Liên kết nhà nước, nhà trường/viện nghiên cứu và doanh nghiệp: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Tóm tắt: Liên kết giữa nhà nước, nhà trường/viện nghiên cứu và doanh nghiệp là cơ chế trung tâm để tri thức chuyển hóa thành giá trị trong hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Bài viết hệ thống hóa cơ sở lý thuyết của mô hình liên kết, từ mô hình tuyến tính tới lý thuyết hệ thống đổi mới quốc gia và mô hình ba vòng xoắn, chỉ ra 4 nền tảng lý thuyết kinh tế luận giải sự cần thiết phải liên kết, trên cơ sở đó xác lập bốn điều kiện để mô hình liên kết vận hành hiệu quả. Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Israel, Mỹ và Trung Quốc được phân tích theo ba thành tố là thiết chế trung gian, cơ chế tài chính chia sẻ rủi ro và cơ chế lợi ích, từ đó rút ra năm bài học cho Việt Nam trong bối cảnh Nghị quyết số 57-NQ/TW và Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 đã xác lập khung thể chế mới cho liên kết ba nhà. Bài viết là kết quả của đề tài khoa học cấp bộ trọng điểm 2025-2026: Nghiên cứu đề xuất mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo làm động lực chính.
PGS,TS NGUYỄN NGỌC TOÀN
Viện Kinh tế chính trị
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Trong mô hình tăng trưởng lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, tri thức chỉ trở thành giá trị khi ba chủ thể Nhà nước, nhà trường/viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong hệ sinh thái nắm giữ ba loại nguồn lực khác nhau được kết nối với nhau. Nhà nước nắm giữ thể chế, nguồn lực quốc gia, khả năng chấp nhận rủi ro và khả năng tạo cầu ban đầu; nhà trường và viện nghiên cứu nắm giữ tri thức và nhân lực trình độ cao; doanh nghiệp nắm giữ vốn đầu tư, hiểu biết về thị trường và năng lực thương mại hóa kết quả khoa học, công nghệ. Lý thuyết hệ thống đổi mới quốc gia đã chỉ ra rằng năng lực đổi mới là một thuộc tính của hệ thống, được quyết định bởi chất lượng liên kết và tương tác giữa các chủ thể chứ không phải là phép cộng năng lực của từng chủ thể riêng lẻ (Freeman, 1987; Lundvall, 1992; Nelson, 1993). Liên kết nhà nước, nhà trường/viện và doanh nghiệp, thường được gọi là liên kết ba nhà, do đó, không phải là một cấu trúc bổ trợ mà là cơ chế trung tâm để vận hành hiệu quả hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thực tiễn của các nền kinh tế đã vượt qua bẫy thu nhập trung bình trong nửa thế kỷ qua xác nhận vai trò quan trọng của mô hình liên kết nhà nước, nhà trường/viện và doanh nghiệp. Hàn Quốc đã xây dựng hệ thống viện nghiên cứu quốc gia làm hạt nhân rồi chuyển dần hoạt động nghiên cứu sang doanh nghiệp (Kim, 1997); Israel dùng vốn nhà nước làm vốn mồi để hình thành cả một ngành đầu tư mạo hiểm gắn với đại học và doanh nghiệp khởi nghiệp (Avnimelech & Teubal, 2006); Mỹ trao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu từ ngân sách liên bang cho đại học để thúc đẩy thương mại hóa (Mowery và cộng sự, 2004). Dù con đường khác nhau, điểm chung của các trường hợp này là đều hình thành được những thiết chế và cơ chế làm cho liên kết ba nhà vận hành thường xuyên, liên tục chứ không dừng ở những hợp tác đơn lẻ.
Ở Việt Nam, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định doanh nghiệp là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, viện nghiên cứu và trường đại học là chủ thể nghiên cứu mạnh, Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt (Bộ Chính trị, 2024). Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 đã luật hóa nhiều cơ chế mới cho liên kết như khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu (Quốc hội, 2025). Việc đưa các cơ chế ấy vào vận hành đòi hỏi phải hiểu rõ cơ sở lý thuyết của mô hình liên kết và những bài học đã làm cho mô hình này thành công ở các nền kinh tế đi trước. Đó chính là mục đích hướng đến của bài viết này.
2. Nội dung
2.1 Cơ sở lý thuyết về mô hình liên kết nhà nước, nhà trường/viện nghiên cứu và doanh nghiệp
Sự hình thành và phát triển của mô hình liên kết ba nhà
Quan niệm về quan hệ giữa nhà nước, nghiên cứu khoa học và sản xuất đã trải qua một quá trình phát triển. Ban đầu, đó là nhận thức về một mô hình quan hệ tuyến tính, theo đó tri thức đi theo một chiều từ nghiên cứu cơ bản do Nhà nước tài trợ, qua nghiên cứu ứng dụng, tới phát triển sản phẩm và sản xuất tại doanh nghiệp. Trong mô hình này, ba chủ thể nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp được phân công theo công đoạn và liên kết ba nhà chủ yếu là chuyển giao kết quả từ khâu trước sang khâu sau. Mô hình tuyến tính có ưu điểm là đơn giản và đã làm cơ sở cho chính sách tài trợ khoa học công ở nhiều nước trong nhiều thập niên. Tuy nhiên, nó không giải thích được vì sao cùng một mức đầu tư cho nghiên cứu lại cho kết quả kinh tế rất khác nhau giữa các nền kinh tế.
Từ thực tiễn các nền kinh tế, trong đó đặc biệt là các nền kinh tế thoát bẫy thu nhập trung bình thành công, các nhà nghiên cứu thấy rằng quan hệ ba nhà thành công không phải là quan hệ tuyến tính. Trong lý thuyết hệ thống đổi mới quốc gia đã chỉ ra rằng, đổi mới không phải kết quả của một chuỗi tuyến tính mà của quá trình học hỏi tương tác giữa doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu, cơ sở đào tạo, định chế tài chính và cơ quan nhà nước, trong một khuôn khổ thể chế nhất định (Freeman, 1987; Lundvall, 1992; Nelson, 1993). Theo cách tiếp cận này, năng lực đổi mới của một quốc gia phụ thuộc vào mật độ và chất lượng các mối liên kết trong hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Hai quốc gia có số lượng viện nghiên cứu và mức chi nghiên cứu tương đương có thể có kết quả rất khác nhau tùy vào mức độ các chủ thể liên kết và tương tác với nhau.
Mô hình ba vòng xoắn (triple helix) của Etzkowitz và Leydesdorff là một bước tiến lý luận về quan hệ giữa ba nhà trong hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khác với lý thuyết hệ thống đổi mới quốc gia vốn nhấn mạnh doanh nghiệp là chủ thể trung tâm, mô hình ba vòng xoắn cho rằng trong nền kinh tế tri thức, nhà trường, doanh nghiệp và nhà nước ngày càng chồng lấn chức năng của nhau (Etzkowitz & Leydesdorff, 2000). Nhà trường không chỉ đào tạo và nghiên cứu mà còn kinh doanh tri thức thông qua chuyển giao công nghệ, thành lập doanh nghiệp phái sinh và nghiên cứu theo đặt hàng. Doanh nghiệp không chỉ sản xuất mà còn tham gia đào tạo và nghiên cứu. Nhà nước vừa điều tiết vừa đóng vai trò nhà đầu tư mạo hiểm công. Chính ở vùng chồng lấn ấy hình thành các tổ chức lai như vườn ươm, văn phòng chuyển giao công nghệ, viện nghiên cứu công nghiệp và quỹ đầu tư công - tư. Đó là những thiết chế giữ cho mô hình liên kết vận hành. Mô hình liên kết ba nhà theo lý thuyết ba vòng xoắn thể hiện rằng liên kết là quan hệ có tính thiết chế, được lặp lại và có cơ chế chia sẻ rủi ro, chia sẻ lợi ích giữa các bên. Điều đó khác với quan hệ hợp tác đơn lẻ giữa hai chủ thể cho một nhiệm vụ cụ thể. Một hệ sinh thái có thể có rất nhiều hợp tác nhưng vẫn thiếu liên kết, nếu các giao dịch ấy không được tổ chức thành thiết chế và không làm thay đổi cấu trúc lợi ích của các bên.
Carayannis và Campbell sau đó đã mở rộng mô hình ba vòng xoắn thành mô hình bốn vòng xoắn (quadruple helix) với sự tham gia của xã hội và công chúng với tư cách người sử dụng và đồng sáng tạo. Lý thuyết ba vòng xoắn và bốn vòng xoắn là cơ sở lý luận của các mô hình liên kết bốn nhà, năm nhà được sử dụng phổ biến ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới (Carayannis & Campbell, 2009).
Cơ sở khoa học của mô hình liên kết ba nhà
Mô hình liên kết nhà nước, nhà trường/viện và doanh nghiệp không hình thành ngẫu nhiên mà dựa trên cơ sở khoa học, giải quyết các thất bại và rào cản để quá trình sáng tạo tri thức và chuyển hóa thành giá trị vận hành hiệu quả. Cụ thể, mô hình liên kết dựa trên bốn nền tảng lý thuyết quan trọng sau đây:
Thứ nhất, giải quyết thất bại thị trường trong sản xuất tri thức. Arrow chỉ ra rằng tri thức có tính không cạnh tranh và khó loại trừ (tính chất của hàng hóa công cộng), nên doanh nghiệp không thể chiếm hữu toàn bộ lợi ích từ nghiên cứu của mình và sẽ đầu tư cho nghiên cứu ở mức thấp hơn mức tối ưu xã hội (Arrow, 1962). Romer phát triển luận điểm này thành lý thuyết tăng trưởng nội sinh, theo đó tri thức là nguồn gốc của tăng trưởng dài hạn và chính tính lan tỏa của tri thức đòi hỏi nhà nước phải tài trợ nghiên cứu cơ bản, bảo hộ sở hữu trí tuệ và chia sẻ rủi ro ở giai đoạn sớm (Romer, 1990). Đây là cơ sở khoa học đòi hỏi nhà nước tham gia vào liên kết ba nhà với tư cách chủ thể đầu tư, điều phối cung cấp hàng hóa công cộng và chấp nhận rủi ro, chứ không chỉ là cơ quan quản lý.
Thứ hai, lý luận về năng lực hấp thụ. Cohen và Levinthal chứng minh rằng khả năng nhận biết giá trị của tri thức bên ngoài, tiếp thu và ứng dụng nó phụ thuộc vào tích lũy tri thức sẵn có của tổ chức, mà tích lũy này được hình thành chủ yếu qua hoạt động nghiên cứu nội bộ (Cohen & Levinthal, 1990). Hàm ý đối với liên kết ba nhà rất trực tiếp: doanh nghiệp không có hoạt động nghiên cứu tối thiểu thì không thể đặt hàng viện, trường một cách có ý nghĩa, không thể tiếp nhận kết quả nghiên cứu và không thể hấp thụ công nghệ từ doanh nghiệp nước ngoài. Liên kết vì vậy không thay thế được năng lực nghiên cứu của doanh nghiệp mà đòi hỏi năng lực đó như một điều kiện tiên quyết.
Thứ ba, lý thuyết về thất bại phối hợp và chi phí giao dịch. Rodrik chỉ ra rằng trong quá trình phát triển, nhiều hoạt động có lợi chỉ được thực hiện khi nhiều chủ thể cùng đầu tư đồng thời, nhưng không chủ thể nào muốn đi trước; chính sách công nghiệp hiện đại vì vậy là quá trình phát hiện và tháo gỡ các thất bại phối hợp ấy thông qua đối thoại có tổ chức giữa nhà nước và khu vực tư nhân (Rodrik, 2004). Kinh tế học chi phí giao dịch (Williamson, 1985) bổ sung rằng quan hệ giữa viện, trường và doanh nghiệp chịu chi phí tìm kiếm đối tác, định giá tri thức, soạn thảo và thực thi hợp đồng rất cao, do tri thức là tài sản khó định giá và kết quả nghiên cứu là bất định. Khi chi phí giao dịch vượt quá lợi ích kỳ vọng, các bên sẽ chọn tự làm hoặc không làm thay vì liên kết với nhau. Đây là căn cứ của luận điểm rằng liên kết các bên cần những thiết chế trung gian chuyên nghiệp để giảm chi phí giao dịch, chứ không thể trông đợi từng doanh nghiệp nhỏ và từng nhóm nghiên cứu tự tìm đến nhau.
Thứ tư, lý thuyết nhà nước kiến tạo phát triển. Johnson qua nghiên cứu Nhật Bản và Evans qua so sánh các nước đang phát triển đã chỉ ra rằng nhà nước thành công trong thúc đẩy công nghiệp hóa là nhà nước vừa đủ tự chủ để hoạch định chiến lược dài hạn, vừa gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp để nắm được thông tin và điều chỉnh chính sách (Johnson, 1982; Evans,1995). Mazzucato (2020) đi xa hơn khi chứng minh rằng ở nhiều đột phá công nghệ, nhà nước là chủ thể duy nhất sẵn sàng đầu tư ở giai đoạn bất định cao nhất, tạo nền tảng cho khu vực tư nhân thương mại hóa về sau. Nhưng các tác giả này cũng nhấn mạnh rằng vai trò ấy chỉ phát huy khi hỗ trợ của nhà nước đi kèm kỷ luật kết quả và cơ chế rút lui, nếu không nó sẽ biến thành bảo hộ kéo dài của nhà nước.
Tổng hợp bốn lý thuyết trên, có thể xác lập bốn điều kiện để mô hình liên kết ba nhà vận hành hiệu quả. Một là, cơ chế lợi ích rõ ràng cho từng bên, trước hết là quyền sở hữu và quyền hưởng lợi từ kết quả nghiên cứu. Hai là, cơ chế chia sẻ rủi ro, trong đó nhà nước chấp nhận rủi ro giai đoạn sớm nhưng có kỷ luật kết quả. Ba là, có thiết chế trung gian đủ năng lực để giảm chi phí giao dịch và tổ chức thương mại hóa. Bốn là, năng lực hấp thụ tối thiểu ở phía doanh nghiệp. Bốn điều kiện này được dùng làm khung để đối chiếu kinh nghiệm quốc tế và rút ra bài học cho Việt Nam.
2.2 Kinh nghiệm quốc tế về mô hình liên kết nhà nước, nhà trường/viện nghiên cứu và doanh nghiệp
Mô hình liên kết giữa nhà nước, nhà trường/viện nghiên cứu và doanh nghiệp phổ biến ở nhiều nền kinh tế trên thế giới. Trong số đó, Hàn Quốc, Israel, Mỹ và Trung Quốc có những bài học thảnh công rất đáng tham khảo.
Hàn Quốc là trường hợp tiêu biểu của con đường xây dựng năng lực công nghệ nội sinh thông qua hệ thống viện nghiên cứu công lập làm hạt nhân. Kim (1997) phân tích quá trình học hỏi công nghệ của Hàn Quốc qua ba giai đoạn kế tiếp là bắt chước sao chép, bắt chước sáng tạo và đổi mới sáng tạo. Ở giai đoạn đầu, Hàn Quốc thành lập Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc năm 1966 để tiếp nhận công nghệ nước ngoài và cung cấp cho doanh nghiệp. Sau đó, họ xây dựng hệ thống viện nghiên cứu chuyên ngành, và tới giai đoạn thứ ba thì các tập đoàn lớn tự thực hiện nghiên cứu ở quy mô lớn. Điểm then chốt mà Kim (1997) rút ra là mỗi bước chuyển đòi hỏi năng lực hấp thụ cao hơn, và năng lực ấy chỉ được xây dựng thông qua chính hoạt động nghiên cứu nội bộ của doanh nghiệp. Amsden (1989) bổ sung nguyên tắc kỷ luật đổi lấy hỗ trợ: Nhà nước hỗ trợ mạnh cho doanh nghiệp bằng tín dụng ưu đãi và bảo hộ thị trường, nhưng luôn gắn với chỉ tiêu kết quả đo lường được, chủ yếu là xuất khẩu, và cắt hỗ trợ khi không đạt. Wade gọi đó là quản trị thị trường chứ không thay thế thị trường (Wade, 1990).
Israel cho thấy cách nhà nước dùng vốn mồi để tạo ra một thị trường vốn chấp nhận rủi ro gắn với đại học và doanh nghiệp khởi nghiệp. Trước thập niên 1990, Israel có nhiều nhà khoa học và kỹ sư giỏi nhưng thiếu hoàn toàn vốn mạo hiểm. Chương trình Yozma năm 1993 lập ra một quỹ nhà nước để đồng đầu tư cùng các quỹ mạo hiểm tư nhân, chủ yếu là quỹ nước ngoài có kinh nghiệm, theo cơ chế chia sẻ rủi ro bất đối xứng, trong đó đối tác tư nhân được quyền mua lại phần vốn nhà nước với giá ưu đãi nếu thành công. Sau khi hệ thống đầu tư mạo hiểm hình thành, nhà nước rút dần khỏi vai trò đầu tư trực tiếp (Avnimelech & Teubal, 2006). Bên cạnh đó, Israel duy trì các chương trình tài trợ nghiên cứu và phát triển cho doanh nghiệp theo hình thức chia sẻ chi phí và hoàn trả có điều kiện, tức doanh nghiệp chỉ hoàn trả theo tỷ lệ doanh thu khi dự án thành công về thương mại (Breznitz, 2007). Đây là mô hình can thiệp có thời hạn và có cơ chế rút lui rõ ràng.
Mỹ cũng có những bài học hữu ích về cơ chế lợi ích. Đạo luật Bayh-Dole năm 1980 cho phép các trường đại học sở hữu sáng chế hình thành từ nghiên cứu được tài trợ bằng ngân sách liên bang, kèm nghĩa vụ thương mại hóa và chia sẻ lợi ích với nhà sáng chế, cùng với sự ra đời của hệ thống văn phòng chuyển giao công nghệ. Cơ chế này đã làm tăng mạnh số bằng sáng chế và hợp đồng chuyển giao của các đại học Mỹ, dù tác động thực tế còn đang được tranh luận (Mowery và cộng sự, 2004). Mazzucato cũng chỉ ra rằng Chính phủ Mỹ, thông qua các cơ quan tài trợ nghiên cứu và chương trình tài trợ cho doanh nghiệp nhỏ, là nhà đầu tư sớm nhất vào nhiều công nghệ nền tảng của kinh tế số (Mazzucato, 2020).
Trung Quốc, trong giai đoạn từ sau năm 2012, triển khai mô hình Nhà nước và doanh nghiệp cùng đầu tư, cùng giải quyết các bài toán công nghệ chiến lược: Nhà nước xác định danh mục ưu tiên, huy động nguồn lực qua các quỹ dẫn dắt của chính quyền trung ương và địa phương, đặt hàng nghiên cứu và tạo thị trường ban đầu bằng mua sắm công, trong khi doanh nghiệp là chủ thể thực hiện và thương mại hóa; mô hình này được xem là động lực giúp Trung Quốc tiến nhanh trong các ngành xe điện, pin, năng lượng mặt trời và bán dẫn (Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, 2026). Bảng 1 tóm tắt các trường hợp theo ba thành tố của mô hình liên kết.
Bảng 1. Thiết chế và cơ chế liên kết ba nhà ở một số nền kinh tế thành công
| Nền kinh tế | Thiết chế trung gian chủ yếu | Cơ chế tài chính chia sẻ rủi ro | Cơ chế lợi ích và kỷ luật |
| Hàn Quốc | Hệ thống viện nghiên cứu quốc gia (KIST từ 1966) làm hạt nhân; chuyển dần R&D sang doanh nghiệp | Tín dụng ưu đãi, bảo hộ có điều kiện cho tập đoàn | “Kỷ luật đổi lấy hỗ trợ”: cắt hỗ trợ nếu không đạt chỉ tiêu xuất khẩu |
| Israel | Cơ quan chuyên trách đổi mới sáng tạo; mạng lưới quân đội - đại học - doanh nghiệp | Yozma (1993): Nhà nước đồng đầu tư với quỹ mạo hiểm tư nhân, chia sẻ rủi ro bất đối xứng, có cơ chế rút lui; tài trợ R&D hoàn trả có điều kiện | Doanh nghiệp chỉ hoàn trả khi thương mại hóa thành công |
| Hoa Kỳ | Văn phòng chuyển giao công nghệ tại đại học | Tài trợ R&D cho doanh nghiệp nhỏ (SBIR/STTR); Nhà nước đầu tư sớm vào công nghệ đột phá | Đạo luật Bayh-Dole (1980): đại học được sở hữu kết quả nghiên cứu từ ngân sách liên bang |
| Trung Quốc | Viện nghiên cứu, đại học gắn với doanh nghiệp đầu đàn trong công nghệ chiến lược | Quỹ dẫn dắt của chính quyền; đồng đầu tư - đồng kiến tạo Nhà nước - doanh nghiệp | Đặt hàng, mua sắm công tạo thị trường ban đầu; cạnh tranh giữa các địa phương |
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp (Amsden, 1989; Kim, 1997; Avnimelech & Teubal, 2006; Mowery & cộng sự, 2004; Mazzucato, 2020; Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, 2026).
2.3 Một số kinh nghiệm
Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với mục tiêu xác lập mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Trong đó, việc xác lập hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trên cơ sở phát triển và vận hành hiệu quả mô hình liên kết Nhà nước, nhà trường/viện nghiên cứu và doanh nghiệp có vai trò quyết định. Vì thế, đây là thời điểm cần thiết nghiên cứu lý luận và các kinh nghiệm thành công để vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam.
Chủ trương lấy doanh nghiệp làm trung tâm, viện nghiên cứu và trường đại học là chủ thể nghiên cứu mạnh đã được xác lập tại Nghị quyết số 57-NQ/TW (Bộ Chính trị, 2024); Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Nghị định số 264/2025/NĐ-CP về Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia đã tạo khung pháp lý cho nhiều cơ chế mà các quốc gia đi trước đã sử dụng (Quốc hội, 2025; Chính phủ, 2025). Hệ sinh thái cũng đã hình thành tương đối đầy đủ các mắt xích với 423 tổ chức nghiên cứu và phát triển, khoảng 4.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, 208 quỹ đầu tư, 84 vườn ươm và 20 trung tâm khởi nghiệp sáng tạo (Hà Huy Ngọc, 2026). Tuy nhiên, kinh phí từ doanh nghiệp mới chiếm 0,79% tổng chi của hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ công lập, và trong 32.409 nhà nghiên cứu tại doanh nghiệp chỉ có 333 người có trình độ tiến sĩ (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2024a, 2024b), cho thấy các mắt xích ấy chưa thực sự kết nối với nhau. Từ phân tích kinh nghiệm của các nền kinh tế thành công ở trên, kết hợp với bốn điều kiện đã xác lập về lý luận và bối cảnh mới trong nước và thế giới, có thể rút ra năm bài học tham khảo sau đây:
Một là, mô liên kết chỉ vận hành thường xuyên khi có thiết chế trung gian chuyên nghiệp. KIST của Hàn Quốc, văn phòng chuyển giao công nghệ của đại học Hoa Kỳ đều là những tổ chức được lập ra để làm việc mà từng doanh nghiệp và từng nhóm nghiên cứu không tự làm được. Điều kiện để các tổ chức này không trở thành cơ quan hành chính là kinh phí của chúng gắn với kết quả phục vụ doanh nghiệp. Đối với Việt Nam, nơi gần 94% doanh nghiệp thuộc nhóm nhỏ và siêu nhỏ, mô hình tổ chức nghiên cứu công lập làm trung gian tiếp nhận, hấp thụ và chuyển giao công nghệ cho cả ngành là lựa chọn phù hợp hơn mô hình dựa vào một số tập đoàn lớn; điều này gợi mở hướng đổi mới hệ thống viện nghiên cứu công lập hiện nay từ chỗ chủ yếu thực hiện đề tài sang chỗ đảm nhận chức năng cầu nối công nghệ.
Hai là, quyền sở hữu và cơ chế chia sẻ lợi ích từ kết quả nghiên cứu phải rõ ràng. Kinh nghiệm từ Đạo luật Bayh-Dole của Mỹ cho thấy chỉ khi nhà trường và nhà khoa học được sở hữu và hưởng lợi từ kết quả nghiên cứu thì họ mới có động lực thương mại hóa. Ngược lại, kết quả nghiên cứu thuộc sở hữu nhà nước nhưng không ai có trách nhiệm khai thác sẽ nằm im trong tủ hồ sơ. Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 đã quy định giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách cho tổ chức chủ trì. Kinh nghiệm từ Mỹ là quy định ấy chỉ phát huy khi đi kèm nghĩa vụ thương mại hóa trong thời hạn nhất định, tỷ lệ phân chia lợi ích cụ thể cho nhà khoa học và một bộ phận chuyên trách về sở hữu trí tuệ và chuyển giao tại từng cơ sở nghiên cứu.
Ba là, Nhà nước chia sẻ rủi ro ở giai đoạn sớm nhưng phải có kỷ luật kết quả và cơ chế rút lui. Mô hình Yozma của Israel giảm dần sở hữu nhà nước trong doanh nghiệp tách ra từ viện là những can thiệp có thời hạn của Nhà nước. Nguyên tắc kỷ luật đổi lấy hỗ trợ của Hàn Quốc ngăn doanh nghiệp sống dựa vào hỗ trợ. Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia theo Nghị định số 264/2025/NĐ-CP đã được thiết kế theo nguyên lý vốn mồi tương tự mô hình Yozma. Điều quyết định là trong vận hành, hiệu quả của quỹ phải được đánh giá theo toàn danh mục và theo chu kỳ quỹ thay vì theo từng khoản đầu tư. Nhà nước không tham gia lựa chọn dự án mà để các đối tác tư nhân và quỹ chỉ tập trung vào giai đoạn sớm mà thị trường còn bỏ ngỏ.
Bốn là, doanh nghiệp phải có năng lực nghiên cứu tối thiểu. Phân tích của Kim (1997) cho thấy, Hàn Quốc không chờ có năng lực mạnh mới nghiên cứu, mà đầu tư nghiên cứu ngay từ giai đoạn tiếp nhận công nghệ, dù ở quy mô nhỏ, để xây dựng năng lực hấp thụ. Số liệu điều tra ở Việt Nam cũng xác nhận luận điểm này: trong số doanh nghiệp có bộ phận nghiên cứu và phát triển, 74,4% có hoạt động đổi mới sáng tạo so với 30,2% ở nhóm không có bộ phận này (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Do đó, chính sách liên kết cần đi kèm các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp hình thành bộ phận nghiên cứu và tuyển dụng nhân lực nghiên cứu trình độ cao, thay vì chỉ khuyến khích ký kết hợp tác.
Năm là, cơ chế tài trợ cho viện, trường phải gắn với thị trường. Khi viện nghiên cứu công lập được bảo đảm kinh phí theo biên chế bất kể có phục vụ doanh nghiệp hay không, liên kết sẽ không hình thành dù chủ trương có rõ đến đâu. Các mô hình thành công đều buộc viện, trường phải tìm một phần đáng kể kinh phí từ hợp đồng với doanh nghiệp. Đối với Việt Nam, điều này hàm ý cần đổi mới phương thức cấp kinh phí và tiêu chí đánh giá viện, trường theo giá trị hợp đồng chuyển giao và kết quả thương mại hóa, bên cạnh các tiêu chí về công bố khoa học.
Cần lưu ý rằng việc vận dụng kinh nghiệm quốc tế có những giới hạn. Không gian chính sách công nghiệp hiện nay hẹp hơn nhiều so với thời kỳ Hàn Quốc công nghiệp hóa, do các cam kết trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới không cho phép trợ cấp xuất khẩu trực tiếp hay yêu cầu bắt buộc về tỷ lệ nội địa hóa. Vì vậy, các công cụ phù hợp hơn với Việt Nam là những công cụ như tổ chức trung gian công nghệ, hạ tầng nghiên cứu dùng chung, đào tạo nhân lực và cơ chế chia sẻ rủi ro, vốn ít gây tranh cãi về cam kết quốc tế. Đồng thời, cấu trúc doanh nghiệp chủ yếu nhỏ và siêu nhỏ của Việt Nam đòi hỏi phân nhóm phương thức liên kết theo quy mô doanh nghiệp và loại nhiệm vụ, thay vì dùng chung một công cụ cho mọi đối tượng.
3. Kết luận
Lý luận hiện đại về hệ thống đổi mới và mô hình ba vòng xoắn, cùng với kinh nghiệm của các nền kinh tế đã vượt bẫy thu nhập trung bình, đều hội tụ ở một kết luận: liên kết nhà nước - nhà trường/viện - doanh nghiệp chỉ vận hành khi có thiết chế trung gian chuyên nghiệp, cơ chế lợi ích rõ ràng, cơ chế chia sẻ rủi ro có kỷ luật và năng lực hấp thụ tối thiểu ở phía doanh nghiệp. Hàn Quốc, Israel, Mỹ và Trung Quốc đi những con đường khác nhau nhưng đều xây dựng được bốn điều kiện ấy dưới những hình thức phù hợp với cấu trúc kinh tế của mình. Đối với Việt Nam, khi khung chủ trương và pháp lý cho liên kết ba nhà đã tương đối đầy đủ, vấn đề không còn là ban hành thêm cơ chế mà là đưa các cơ chế đã có vào vận hành theo đúng những nguyên lý mà kinh nghiệm quốc tế đã kiểm chứng: tài trợ thiết chế trung gian theo kết quả phục vụ doanh nghiệp, gắn quyền sở hữu kết quả nghiên cứu với nghĩa vụ và lợi ích thương mại hóa, chia sẻ rủi ro có thời hạn và có kỷ luật, và xây dựng năng lực nghiên cứu tối thiểu tại doanh nghiệp.
_________________
Ngày nhận bài: 09/10/2026; Ngày bình duyệt: 14/10/2026; Ngày quyết định đăng:
Email tác giả: toankyoto@gmail.com
Tài liệu tham khảo
Amsden, A. H. (1989). Asia’s next giant: South Korea and late industrialization. Oxford University Press.
Arrow, K. J. (1962). Economic welfare and the allocation of resources for invention. In R. R. Nelson (Ed.), The rate and direction of inventive activity: Economic and social factors (pp. 609-626). Princeton University Press.
Avnimelech, G., & Teubal, M. (2006). Creating venture capital industries that co-evolve with high tech: Insights from an extended industry life cycle perspective of the Israeli experience. Research Policy, 35(10), 1477-1498.
Ban Chính sách, chiến lược Trung ương (2026). Đề án về Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2024a). Kết quả cuộc điều tra Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ năm 2024. https://vista.gov.vn/vn-uploads/thong-ke-kh-cn/2026_03/so-lieu-ncpt_2024_web.pdf
Bộ Khoa học và Công nghệ (2024b). Kết quả cuộc điều tra tiềm lực khoa học và công nghệ năm 2024. https://vista.gov.vn/vn-uploads/thong-ke-kh-cn/2026_03/ket-qua-tiem-luc-2024.pdf
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Kết quả cuộc điều tra đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp năm 2025. https://vista.gov.vn/vn-uploads/thong-ke-kh-cn/2026_03/ket-qua-dieu-tra-dmst-2025_web.pdf
Breznitz, D (2007). Innovation and the state: Political choice and strategies for growth in Israel, Taiwan, and Ireland. Yale University Press.
Carayannis, E. G., & Campbell, D. F. J. (2009). ‘Mode 3’ and ‘Quadruple Helix’: Toward a 21st century fractal innovation ecosystem. International Journal of Technology Management, 46(3/4), 201-234.
Chính phủ (2025). Nghị định số 264/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 Quy định về Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương.
Cohen, W. M., & Levinthal, D. A. (1990). Absorptive capacity: A new perspective on learning and innovation. Administrative Science Quarterly, 35(1), 128-152.
Etzkowitz, H., & Leydesdorff, L. (2000). The dynamics of innovation: From National Systems and ‘Mode 2’ to a Triple Helix of university-industry-government relations. Research Policy, 29(2), 109-123.
Evans, P. (1995). Embedded autonomy: States and industrial transformation. Princeton University Press.
Freeman, C. (1987). Technology policy and economic performance: Lessons from Japan. Pinter.
Hà Huy Ngọc (26/5/2026). Mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hội thảo khoa học quốc gia Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Johnson, C. (1982). MITI and the Japanese miracle: The growth of industrial policy, 1925-1975. Stanford University Press.
Kim, L. (1997). Imitation to innovation: The dynamics of Korea’s technological learning. Harvard Business School Press.
Lundvall, B.-Å. (Ed.). (1992). National systems of innovation: Towards a theory of innovation and interactive learning. Pinter.
Mazzucato, M. (2020). Nhà nước khởi tạo: Giải những huyền thoại về vai trò của Nhà nước và khu vực tư nhân. Nhà xuất bản Thế giới.
Mowery, D. C., Nelson, R. R., Sampat, B. N., & Ziedonis, A. A. (2004). Ivory tower and industrial innovation: University-industry technology transfer before and after the Bayh-Dole Act. Stanford University Press.
Nelson, R. R. (Ed.). (1993). National innovation systems: A comparative analysis. Oxford University Press.
Quốc hội (2025). Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Rodrik, D. (2004). Industrial policy for the twenty-first century (CEPR Discussion Paper No. 4767). Centre for Economic Policy Research.
Romer, P. M. (1990). Endogenous technological change. Journal of Political Economy, 98(5), S71-S102.
Wade, R. (1990). Governing the market: Economic theory and the role of government in East Asian industrialization. Princeton University Press.
Williamson, O. E. (1985). The economic institutions of capitalism: Firms, markets, relational contracting. Free Press.