Định vị Ấn Độ trong cuộc đua trí tuệ nhân tạo toàn cầu
Tóm tắt: Bài viết phân tích vị thế cường quốc về trí tuệ nhân tạo (AI) của Ấn Độ trong cuộc đua AI toàn cầu, làm rõ sự chuyển dịch trong tư duy chiến lược AI của chính phủ Ấn Độ từ sau khi ban hành Sứ mệnh AI Ấn Độ năm 2024. Chiến lược AI của Ấn Độ cho thấy vai trò dẫn dắt quan trọng của Nhà nước, tập trung vào hai trụ cột chính: Nâng cao năng lực AI nội sinh thông qua các sáng kiến và hỗ trợ của nhà nước về hạ tầng tính toán, hạ tầng dữ liệu, mô hình nền tảng, phát triển ứng dụng AI, nguồn nhân lực AI, doanh nghiệp AI và quản trị AI; Tự chủ chiến lược và cân bằng địa chính trị thông qua chính sách đối ngoại AI linh hoạt giữa các quốc gia. Trên cơ sở phân tích đó, bài viết đưa ra những đánh giá chung và một số giá trị tham khảo đối với Việt Nam.
ThS NGUYỄN THỊ HỒNG NGA
Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới

1. Mở đầu
Hiện nay, trong cuộc đua trí tuệ nhân tạo (AI), Ấn Độ đứng thứ 10 trên tổng số 83 quốc gia được xếp hạng trong bảng xếp hạng Chỉ số AI Toàn cầu của Tortoise. Ấn Độ có đội ngũ nhân tài AI đứng thứ hai thế giới và môi trường hoạt động đứng thứ ba, tuy nhiên lại hạn chế về hạ tầng phát triển AI (vị trí thứ 68) (Tortoise, 2024). Mặc dù không trong nhóm dẫn đầu, nhưng Ấn Độ vẫn được đánh giá là một trong những cường quốc AI mới nổi trong trật tự AI toàn cầu nhờ sở hữu những tiềm năng lớn.
Trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị AI như hiện nay, khả năng cân bằng giữa tự chủ công nghệ và hợp tác quốc tế có chọn lọc sẽ trở thành nhân tố quyết định vị thế của các quốc gia về AI toàn cầu trong tương lai. Nghiên cứu kinh nghiệm của Ấn Độ trong chiến lược định vị AI toàn cầu để thấy được những tiềm năng vượt trội và chiến lược phát triển AI của Ấn Độ, đồng thời nhận diện được các thách thức, rào cản nội tại có thể làm chậm quá trình nâng cao năng lực AI nội sinh và khả năng duy trì vị trí cân bằng trong trật tự AI toàn cầu. Trên cơ sở đó, rút ra một số giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong phát triển chiến lược AI quốc gia.
2. Nội dung
2.1. Chiến lược nâng cao năng lực AI nội sinh của Ấn Độ
Kể từ khi chiến lược AI đầu tiên của Ấn Độ - “Chiến lược Quốc gia về AI” được ban hành năm 2018 cho tới nay, Ấn Độ đã có những điều chỉnh quan trọng trong tư duy chiến lược về phát triển AI. Đặc biệt, Sứ mệnh AI Ấn Độ (India AI Mission) ra đời tháng 3/2024 đã đánh dấu bước chuyển dịch căn bản từ tư duy tiếp cận AI như một công cụ hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội sang tư duy phát triển AI như một cấu phần của năng lực cạnh tranh quốc gia và vị thế địa chính trị quốc tế. Sự chuyển dịch này được thể hiện rõ trong nỗ lực của Ấn Độ nhằm nâng cao năng lực nội sinh về AI và chính sách ngoại giao linh hoạt hướng tới mục tiêu tự chủ chiến lược, duy trì vị trí cân bằng trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị AI toàn cầu.
Với tầm nhìn “Sản xuất AI tại Ấn Độ và ứng dụng AI phục vụ Ấn Độ”, Sứ mệnh AI Ấn Độ đã xác định mục tiêu cốt lõi là phát triển một hệ sinh thái AI tự chủ và bao trùm, nâng cao năng lực AI quốc gia và hạn chế sự phụ thuộc vào hạ tầng, công nghệ và hệ sinh thái AI bên ngoài. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Sứ mệnh AI được thiết kế dựa trên bảy trụ cột bao gồm:
Hạ tầng tính toán. Hạ tầng tính toán là nền tảng cốt lõi trong chiến lược nâng cao năng lực AI nội sinh của Ấn Độ. Chính phủ Ấn Độ đã phê duyệt khoản ngân sách trị giá 103 tỷ INR (khoảng 1,2 tỷ USD) cho giai đoạn 5 năm nhằm xây dựng hạ tầng tính toán dùng chung phục vụ phát triển AI. Trọng tâm của chiến lược này là nâng cao khả năng tiếp cận hạ tầng tính toán quy mô lớn với chi phí thấp cho doanh nghiệp khởi nghiệp, viện nghiên cứu và các chủ thể đổi mới sáng tạo trong nước. Tính tới tháng 5/2026, quy mô hạ tầng phục vụ huấn luyện và triển khai mô hình AI tiên tiến đã mở rộng lên tới hơn 45.000 GPU (Ministry of Electronics & IT, 2026). Điều này góp phần giảm bớt rào cản gia nhập thị trường AI đối với doanh nghiệp, hạn chế tình trạng tập trung năng lực AI vào một số ít các tập đoàn công nghệ xuyên quốc gia, mở rộng không gian đổi mới sáng tạo trong nước và từng bước gia tăng mức độ tự chủ của Ấn Độ trong chuỗi giá trị AI toàn cầu.
Hạ tầng dữ liệu. Sáng kiến Nền tảng dữ liệu AI của Ấn Độ (AIKosh) được triển khai nhằm thiết lập một không gian dữ liệu mở dùng chung ở cấp quốc gia. Các công ty khởi nghiệp và nhà nghiên cứu được trao quyền truy cập không giới hạn vào kho dữ liệu này để phục vụ nghiên cứu, phát triển các ứng dụng AI tiên tiến. Sáng kiến hướng tới việc chuẩn hóa, tích hợp và khả năng liên thông giữa các nguồn dữ liệu, trong đó, Chính phủ Ấn Độ yêu cầu phải bảo đảm tính đa dạng, thống nhất, chất lượng và độ chuẩn xác của các bộ dữ liệu đầu vào. Tính tới tháng 5/2026, nền tảng AIKosh của Ấn Độ đã lưu trữ hơn 12.915 bộ dữ liệu, 307 mô hình AI và hơn 20 bộ công cụ, giúp các công ty khởi nghiệp và nhà nghiên cứu dễ dàng tiếp cận các nguồn tài nguyên phát triển AI (Ministry of Electronics & IT, 2026).
Mô hình nền tảng. Ấn Độ đẩy mạnh phát triển các mô hình và nền tảng ngôn ngữ bản địa, điển hình là BharatGen - mô hình ngôn ngữ lớn đầu tiên của Ấn Độ hỗ trợ 22 ngôn ngữ bản địa. Mô hình này góp phần tạo dựng hệ sinh thái AI thân thiện với người dùng, bảo đảm tính bao trùm số, công bằng tiếp cận, giảm rào cản ngôn ngữ trong quản trị công, giáo dục, y tế và thương mại số; đồng thời giúp Ấn Độ giảm sự phụ thuộc vào các mô hình toàn cầu thiên về tiếng Anh và một số ngôn ngữ phổ biến khác.
Phát triển ứng dụng AI ưu tiên các lĩnh vực then chốt là y tế, nông nghiệp, biến đổi khí hậu và quản lý thiên tai, quản trị và hỗ trợ nhóm khuyết tật học tập. Các giải pháp sẽ hướng tới cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ công, nâng cao năng suất nông nghiệp, hỗ trợ nhóm khuyết tật học tập và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu (Ministry of Electronics & IT, 2025a).
Nguồn nhân lực. Mặc dù sở hữu nguồn nhân lực công nghệ thông tin quy mô lớn, song Ấn Độ vẫn đang phải đối mặt với tình trạng thiếu lao động AI chất lượng cao (Suri, 2025). Nhằm giải quyết thách thức này, Sáng kiến Kỹ năng tương lai của Ấn Độ đã: i) Hỗ trợ đào tạo chuyên sâu về AI cho nhóm nhân tài AI tiềm năng; ii) Thành lập các phòng thí nghiệm về AI và khoa học dữ liệu; iii) Phát triển kỹ năng AI cho người lao động. Sau 26 tháng triển khai, 27 phòng thí nghiệm AI được thành lập, cùng với đó là 684 học bổng được trao và 8,4 triệu học viên đã được đào tạo về AI thông qua chương trình YUVA (Ministry of Electronics & IT, 2026).
Hỗ trợ startups và doanh nghiệp AI bản địa. Sáng kiến Tài chính cho các startup AI của Ấn Độ được thiết kế nhằm hỗ trợ tài chính cho các startup, thúc đẩy quá trình phát triển sản phẩm, thử nghiệm thị trường và thương mại hóa các giải pháp AI nhằm: i) Dân chủ hóa việc tiếp cận vốn cho các doanh nhân AI thông qua các cơ chế hỗ trợ tài chính phù hợp với từng giai đoạn vòng đời của các startups AI từ giai đoạn hạt giống ban đầu đến giai đoạn mở rộng quy mô; ii) Thúc đẩy quan hệ đối tác giữa các cơ quan chính phủ, các nhà đầu tư mạo hiểm và khu vực công nghiệp để tăng khả năng tiếp cận vốn; iii) Đảm bảo phân bổ nguồn lực công bằng cho các startups ở các thành phố cấp 2 và cấp 3, thúc đẩy tính bao trùm trong đổi mới AI; iv) Mở rộng cơ hội cho các startups Ấn Độ tham gia đáp ứng nhu cầu toàn cầu thông qua các biện pháp can thiệp và quan hệ đối tác chiến lược (IndiaAI, NA).
Xây dựng khung quản trị AI bảo đảm việc sử dụng và phát triển AI an toàn và đáng tin cậy. Sáng kiến AI an toàn và đáng tin cậy tập trung xây dựng công cụ, cơ chế đánh giá, khung pháp lý và các khung khổ quản trị nhằm hỗ trợ việc phát triển, triển khai và ứng dụng AI phù hợp với các nguyên tắc AI về an toàn, có trách nhiệm, đáng tin cậy và lấy con người làm trung tâm. Viện An toàn AI Ấn Độ được thành lập nhằm thúc đẩy quản trị AI dựa trên khoa học và điều kiện đặc thù của Ấn Độ, tiên phong tiếp cận đổi mới về an toàn AI và phát triển các phương pháp quản trị AI phù hợp với các nước đang phát triển. Đặc biệt, Ấn Độ cũng đã ban hành Hướng dẫn Quản trị AI với bảy nguyên tắc về AI được thiết lập bao gồm: đáng tin cậy; lấy con người là trung tâm; đổi mới thay vì kiểm soát; công bằng và bình đẳng; có trách nhiệm giải trình; dễ hiểu; an toàn, có sức chống chịu và bền vững. Hướng dẫn Quản trị AI của Ấn Độ đặt ra ưu tiên “đổi mới có trách nhiệm” – tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo đồng thời thiết lập các cơ chế kiểm soát rủi ro thay vì áp dụng mô hình quản lý mang tính hạn chế quá mức (Ministry of Electronics & IT, 2025b). Định hướng này phản ánh tư duy cân bằng của Ấn Độ, thúc đẩy đổi mới AI để tận dụng cơ hội phát triển, nhưng vẫn cần cơ chế giảm thiểu rủi ro về deepfake (sử dụng AI làm giả mạo hình ảnh, âm thanh, video), thiên lệch thuật toán, vi phạm quyền riêng tư, an ninh mạng…
2.2. Tự chủ chiến lược và cân bằng địa chính trị
Ấn Độ có thể được định vị như một quốc gia xoay trục trong trật tự AI toàn cầu thông qua chính sách đối ngoại AI linh hoạt và đa dạng hóa quan hệ đối tác nhằm duy trì năng lực tự chủ và vị trí cân bằng trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị AI. Ấn Độ chủ trương duy trì quan hệ với nhiều trung tâm quyền lực khác nhau nhằm tối đa hóa khả năng tiếp cận vốn, công nghệ, nguồn nhân lực và chuỗi cung ứng chiến lược, song vẫn độc lập về mặt chính sách phát triển AI.
Trong quan hệ với Mỹ và các quốc gia phương Tây, Ấn Độ mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ, vốn, nhân lực và hệ sinh thái đổi mới, qua đó nâng cao năng lực AI nội sinh. Với Mỹ, Ấn Độ trở thành đối tác với Mỹ trong Sáng kiến Công nghệ trọng yếu và mới nổi (iCET), sau này được phát triển thành Sáng kiến Chuyển đổi quan hệ bằng công nghệ chiến lược (TRUST); các chương trình hợp tác về bán dẫn; tham gia Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc phòng Mỹ - Ấn (INDUS-X) và Nhóm công tác về công nghệ của Bộ Tứ (Quad). Nội dung hợp tác với Mỹ xoay quanh phát triển hạ tầng AI (xây dựng hạ tầng, thu hút đầu tư và chia sẻ thị trường cho các hệ thống AI có nguồn gốc từ Mỹ tại Ấn Độ); bảo đảm chuỗi cung ứng đối với các khoáng sản chiến lược nhằm hạn chế sự phụ thuộc vào Trung Quốc; nghiên cứu AI, sản xuất chip, và thử nghiệm các giải pháp AI trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh (Chaudhuri, 2025).
Ngoài ra, Ấn Độ cũng ngày càng củng cố vị thế trong các mạng lưới công nghệ phương Tây. Điển hình là Hội đồng Thương mại và công nghệ EU - Ấn Độ, trong đó AI được xác định là lĩnh vực hợp tác ưu tiên, tập trung xây dựng các tiêu chuẩn chung về phát triển AI an toàn, đáng tin cậy, lấy con người làm trung tâm, bền vững và có trách nhiệm (European Commission, 2025). Cách tiếp cận này cho thấy Ấn Độ không đơn thuần chỉ tiếp nhận công nghệ hay vốn từ phương Tây mà còn chủ động tham gia vào quá trình xây dựng các chuẩn mực AI toàn cầu.
Trong quan hệ với Trung Quốc, Ấn Độ cạnh tranh gián tiếp thông qua nâng cao năng lực AI nội sinh. Ấn Độ cấm nhiều ứng dụng có nguồn gốc từ Trung Quốc như TikTok và WeChat hay loại trừ Huawei khỏi thử nghiệm 5G vì lý do an ninh dữ liệu (Malik, 2025). Mặc dù vậy, Ấn Độ vẫn duy trì hợp tác với Trung Quốc trong các cơ chế đa phương như BRICS hay Tổ chức Hợp tác Thượng Hải, trong đó có các nội dung liên quan tới quản trị AI toàn cầu và chủ quyền dữ liệu…
Trong quan hệ với các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ đẩy mạnh hợp tác nhằm đa dạng hóa nguồn cung. Với Nhật Bản, Sáng kiến AI Ấn Độ - Nhật Bản ban hành tháng 8/2025 đã mở rộng hợp tác từ nghiên cứu và phát triển sang đồng kiến tạo các giải pháp AI nhằm giải quyết những thách thức kinh tế - xã hội, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh và tự chủ trong lĩnh vực AI của hai nước. Các lĩnh vực hợp tác trọng tâm bao gồm: i) Phát triển nền tảng chia sẻ dữ liệu; ii) Thúc đẩy hợp tác về thể chế và quản trị AI, phối hợp trong Liên minh Toàn cầu về AI (GPAI); xây dựng và đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc quốc tế về AI; iii) Phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực AI; iv) Hỗ trợ phát triển hạ tầng (trung tâm dữ liệu, LLM, nền tảng chia sẻ dữ liệu...) (Ministry of Foreign Affairs Japan, 2026).
Với Hàn Quốc, Tầm nhìn chiến lược chung Ấn Độ - Hàn Quốc giai đoạn 2026-2030 đã khởi động Khung Kết nối số Ấn Độ - Hàn Quốc, tập trung vào AI, quản trị dữ liệu và doanh nghiệp số (Ministry of External Affairs - Government of India, 2026). Quan hệ hợp tác này mang tính bổ trợ cao khi kết nối thế mạnh về phần mềm và nguồn nhân lực công nghệ của Ấn Độ với năng lực về phần cứng, sản xuất công nghiệp và điện tử, viễn thông của Hàn Quốc; qua đó hình thành chuỗi giá trị AI có tính bổ sung và giảm phụ thuộc vào các hệ sinh thái công nghệ do Mỹ và Trung Quốc chi phối.
Trong quan hệ với các quốc gia Nam bán cầu, Ấn Độ hướng tới xây dựng hình ảnh quốc gia dẫn dắt mô hình AI vì phát triển, cung cấp các giải pháp AI có chi phí hợp lý, bền vững và tôn trọng chủ quyền số của các quốc gia. Khác với Mỹ và Trung Quốc đang cạnh tranh chủ yếu ở tầng công nghệ lõi, Ấn Độ tìm cách gia tăng ảnh hưởng thông qua phổ biến mô hình “Hạ tầng công cộng kỹ thuật số”, thúc đẩy hợp tác về dữ liệu, đào tạo nguồn nhân lực và chia sẻ các giải pháp AI phục vụ phát triển. Tính tới tháng 2/2026, Ấn Độ đã ký kết thỏa thuận hợp tác với 24 quốc gia về nền tảng công nghệ số India Stack và hạ tầng công cộng số, tập trung chia sẻ kiến thức kỹ thuật và hỗ trợ nhân rộng các nền tảng kỹ thuật số (Press Information Bureau, 2026). Với tư cách là chủ tịch GPAI, Ấn Độ cũng đã tích cực thúc đẩy các nguyên tắc AI có trách nhiệm, minh bạch, lấy con người làm trung tâm và tăng cường khả năng tiếp cận AI ở các nước đang phát triển. Việc đăng cai Hội nghị Tác động AI 2026 tiếp tục củng cố tham vọng dẫn đầu các quốc gia đang phát triển của Ấn Độ, trở thành cầu nối giữa các nền kinh tế phát triển và đang phát triển, cũng như chuyển đổi vai trò từ một quốc gia chủ yếu tiếp nhận các chuẩn mực quản trị sang quốc gia kiến tạo luật chơi, tham gia định hình các chuẩn mực AI toàn cầu.
2.3. Đánh giá chung và giá trị tham khảo đối với Việt Nam
Mặc dù sở hữu những tiềm năng vượt trội và chiến lược phát triển AI đầy tham vọng, Ấn Độ vẫn đang phải đối diện với nhiều rào cản nội tại có thể làm chậm quá trình nâng cao năng lực AI nội sinh và khả năng duy trì vị trí cân bằng trong trật tự AI toàn cầu.
Thứ nhất, khoảng cách về hạ tầng tính toán và dữ liệu. Mặc dù chính phủ Ấn Độ đã triển khai nhiều sáng kiến nhằm mở rộng hạ tầng tính toán và các nền tảng dữ liệu mở quốc gia, năng lực triển khai AI quy mô lớn vẫn bị hạn chế bởi sự thiếu hụt các trung tâm dữ liệu tiết kiệm năng lượng, cơ sở điện toán hiệu năng cao và hệ thống cung ứng điện ổn định, bền vững. Nguyên nhân bắt nguồn từ những thách thức dữ liệu chưa được giải quyết triệt để. Các sáng kiến đáng chú ý như AIKosh, Nền tảng Dữ liệu Chính phủ Mở, và Nền tảng Dữ liệu và Phân tích Quốc gia (NDAP) đã tạo nền tảng cho việc mở rộng khả năng tiếp cận dữ liệu; tuy nhiên các bộ dữ liệu chất lượng cao, được cập nhật và chuyên biệt theo từng lĩnh vực chưa được phân bổ đồng đều. Tình trạng phân mảnh dữ liệu, hạn chế về khả năng tương tác và tâm lý thận trọng khi chia sẻ dữ liệu giữa khu vực công và khu vực tư làm giảm khả năng phát triển các ứng dụng AI (Chakravarty, 2026).
Thứ hai, khoảng cách về nguồn nhân lực AI chất lượng cao. Mặc dù sở hữu lực lượng kỹ sư công nghệ thông tin đông đảo, Ấn Độ vẫn đang thiếu các nhà nghiên cứu AI trình độ cao, các chuyên gia phát triển mô hình nền tảng, nhà khoa học dữ liệu và đội ngũ kỹ sư có khả năng tham gia nghiên cứu và phát triển các công nghệ nền tảng của AI. Đồng thời, hiện tượng chảy máu chất xám sang các trung tâm AI lớn ở Mỹ và các nước phương Tây tiếp tục làm giảm năng lực tích lũy tri thức và đổi mới sáng tạo của Ấn Độ.
Thứ ba, phụ thuộc vào chuỗi cung ứng công nghệ bên ngoài. Năng lực AI của Ấn Độ vẫn phụ thuộc vào chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu, đặc biệt là nhiều linh kiện điện tử, thiết bị phần cứng và nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất điện tử và bán dẫn vẫn có mối liên kết chặt chẽ với chuỗi cung ứng. Do đó, mục tiêu xây dựng một hệ sinh thái AI hoàn toàn tự chủ sẽ khó có thể đạt được trong ngắn hạn. Việc đa dạng hóa chuỗi cung ứng sẽ đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn, thời gian và sự phối hợp với các đối tác quốc tế.
Thứ tư, thách thức trong cân bằng chiến lược giữa các cường quốc, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ - Trung Quốc ngày càng gay gắt. Sự liên kết ngày càng chặt chẽ với Mỹ và các đối tác phương Tây trong lĩnh vực AI và công nghệ chiến lược của Ấn Độ có thể làm gia tăng cạnh tranh với Trung Quốc trên cả phương diện kinh tế, công nghệ và an ninh, đồng thời thu hẹp dư địa cân bằng chiến lược mà Ấn Độ đang theo đuổi (Malik, 2025).
Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm của Ấn Độ, có thể rút ra một số gợi mở đối với Việt Nam như sau:
Một là, nâng cấp cơ chế triển khai các chương trình, đề án trong Chiến lược AI quốc gia
Kinh nghiệm của Ấn Độ cho thấy, hiệu quả của một chiến lược AI không chỉ phụ thuộc vào việc đưa ra định hướng chung mà quan trọng hơn là khả năng cụ thể hóa chiến lược thành các chương trình hành động với nguồn lực, đối tượng thụ hưởng, chỉ tiêu đầu ra, đầu mối triển khai và kết quả định lượng theo tiến độ được xác định rõ ràng. Đối với Việt Nam, “Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030” ban hành năm 2021 đã đề ra các mục tiêu và nhiệm vụ quan trọng về phát triển hạ tầng tính toán, trung tâm dữ liệu, doanh nghiệp AI, ứng dụng AI và nguồn nhân lực AI (Thủ tướng Chính phủ, 2021). Tuy nhiên, Việt Nam cần nâng cấp cơ chế thực thi của các chương trình, đề án này thông qua việc xác định rõ quy mô ngân sách, thời hạn thực thi, cơ quan chủ trì, các chỉ tiêu đánh giá kết quả đầu ra và yêu cầu báo cáo theo tiến độ đối với từng chương trình, đề án. Việc chuyển đổi từ định hướng sang các chương trình triển khai cụ thể với cơ chế thực thi và đo lường hiệu quả rõ ràng tạo cơ sở để đánh giá thực chất hiệu quả triển khai, tính hợp lý trong phân bổ nguồn lực, từ đó kịp thời điều chỉnh chính sách, đặc biệt trong bối cảnh công nghệ AI đang thay đổi nhanh chóng như hiện nay.
Hai là, nâng cao chất lượng quản trị dữ liệu và hạ tầng tính toán theo hướng phục vụ phát triển AI
Việt Nam cần thiết lập bộ tiêu chuẩn dữ liệu cho AI theo hướng chuẩn hóa bao gồm các yêu cầu về chất lượng, định dạng thống nhất, có khả năng truy xuất nguồn gốc, tần suất cập nhật, xây dựng quy trình làm sạch, ẩn danh hóa và phân quyền truy cập theo mức độ nhạy cảm. Bộ tiêu chuẩn dữ liệu cho AI trước mắt có thể áp dụng cho một số lĩnh vực ưu tiên như y tế, giáo dục, giao thông, tài nguyên môi trường và dịch vụ công. Đồng thời, để bảo đảm tính hiệu quả trong việc sử dụng các hạ tầng này, việc phát triển các trung tâm dữ liệu và hạ tầng tính toán AI cần gắn với phát triển năng lượng bền vững. Trên thực tế, vấn đề này đã được nhận diện trong các chính sách hiện hành của Việt Nam, trong đó Bộ Công thương đã được giao xây dựng phương án bảo đảm nguồn cung điện cho các trung tâm dữ liệu và hạ tầng tính toán hiệu năng cao. Tuy nhiên, Việt Nam không chỉ cần bảo đảm đủ nguồn cung điện mà còn cần xây dựng cơ chế quản trị năng lượng chuyên biệt, bền vững cho hạ tầng AI, cụ thể như thiết lập trung tâm dữ liệu xanh, quy hoạch vị trí trung tâm dữ liệu theo nguồn điện và lưới truyền tải, hình thành cơ chế giá điện phù hợp và hệ thống theo dõi công khai mức tiêu thụ năng lượng của hạ tầng AI.
Ba là, phát triển hệ sinh thái mô hình nền tảng tiếng Việt có chủ quyền.
Năng lực nội sinh về AI đã bắt đầu hình thành khi một số doanh nghiệp công nghệ trong nước như Viettel đã phát triển mô hình LLM tiếng Việt. Tuy nhiên, Nhà nước vẫn cần xây dựng cơ chế hỗ trợ và đánh giá hệ sinh thái mô hình tiếng Việt một cách bài bản, như đặt hàng, hỗ trợ hạ tầng tính toán, mở rộng quyền truy cập dữ liệu theo chuẩn an toàn và đạo đức, tài trợ cạnh tranh cho các mô hình tiếng Việt… Ngoài ra, Nhà nước cũng cần đưa ra các quy định, điều kiện đánh giá bắt buộc đối với các mô hình sử dụng trong khu vực công liên quan tới độ chính xác, an toàn, khả năng giải thích, kiểm soát dữ liệu và chi phí triển khai. Cách tiếp cận này giúp Việt Nam tránh phụ thuộc hoàn toàn vào các mô hình nước ngoài nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu về chuẩn dữ liệu và hiệu quả, tính khả thi khi triển khai trên thực tế.
Bốn là, thực thi chính sách đối ngoại AI chủ động, đa phương, linh hoạt và cân bằng
Trong quan hệ hợp tác đa phương, Việt Nam cần xây dựng ngoại giao AI một cách rõ nét hơn, không chỉ trong hợp tác song phương với Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc mà còn trong các khuôn khổ hợp tác khu vực như ASEAN, CPTPP, RCEP, hay hợp tác Nam - Nam. Trọng tâm của chính sách đối ngoại AI không phải là chọn bên trong cạnh tranh AI, mà là đa dạng hóa đối tác về chip, đám mây, dữ liệu, tiêu chuẩn, an toàn AI và đào tạo nguồn nhân lực AI chất lượng cao; đồng thời thúc đẩy vai trò của Việt Nam trong xây dựng chuẩn mực AI ở Đông Nam Á cũng như chủ động tham gia các diễn đàn thiết lập quy tắc, chuẩn mực AI toàn cầu.
3. Kết luận
Chiến lược AI của Ấn Độ kể từ năm 2024 cho thấy vai trò dẫn dắt mang tính chiến lược của chính phủ nước này cũng như những chuyển dịch then chốt trong tư duy phát triển AI - từ định hướng thúc đẩy ứng dụng AI sang xây dựng hệ sinh thái AI toàn diện như một cấu phần của năng lực cạnh tranh quốc gia và vị thế địa chính trị quốc tế. Kinh nghiệm của Ấn Độ cho thấy đối với các nền kinh tế mới nổi, xây dựng năng lực AI không chỉ là bài toán đầu tư công nghệ mà còn là quá trình kết hợp giữa phát triển năng lực AI nội sinh và triển khai chính sách đối ngoại linh hoạt của chính phủ. Đặc biệt, trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị AI như hiện nay, khả năng cân bằng giữa tự chủ công nghệ và hợp tác quốc tế có chọn lọc sẽ trở thành nhân tố quyết định vị thế của các quốc gia trong trật tự AI toàn cầu trong tương lai.
Ngày nhận bài: 17/7/2026; Ngày bình duyệt: 5/10/2026; Ngày quyết định đăng: 17/10/2026.
Email tác giả: nguyenhongnga1310@gmail.com
Tài liệu tham khảo
Chaudhuri, R. (2025). What is the India-United States TRUST Initiative?. Carnegie Endowment for International Peace.
European Commission (2025). Joint statement on the second meeting of the EU-India Trade and Technology Council.
https://ec.europa.eu/commission/presscorner/detail/en/statement_25_643
Malik, Q. (2025). US and China AI rivalry and its impact on India’s strategic position. Wah Academia Journal of Social Sciences, Volume 4, Issue 1, Jun 2025, pp. 1166-1181
Ministry of Electronics & IT (2025a). India’s AI Revolution: A Roadmap to Viksit Bharat. Press Release March 6 2025 https://www.pib.gov.in/PressReleasePage.aspx?PRID=2108810®=48&lang=2
Ministry of Electronics & IT (2025b). India AI Governance Guidelines: Enabling Safe and Trusted AI Innovation. https://static.pib.gov.in/WriteReadData/specificdocs/documents/2025/nov/doc2025115685601.pdf
Ministry of Electronics & IT (2026). Digital India Nears 11 Years, Driving India's Next Phase of Technology-Led Growth through Artificial Intelligence,
Ministry of External Affairs - Government of India (2026). Joint Strategic Vision for India-ROK Special Strategic Partnership. https://www.mea.gov.in/bilateral-documents?dtl/41066/Joint+Strategic+Vision+for+IndiaROK+Special+Strategic+Partnership
Ministry of Foreign Affairs Japan (2026). Japan – India AI Cooperation Initiative January 2026.
Press Information Bureau (2026). India’s Digital Public Infrastructure - Setting a global benchmark for population-scale DPI. https://www.pib.gov.in/PressReleasePage.aspx?PRID=2235812®=3&lang=2
Suri, A. (2025). The Missing Pieces in India’s AI Puzzle: Talent, Data, and R&D. Carnegie Endowment for International Peace February 24 2025.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030.
Tortoise (2024). The Global AI Index 2024. https://www.tortoisemedia.com/data/global-ai#rankings