Nghiên cứu lý luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, văn minh, phát triển

• 21/10/2026 15:48

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.8727
Tóm tắt: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, văn minh, phát triển là hệ thống quan điểm toàn diện, kết hợp nhuần nhuyễn giữa “đức trị” và “pháp trị”. Trong đó, sự phát triển kinh tế phải luôn song hành với sự ổn định xã hội và tiến bộ văn hóa. Bài viết phân tích, làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng xã hội văn minh, với các yếu tố trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, hài hòa và phát triển có quan hệ chặt chẽ, cấu thành một chỉnh thể thống nhất.

TS NGUYỄN TRUNG KIÊN
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội

media.baovanhoa.vn-zoom-1000-uploaded-dovandong-2026_06_13-_bh2_umpk.jpg
Bác Hồ với người dân quê hương xã Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An, năm 1957_Ảnh: Tư liệu

1. Mở đầu

Trong tiến trình vận động của lịch sử nhân loại, việc kiến tạo một mô hình xã hội lý tưởng luôn là đích đến của mọi học thuyết chính trị - xã hội. Đối với cách mạng Việt Nam, hệ thống quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chỉnh thể lý luận sâu sắc về giải phóng dân tộc, quản trị quốc gia và tổ chức đời sống xã hội. Tư tưởng của Người về xây dựng xã hội văn minh chính là sự kết tinh giữa các giá trị nhân văn truyền thống phương Đông với tinh hoa pháp quyền hiện đại.

Dưới lăng kính khoa học chính trị, đây là một hệ cấu trúc đa tầng, nơi “kỷ cương” và “trật tự” đóng vai trò là nền tảng pháp lý vững chắc, trong khi sự “hài hòa” và “văn minh” cấu thành nên bản chất đạo đức và văn hóa cốt lõi. Hồ Chí Minh đã khéo léo giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa tính nghiêm minh của pháp luật và sự tự giác của đạo đức cách mạng, từ đó tạo ra một môi trường “lành mạnh” - mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển toàn diện của con người. Việc nghiên cứu chủ đề này không chỉ có ý nghĩa làm sáng tỏ di sản tư tưởng của Người kim chỉ nam mang tính thời đại, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của công cuộc quản lý xã hội hiện đại và hội nhập quốc tế sâu rộng.

2. Nội dung

2.1. Xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trật tự và kỷ cương xã hội được đặt ở vị trí đặc biệt quan trọng, gắn liền với mục tiêu xây dựng xã hội ổn định, dân chủ và phát triển. Ngay từ đầu, Người đã thể hiện rõ quan điểm này trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Nhà nước mới. Trong thư gửi Tổng thống Truman, Người khẳng định: “Được sự ủng hộ của toàn dân, chúng tôi nhất định sẽ thực hiện thành công một chương trình dân chủ và xây dựng trật tự, kỷ cương xã hội” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.183-184). Qua đó cho thấy, trật tự và kỷ cương là nội dung cốt lõi, cần quan tâm đặc biệt trong quá trình xây dựng xã hội văn minh.

Tư tưởng này tiếp tục được thể hiện rõ trong hoạt động đối ngoại và xây dựng chính quyền. Trong điện văn gửi đại diện các nước tại Hội đồng Liên hợp quốc, Người nhấn mạnh: “Chính phủ lâm thời nước Việt Nam, được toàn dân ủng hộ, đã lập được nền trật tự trong nước, đã thiết lập được nền chính trị vững chắc và tổ chức cuộc Tổng tuyển cử trong toàn nước bầu người vào Quốc hội” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.179). Ở đây, trật tự xã hội không chỉ được hiểu là sự ổn định về an ninh mà còn là biểu hiện của một thể chế chính trị hợp pháp, vững chắc, được xây dựng trên nền tảng là nhân dân.

Cách tiếp cận của Hồ Chí Minh về trật tự, kỷ cương mang tính toàn diện, đặt trong mối quan hệ hữu cơ giữa Nhà nước, pháp luật, đạo đức và nhân dân. Một xã hội có kỷ cương phải được tổ chức trên nền tảng Nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân, nơi quyền lực được sử dụng để phục vụ nhân dân, bảo đảm công bằng và ổn định. Khi bộ máy nhà nước trong sạch, hiệu lực, đội ngũ cán bộ giữ vững phẩm chất liêm chính, thì kỷ cương xã hội không chỉ được duy trì bằng mệnh lệnh hành chính mà còn được củng cố bằng niềm tin và sự giúp đỡ của nhân dân. Điểm đặc sắc trong tư tưởng của Người là việc khẳng định vai trò trung tâm của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ trật tự xã hội. Người chỉ rõ: “Giữ gìn trật tự, trị an tốt thì dân mới an cư lạc nghiệp. Muốn giữ gìn trật tự, an ninh tốt, phải dựa vào nhân dân để ngăn ngừa bọn làm trái phép” (Hồ Chí Minh, 2011e, tr.522). Trật tự, kỷ cương vì thế không phải là sự áp đặt từ trên xuống, mà là kết quả của sự tham gia tích cực, tự giác của quần chúng nhân dân. Khi quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, khi người dân chủ động tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, thì kỷ cương được củng cố từ cơ sở, trở thành sức mạnh nội sinh của toàn xã hội.

Để xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, theo Hồ Chí Minh, pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Người luôn nhấn mạnh yêu cầu mọi tổ chức và cá nhân phải tuân thủ pháp luật, song đồng thời khẳng định pháp luật không thể tách rời nền tảng đạo đức. Kỷ cương xã hội chỉ thực sự bền vững khi việc chấp hành pháp luật trở thành ý thức tự giác, được hình thành từ trách nhiệm công dân và chuẩn mực đạo đức. Trong mối quan hệ đó, vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên có ý nghĩa quyết định. Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu cán bộ phải “nói đi đôi với làm”, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Nếu những người thực thi quyền lực không gương mẫu, vi phạm kỷ luật, xa rời chuẩn mực đạo đức, thì kỷ cương xã hội sẽ bị xói mòn, niềm tin của nhân dân bị suy giảm. Ngược lại, khi cán bộ thực sự mẫu mực, thì pháp luật mới có sức thuyết phục và kỷ cương mới trở thành chuẩn mực chung trong đời sống xã hội.

Như vậy, quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa pháp luật và đạo đức, giữa vai trò quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân, giữa tính nghiêm minh và tính nhân văn. Đây là nền tảng lý luận quan trọng, có giá trị định hướng sâu sắc đối với quá trình xây dựng xã hội ổn định, kỷ cương và phát triển ở nước ta hiện nay.

2.2. Xây dựng xã hội an toàn, lành mạnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Theo Hồ Chí Minh, xây dựng xã hội an toàn, lành mạnh được đặt trong chỉnh thể mục tiêu giải phóng con người và kiến thiết một xã hội tốt đẹp, nơi mỗi người dân được sống trong môi trường an toàn, đạo đức và nhân văn. Người tiếp cận vấn đề này từ góc độ bảo đảm an ninh, trật tự và gắn chặt với việc xây dựng nền tảng đạo đức xã hội, phát triển con người toàn diện.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về xã hội an toàn thể hiện rõ ở mục tiêu bảo đảm cuộc sống bình yên cho nhân dân. Người khẳng định: “Có giữ gìn trật tự trị an, nhân dân mới an cư lạc nghiệp, tăng gia sản xuất” (Hồ Chí Minh, 2011đ, tr.612). Như vậy, an toàn xã hội không chỉ là trạng thái không có tội phạm, mà còn là điều kiện để con người yên tâm lao động, sản xuất và phát triển. Đồng thời, chủ thể quan trọng nhất để giữ gìn trật tự là nhân dân. Người khẳng định: “Muốn giữ gìn trật tự, an ninh tốt, phải dựa vào nhân dân để ngăn ngừa bọn làm trái phép” (Hồ Chí Minh, 2011e, tr.522). Điểm đặc sắc nữa trong tư tưởng Hồ Chí Minh là việc gắn xây dựng xã hội an toàn với vai trò của nhân dân. Người nhấn mạnh: “Giữ gìn trật tự, an ninh trước hết là việc của công an, bộ đội, cảnh sát. Nhưng chính quyền ta là chính quyền dân chủ, bất kỳ việc to việc nhỏ đều phải dựa vào lực lượng của nhân dân để phụng sự lợi ích của nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.77). Điều này thể hiện rõ quan điểm an ninh nhân dân, trong đó mỗi người dân vừa là đối tượng được bảo vệ, vừa là chủ thể tham gia bảo vệ an ninh, trật tự. Khi toàn xã hội cùng tham gia, an toàn không còn là nhiệm vụ riêng của lực lượng chuyên trách, mà trở thành sức mạnh tổng hợp mang tính bền vững.

Quan điểm này được mở rộng khi Người xác định bản chất của an ninh, trật tự là phục vụ lợi ích của nhân dân. Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: xã hội an toàn là xã hội “nhân dân được sống yên ổn, no đủ”, không bị các thế lực tiêu cực, tội phạm làm xáo trộn đời sống. Rõ ràng, mục tiêu cao nhất của việc bảo đảm an ninh, an toàn xã hội chính là con người, là quyền được sống trong môi trường ổn định, không bị đe dọa.

Không dừng lại ở khía cạnh an ninh, tư tưởng Hồ Chí Minh còn đặt nền tảng cho việc xây dựng một xã hội lành mạnh về đạo đức và lối sống. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 03/9/1945), Người đã nêu rõ định hướng căn bản: “Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.7). Đây là vấn đề cấp bách thứ tư mà Người đề cập đến và rõ ràng đó không chỉ là một lời kêu gọi mang tính thời điểm, mà là sự xác lập một hệ giá trị cốt lõi cho đời sống xã hội của nước Việt Nam mới.

Từ thời điểm đó, bốn chữ “cần, kiệm, liêm, chính” xuất hiện trong rất nhiều tác phẩm, bài nói, bài viết, bức thư của Người, như: Lời khuyên anh em viên chức (ngày 17/01/1946); Thư gửi Phụ nữ Việt Nam nhân dịp Xuân Bính Tuất (năm 1946); Thư gửi kiều bào Việt Nam ở Pháp (ngày 12/9/1946); Lời kêu gọi đồng bào toàn quốc nhân dịp Kỷ niệm lần thứ hai ngày Quốc khánh nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa; Bức thư Tư cách người Công an cách mệnh… Đến Di chúc, Người nhắn nhủ Đảng phải “thật sự cần kiệm liêm chính” (Hồ Chí Minh, 2011g, tr.611-612). Điều đó cho thấy một tư tưởng nhất quán của Hồ Chí Minh: kiến thiết một xã hội lành mạnh bắt đầu từ việc xây dựng con người có đạo đức, có lối sống chuẩn mực.

Trong quan điểm của Hồ Chí Minh, đạo đức không chỉ là phẩm chất cá nhân mà còn là nền tảng của toàn bộ đời sống xã hội. Người coi đạo đức là “gốc”, từ đó đề cao các giá trị như cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đồng thời kiên quyết phê phán chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng. Một xã hội lành mạnh, theo Người, phải là xã hội mà các giá trị đạo đức được tôn vinh, cái thiện được khẳng định, cái ác bị đẩy lùi và các chuẩn mực ứng xử được củng cố bền vững trong đời sống hằng ngày. Đặc biệt, tư tưởng nhân văn sâu sắc của Hồ Chí Minh còn thể hiện ở cách tiếp cận đối với những hiện tượng lệch chuẩn trong xã hội. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu, v.v., thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện” (Hồ Chí Minh, 2011g, tr.617). Quan điểm này cho thấy xây dựng xã hội lành mạnh không chỉ dừng ở việc ngăn chặn, xử lý cái xấu, mà còn hướng tới cải tạo con người, khơi dậy yếu tố thiện, giúp họ tái hòa nhập và trở thành lực lượng tích cực của xã hội.

2.3. Xây dựng xã hội hài hòa, phát triển theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng một xã hội văn minh, hài hòa, phát triển là mục tiêu xuyên suốt của sự nghiệp cách mạng, đồng thời là biểu hiện tập trung của bản chất tốt đẹp của chế độ mới. Người không tiếp cận từng yếu tố một cách rời rạc, mà đặt chúng trong một chỉnh thể thống nhất, nơi văn minh là trình độ phát triển của đời sống vật chất và tinh thần, hài hòa là trạng thái cân bằng trong các quan hệ xã hội, còn phát triển là kết quả tổng hợp của quá trình vận động toàn diện.

Xã hội văn minh, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, trước hết phải được xây dựng trên nền tảng một nền văn hóa tiên tiến, giàu bản sắc dân tộc. Văn minh không chỉ biểu hiện ở trình độ phát triển của kinh tế hay khoa học kỹ thuật, mà sâu xa hơn, được đo bằng trình độ tri thức, đạo đức và lối sống của con người. Chính vì vậy, Người khẳng định: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, qua đó nhấn mạnh vai trò định hướng, dẫn dắt của văn hóa đối với toàn bộ tiến trình phát triển xã hội.

Trong cách tiếp cận của Người, văn minh gắn chặt với sự trưởng thành về đạo đức xã hội. Khi các giá trị đạo đức được củng cố và lan tỏa, xã hội không chỉ phát triển về vật chất mà còn vững mạnh về tinh thần. Điều này được Người khái quát một cách sâu sắc: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.128). Từ đó có thể thấy, văn minh không phải là kết quả đơn thuần của tích lũy vật chất, cũng không đồng nhất với việc đề cao lối sống tiêu dùng, mà là sản phẩm của sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với xây dựng đạo đức và lối sống cần, kiệm.

Thực tiễn hoạt động và trải nghiệm phong phú của Hồ Chí Minh tại nhiều quốc gia đã giúp Người có cái nhìn so sánh sâu sắc. Người từng sống và làm việc ở những nước có trình độ phát triển cao, đồng thời cũng chứng kiến những mặt trái của xã hội tư bản, nơi lối sống thực dụng, đề cao tiêu dùng được xem như một biểu hiện của văn minh. Tuy nhiên, Người sớm nhận thấy những biểu hiện đó không phải là thước đo phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam, đặc biệt đối với một quốc gia đang trong quá trình phát triển. Chính vì vậy, quan điểm về văn minh trong tư tưởng của Người mang tính chọn lọc và định hướng rõ ràng, không sao chép mô hình bên ngoài, mà gắn với bản sắc văn hóa dân tộc. Văn minh phải được xây dựng trên nền tảng đạo đức, tiết kiệm, liêm chính, đồng thời gắn với nâng cao đời sống nhân dân một cách thiết thực, tránh rơi vào khuynh hướng chạy theo hình thức hoặc lệ thuộc vào những giá trị ngoại lai không phù hợp.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của quần chúng nhân dân trong việc kiến tạo văn minh. Văn minh không phải là đặc quyền của một bộ phận, mà phải được phổ biến trong toàn xã hội, trước hết là trong lực lượng lao động. Người chỉ rõ: “Làm cho công nhân và nông dân có văn hóa, chính là một nhiệm vụ cách mạng văn hóa của chúng ta. Lao động tạo ra của cải, tạo ra văn minh, tạo ra hạnh phúc cho loài người” (Hồ Chí Minh, 2011e, tr.213). Quan điểm này thể hiện rõ tính nhân dân và tính thực tiễn của văn minh, gắn văn minh với lao động, với sản xuất và với đời sống của đông đảo quần chúng. Đồng thời, Hồ Chí Minh đặt vai trò của Đảng trong mối quan hệ mật thiết với sự phát triển văn minh của xã hội. Người khẳng định: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” (Hồ Chí Minh, 2011f, tr.403), qua đó nhấn mạnh rằng bản thân tổ chức lãnh đạo phải tiêu biểu cho các giá trị văn minh, trở thành lực lượng dẫn dắt, định hướng và tổ chức xã hội phát triển theo những chuẩn mực tiến bộ.

Theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, một xã hội văn minh là xã hội trong đó con người có tri thức, có đạo đức, có lối sống tiến bộ, biết tôn trọng các giá trị nhân văn và chuẩn mực xã hội. Văn minh không chỉ tồn tại ở tầm vĩ mô, mà được hình thành từ chính đời sống hằng ngày của mỗi cá nhân. Vì vậy, Người đặc biệt nhấn mạnh việc xây dựng “đời sống mới” như một con đường hiện thực hóa xã hội văn minh. Khi mỗi người dân thực hành đời sống mới, từ cá nhân đến gia đình, cơ quan, đơn vị, nhà trường và toàn xã hội, thì như Người khẳng định: “tự nhiên nước Việt Nam ta trở nên một nước mới, một nước văn minh” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.118).

Xây dựng xã hội văn minh, tính hài hòa được Hồ Chí Minh coi là điều kiện bảo đảm cho sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội. Hài hòa trước hết thể hiện trong các quan hệ xã hội cơ bản, từ quan hệ giữa con người với con người đến quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa lợi ích riêng và lợi ích chung. Trong tư tưởng của Người, nền tảng của sự hài hòa ấy chính là tinh thần nhân ái, khoan dung và đoàn kết, vốn được hun đúc từ truyền thống dân tộc và được nâng lên thành giá trị có tính định hướng cho xã hội mới. Người khẳng định: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.186), qua đó nhấn mạnh chiều sâu nhân văn trong các quan hệ xã hội. Tính hài hòa không chỉ dừng lại ở sự gắn kết cộng đồng, mà còn thể hiện ở cách ứng xử đối với sự khác biệt và những yếu tố chưa hoàn thiện trong xã hội. Hồ Chí Minh đề cao quan điểm nhìn nhận con người một cách toàn diện, nhân văn: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi” (Hồ Chí Minh, 2011g, tr.672). Cách tiếp cận này thể hiện rõ tư duy hài hòa, không tuyệt đối hóa đối lập, mà hướng tới dung hòa, cảm hóa và phát triển con người. Đồng thời, Người cũng chỉ ra vai trò của giáo dục trong việc hình thành sự hài hòa đó: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới” (Hồ Chí Minh, 2011g, tr.672).

Ở bình diện rộng hơn, xây dựng xã hội hài hòa trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn thể hiện ở khả năng dung hợp các giá trị văn hóa, tôn giáo và các hệ tư tưởng khác nhau trên nền tảng lợi ích quốc gia, dân tộc. Thực tiễn lịch sử Việt Nam cho thấy, quá trình tiếp biến và kết hợp những yếu tố tích cực của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo cùng các tôn giáo khác đã góp phần hình thành một hệ giá trị cân bằng, trong đó con người hướng tới sự hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Chính sự dung hợp linh hoạt và có chọn lọc này đã tạo nên nền tảng văn hóa bền vững, giúp xã hội ổn định, giảm thiểu xung đột và nâng cao khả năng thích ứng trước những biến động của thời đại.

Trên cơ sở đó, ngay từ những ngày đầu của Nhà nước Việt Nam mới, Hồ Chí Minh đã nhất quán khẳng định nguyên tắc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và xây dựng khối đoàn kết toàn dân. Người tuyên bố rõ ràng, chủ trương “tự do tín ngưỡng, tôn giáo, lương giáo đoàn kết”, đồng thời chủ động kêu gọi, tổ chức và củng cố sự gắn bó giữa các cộng đồng tôn giáo, giữa đồng bào các dân tộc, đặc biệt quan tâm đến đồng bào miền núi và các dân tộc thiểu số. Những chủ trương đó không chỉ thể hiện tư duy chính trị nhất quán mà còn phản ánh sâu sắc quan điểm hài hòa trong tổ chức xã hội, lấy đoàn kết làm nền tảng, lấy tôn trọng khác biệt làm điều kiện để tạo lập sự thống nhất bền vững.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hài hòa không phải là trạng thái thụ động hay thỏa hiệp, mà là kết quả của sự kết hợp biện chứng giữa đoàn kết, khoan dung, giáo dục và điều hòa lợi ích. Đây chính là cơ sở để duy trì ổn định xã hội, hạn chế xung đột và tạo động lực cho phát triển bền vững trong điều kiện hiện nay. Tư tưởng của Người cũng thể hiện rõ ở yêu cầu bảo đảm sự hài hòa trong các quan hệ xã hội, từ quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng đến quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân. Một xã hội phát triển bền vững phải biết dung hòa các lợi ích, giải quyết hài hòa các mối quan hệ, trên cơ sở đề cao đoàn kết toàn dân tộc. Đây chính là nền tảng để củng cố ổn định xã hội và tạo động lực cho phát triển.

Hồ Chí Minh luôn đặt ra yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Phát triển kinh tế là cơ sở vật chất, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn là nâng cao đời sống nhân dân cả về vật chất lẫn tinh thần. Điều đó đòi hỏi phải bảo đảm công bằng trong phân phối, quan tâm đến các nhóm yếu thế và không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.

Tư tưởng của Hồ Chí Minh hướng tới xây dựng một xã hội phát triển bền vững, mang tính nhân văn sâu sắc, trong đó con người giữ vị trí trung tâm và hạnh phúc của nhân dân là thước đo cao nhất. Xã hội ấy không chỉ ổn định về chính trị, giàu mạnh về kinh tế mà còn giàu bản sắc văn hóa, công bằng trong các quan hệ xã hội và hài hòa trong sự phát triển. Văn minh, hài hòa và phát triển vì thế không phải là những mục tiêu tách rời, mà là những yếu tố gắn bó hữu cơ, bổ sung cho nhau, tạo nên diện mạo của một xã hội tiến bộ mà Người hướng tới. Trên nền tảng văn minh và hài hòa, tư tưởng của Hồ Chí Minh hướng tới xây dựng một xã hội phát triển toàn diện, trong đó phát triển không bị thu hẹp trong tăng trưởng kinh tế, mà được hiểu là sự nâng cao đồng bộ cả đời sống vật chất lẫn tinh thần của nhân dân.

Ngay sau khi đất nước giành được độc lập, Người đã sớm xác lập định hướng lấy phát triển xã hội và phát triển con người làm trung tâm, coi đó là tiêu chí phản ánh bản chất ưu việt của chế độ mới. Tinh thần này được thể hiện rõ trong những quyết sách đầu tiên của chính quyền cách mạng. Sáu nhiệm vụ cấp bách do Người đề ra đều tập trung giải quyết những vấn đề thiết thân của đời sống xã hội, từ nạn đói, nạn dốt đến việc xóa bỏ các chính sách bóc lột lạc hậu, loại trừ những tệ nạn làm băng hoại con người, tổ chức tổng tuyển cử dân chủ và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng. Đó không chỉ mang ý nghĩa tình thế mà còn phản ánh một triết lý phát triển sâu sắc, lấy con người làm điểm xuất phát và đích đến của mọi chính sách xã hội. Theo quan điểm của Người, một xã hội phát triển trước hết phải giải quyết những nhu cầu thiết yếu nhất của con người, từ chống đói nghèo, xóa nạn mù chữ đến bảo đảm việc làm, nâng cao dân trí và chăm sóc sức khỏe. Phát triển vì thế không thể tách rời việc cải thiện điều kiện sống và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Xây dựng xã hội phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn thể hiện rõ ở yêu cầu phát triển toàn diện con người. Người cho rằng, phát triển xã hội thực chất là giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công, tạo điều kiện để mỗi cá nhân phát triển đầy đủ về thể lực, trí lực, đạo đức và thẩm mỹ. Một xã hội phát triển phải là xã hội trong đó con người được tôn trọng, được bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng, có cơ hội vươn lên và hoàn thiện bản thân. Đây chính là nội dung cốt lõi, thể hiện tính nhân văn sâu sắc và tầm nhìn vượt thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển xã hội. Bên cạnh đó, Người đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội. Phát triển kinh tế là cơ sở vật chất của xã hội, phục vụ cho việc nâng cao đời sống nhân dân. Người chủ trương xây dựng một nền kinh tế vững mạnh, kết hợp hài hòa giữa các ngành, các thành phần kinh tế, nhằm tạo ra của cải ngày càng dồi dào và phân phối hợp lý để mọi người đều được hưởng thành quả phát triển. Đây là tư duy phát triển mang tính cân bằng, tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa tăng trưởng kinh tế mà xem nhẹ tiến bộ xã hội.

Phát triển xã hội theo hướng bao trùm, không loại trừ. Mọi thành viên trong xã hội, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo đều phải được bảo đảm quyền phát triển. Người nhấn mạnh yêu cầu tạo điều kiện để “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.187), đồng thời khuyến khích làm giàu chính đáng gắn với giảm nghèo bền vững, từng bước nâng cao mức sống của toàn xã hội. Quan điểm này thể hiện rõ tư duy phát triển tiến bộ, bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng và công bằng xã hội. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, xã hội phát triển là xã hội đạt được sự kết hợp hữu cơ giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển con người toàn diện và bảo đảm quyền phát triển cho mọi thành viên. Đây không chỉ là mục tiêu mà còn là phương thức phát triển, tạo nền tảng cho một xã hội bền vững, nhân văn và hướng tới hạnh phúc của nhân dân.

2.4. Mối quan hệ giữa các thành tố trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, hài hòa và phát triển trong xây dựng xã hội văn minh theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, các yếu tố trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, hài hòa và phát triển không tồn tại tách rời mà cấu thành một chỉnh thể thống nhất, có quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau theo tính quy luật. Đây là hệ giá trị phản ánh một cách toàn diện mô hình xã hội mà Người hướng tới, trong đó mỗi yếu tố giữ một vị trí, vai trò riêng nhưng đồng thời bổ sung, nâng đỡ và chuyển hóa cho nhau trong quá trình vận động và phát triển.

Trật tự và kỷ cương giữ vai trò là nền tảng, là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho xã hội vận hành ổn định. Khi kỷ cương được thiết lập vững chắc trên cơ sở pháp luật nghiêm minh và đạo đức xã hội được củng cố, thì đời sống xã hội đi vào nề nếp, tạo tiền đề cho việc bảo đảm an toàn và phát triển. Ngược lại, nếu thiếu trật tự, kỷ cương, xã hội sẽ rơi vào tình trạng rối loạn, làm suy yếu niềm tin và cản trở mọi nỗ lực phát triển.

An toàn và lành mạnh là những điều kiện trực tiếp của đời sống xã hội ổn định và bền vững. An toàn bảo đảm cho con người được sống trong môi trường không bị đe dọa, còn lành mạnh tạo ra nền tảng đạo đức và lối sống tích cực, giúp xã hội phát triển từ bên trong. Hai yếu tố này có mối quan hệ hữu cơ: an toàn tạo môi trường thuận lợi cho việc hình thành lối sống lành mạnh, trong khi đạo đức xã hội được nâng cao lại góp phần phòng ngừa, hạn chế các nguy cơ mất an toàn. Như vậy, đây vừa là kết quả của trật tự, kỷ cương, vừa là điều kiện để duy trì và củng cố chúng.

Trên một nấc thang cao hơn, văn minh và hài hòa phản ánh trình độ phát triển về chất của xã hội. Văn minh thể hiện ở sự phát triển toàn diện của con người và đời sống tinh thần, còn hài hòa thể hiện ở sự cân bằng trong các quan hệ xã hội và giữa các lĩnh vực phát triển. Hai yếu tố này không chỉ là kết quả của một xã hội có trật tự, an toàn, lành mạnh, mà còn là điều kiện để xã hội phát triển bền vững. Khi xã hội đạt tới trình độ văn minh và hài hòa, các mâu thuẫn được điều tiết, xung đột được hạn chế, tạo ra môi trường ổn định lâu dài cho phát triển. Phát triển là kết quả tổng hợp, đồng thời cũng là mục tiêu bao trùm của toàn bộ hệ thống các yếu tố trên. Tuy nhiên, trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, phát triển không phải là sự gia tăng đơn thuần về kinh tế, mà là quá trình nâng cao toàn diện đời sống xã hội, lấy con người làm trung tâm. Chính vì vậy, phát triển chỉ có ý nghĩa thực chất khi được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, văn minh và hài hòa. Nếu tách rời các yếu tố này, phát triển sẽ trở nên lệch lạc, thiếu bền vững.

Mối quan hệ giữa các yếu tố trên mang tính biện chứng rõ nét: trật tự, kỷ cương là nền tảng; an toàn, lành mạnh là điều kiện; văn minh, hài hòa là biểu hiện của trình độ; còn phát triển là kết quả và mục tiêu cuối cùng. Sự vận hành đồng bộ của các yếu tố này tạo nên một chỉnh thể xã hội ổn định, nhân văn và tiến bộ. Đây chính là giá trị cốt lõi trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, có ý nghĩa định hướng sâu sắc đối với quá trình xây dựng và phát triển xã hội ở nước ta hiện nay.

3. Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng xã hội văn minh là một di sản lý luận vô giá, mang tầm vóc thời đại. Trên phương diện khoa học, tư tưởng của Người đã giải quyết thành công bài toán về mối quan hệ giữa ổn định và phát triển, giữa tính nghiêm minh của pháp luật và sự chuẩn mực của đạo đức. Về mặt chính trị, đây chính là nền tảng tư tưởng cốt lõi để Đảng ta hoạch định các chiến lược quản trị quốc gia, khẳng định bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng.

Trong bối cảnh thực tiễn hiện nay, khi thế giới đang đối mặt với nhiều biến động phức tạp và sự bùng nổ của kỷ nguyên số, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đó không chỉ là việc giữ vững an ninh, trật tự mà còn là kiến tạo một môi trường sống an toàn, nơi mỗi cá nhân được phát triển toàn diện trong sự hài hòa giữa lợi ích riêng và chung. Thực hiện tốt những chỉ dẫn của Người chính là chìa khóa để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, khẳng định vị thế của một Việt Nam văn hiến, kỷ cương và hiện đại trên trường quốc tế.

_________________

Ngày nhận: 11/6/2026; Ngày bình duyệt: 27/9/2026; Ngày quyết định đăng: 20/10/2026.

Email tác giả: kienllct@gmail.com

Tài liệu tham khảo

Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.

Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 5). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.

Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập (Tập 6). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.

Hồ Chí Minh (2011d). Toàn tập (Tập 9). Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật.

Hồ Chí Minh (2011đ). Toàn tập (Tập 10). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.

Hồ Chí Minh (2011e). Toàn tập (Tập 11). Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật.

Hồ Chí Minh (2011f). Toàn tập (Tập 12). Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật.

Hồ Chí Minh (2011g). Toàn tập (Tập 15). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.