, bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của Tỉnh ủy và xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan liên quan. Xây dựng trường chuẩn gắn chặt với công tác cán bộ của tỉnh nên phải được đặt trong chương trình, kế hoạch của cấp ủy, có mục tiêu, lộ trình, phân công, kiểm tra và nguồn lực cụ thể. Nhà trường cần chủ động tham mưu trên cơ sở thực tiễn và dữ liệu, bảo đảm việc duy trì chuẩn được thực hiện thường xuyên, không tập trung chủ yếu vào thời điểm khảo sát, thẩm định.
Hai là, lấy chất lượng đội ngũ và sản phẩm chuyên môn làm khâu quyết định. Kế hoạch phát triển đội ngũ phải dựa trên vị trí việc làm, cơ cấu chuyên môn, độ tuổi và yêu cầu nhiệm vụ; kết hợp nâng cao trình độ với bồi dưỡng năng lực giảng dạy, nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và năng lực số. Đánh giá cán bộ, giảng viên cần dựa trên chất lượng bài giảng, phản hồi của người học, công trình khoa học, kết quả chuyển giao, đóng góp cho tập thể và chuẩn mực nêu gương.
Ba là, đổi mới đào tạo theo năng lực vận dụng của học viên, gắn với đặc thù vùng cao, biên giới. Mỗi chuyên đề cần xác định rõ người học phải hiểu, phân tích và thực hiện được nội dung gì; sử dụng tình huống thực tế của Lào Cai, tăng cường trao đổi với cán bộ thực tiễn, nghiên cứu địa bàn và bài tập đề xuất phương án. Hệ thống đánh giá cần kết hợp đầu vào, quá trình, cuối khóa và khảo sát sau đào tạo.
Bốn là, nâng cao giá trị ứng dụng của nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn. Nhiệm vụ nghiên cứu cần xuất phát từ chương trình công tác của Tỉnh ủy, những vấn đề khó của cơ sở và các khâu đột phá của tỉnh; xác định rõ sản phẩm đầu ra, địa chỉ sử dụng và khả năng đưa kết quả vào bài giảng, tài liệu, báo cáo kiến nghị hoặc mô hình thực tiễn. Đồng thời, Nhà trường cần phát triển các nhóm nghiên cứu ổn định về xây dựng Đảng, vùng cao, biên giới, dân tộc, kinh tế cửa khẩu, du lịch, nông nghiệp xanh, văn hóa và chuyển đổi số.
Năm là, hoàn thiện hệ thống tự đánh giá và nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ sau khi đạt chuẩn. Trọng tâm cần chuyển từ hoàn thành các chỉ tiêu sang nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, quản lý và phục vụ người học. Hằng năm, Nhà trường cần tự đánh giá trên cơ sở dữ liệu, kết quả thực hiện nhiệm vụ và chất lượng sản phẩm; xác định rõ những nội dung còn hạn chế và trách nhiệm khắc phục. Hoạt động số hóa cần tập trung vào các quy trình trực tiếp hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ; việc sử dụng trí tuệ nhân tạo phải bảo đảm kiểm chứng thông tin, trích dẫn nguồn, bản quyền, bảo mật và an toàn dữ liệu.
Văn hóa trường Đảng cần được thể hiện trong chất lượng từng quyết định, bài giảng, công trình nghiên cứu, thái độ phục vụ và trách nhiệm của cán bộ, giảng viên đối với uy tín của Nhà trường. Thực tiễn Lào Cai cho thấy, sự lãnh đạo của cấp ủy là điều kiện bảo đảm, đội ngũ là nhân tố quyết định, thực tiễn địa phương là nguồn tri thức và sản phẩm chuyên môn là căn cứ đánh giá chất lượng.
3. Kết luận
Xây dựng Trường Chính trị tỉnh Lào Cai đạt chuẩn mức 2 là kết quả của sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của Tỉnh ủy, sự phối hợp của các cơ quan liên quan, sự hướng dẫn của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và nỗ lực của tập thể cán bộ, viên chức Nhà trường. Trong điều kiện một tỉnh miền núi, biên giới, địa bàn rộng, việc hoàn thành 6/6 nhóm tiêu chí, 60/60 chỉ tiêu, trong đó có 15 chỉ tiêu vượt chuẩn, phản ánh sự chuyển biến đồng bộ về đội ngũ, đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, ứng dụng công nghệ và xây dựng văn hóa trường Đảng. Sau khi đạt chuẩn, trọng tâm không chỉ là duy trì các tiêu chí, chỉ tiêu, mà phải nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Yêu cầu đó cần được thể hiện bằng chất lượng bài giảng, năng lực vận dụng của học viên, giá trị sử dụng của kết quả nghiên cứu, hiệu quả khai thác dữ liệu và trách nhiệm của đội ngũ; qua đó, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Lào Cai trong giai đoạn mới.
_________________
Ngày nhận bài: 31/7/2026; Ngày bình duyệt: 8/9/2026; Ngày quyết định đăng: 27/9/2026.
Email tác giả: nguyenthivanhang1975@gmail.com
Tài liệu tham khảo
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 5). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Tỉnh ủy Lào Cai (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.
Trường Chính trị tỉnh Lào Cai (2026). Báo cáo tự đánh giá Trường Chính trị tỉnh Lào Cai đạt chuẩn mức 2 theo Quy định số 396-QĐ/TW ngày 06/01/2026 của Ban Bí thư.