Thực tiễn

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phổ thông thích ứng với chuyển đổi số ở Việt Nam

• 30/10/2026 10:12

Tóm tắt: Chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ ở nước ta, làm tăng yêu cầu về kỹ năng ở những vị trí việc làm giản đơn. Bài viết làm rõ khái niệm lao động phổ thông, phân tích hạn chế, đồng thời chỉ ra bất cập trong đào tạo và công nhận năng lực của lao động phổ thông, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phổ thông ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Bài viết là kết quả nghiên cứu của Đề tài khoa học cấp Bộ “Tiêu chuẩn cơ bản về năng lực làm việc, kỹ năng hội nhập thị trường lao động quốc tế của nguồn nhân lực Việt Nam” (thời gian thực hiện năm 2025-2026).

TS NGÔ THỊ NGỌC ANH
Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

file3.qdnd.vn-data-images-0-2024-03-30-upload_2058-_26.jpg
Chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi cách làm việc ở hầu hết các ngành trên thế giới_Ảnh minh họa: QĐND

1. Mở đầu

Chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi cách làm việc ở hầu hết các ngành trên thế giới. Theo dự báo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, trong giai đoạn 2025-2030, toàn cầu sẽ có thêm khoảng 170 triệu việc làm mới và mất đi khoảng 92 triệu việc làm; khoảng 39% kỹ năng người lao động đang sử dụng sẽ thay đổi hoặc không còn phù hợp (WEF, 2025).

Ở nước ta, sức ép này có thể rơi nhiều nhất vào lao động phổ thông. Quý III/2026, lực lượng lao động đạt gần 54,1 triệu người, nhưng chỉ có 30,4% đã qua đào tạo và có bằng cấp, chứng chỉ (Cục Thống kê, 2026b).

Yêu cầu về năng lực đối với lao động phổ thông hiện mới dừng ở những quy định chung, chưa có thước đo để đánh giá và công nhận. Bài viết làm rõ ba vấn đề: (1) chất lượng nguồn nhân lực phổ thông hiện nay, xét theo phẩm chất, trình độ và kỹ năng, so với yêu cầu của chuyển đổi số; (2) nguyên nhân của khoảng cách về kỹ năng của nguồn nhân lực phổ thông so với yêu cầu mới; (3) giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phổ thông ở nước ta.

2. Nội dung

2.1. Nguồn nhân lực phổ thông và yêu cầu của chuyển đổi số

Trong bài viết này, lao động phổ thông là người lao động đồng thời thỏa mãn hai điều kiện: (i) làm các công việc giản đơn hoặc chỉ đòi hỏi kỹ năng ở mức thấp, như bốc xếp, phụ việc xây dựng, công nhân đứng máy, công nhân lắp ráp, lao động nông nghiệp; về phân loại nghề, chủ yếu thuộc nhóm nghề giản đơn và một phần thuộc nhóm thợ lắp ráp, vận hành máy và lao động nông nghiệp khi chưa có chuyên môn kỹ thuật (ILO, 2008); (ii) chưa có bằng cấp, chứng chỉ nghề nghiệp từ trình độ sơ cấp trở lên. Nhóm này gồm cả việc làm chính thức và phi chính thức. Do thống kê chưa tách riêng nhóm này, bài viết dùng hai số đo gần đúng: theo nhóm nghề và theo bằng cấp. Số đo thứ hai có thể cao hơn thực tế vì bao gồm cả những người có tay nghề nhưng chưa được cấp chứng nhận. Bài viết dùng cụm từ “nguồn nhân lực phổ thông” khi nói về chất lượng, năng lực của nhóm này, và dùng cụm từ “lao động phổ thông” khi nói về số người, việc làm, thu nhập.

Chất lượng của nguồn nhân lực phổ thông là mức độ người lao động làm được việc theo yêu cầu và khả năng học thêm để làm những việc mới. Chất lượng đó cấu thành từ ba yếu tố: (a) thái độ lao động, gồm kỷ luật, tính chuyên nghiệp; (b) trình độ, gồm học vấn nền như đọc hiểu, tính toán và trình độ đào tạo nghề được công nhận; (c) kỹ năng, gồm kỹ năng nghề, kỹ năng số cơ bản, giao tiếp và làm việc nhóm, ngoại ngữ cơ bản, học tập suốt đời và thích ứng với công nghệ mới. Thể lực, sức khỏe là một yếu tố của chất lượng nguồn nhân lực phổ thông, nhưng chưa có số liệu riêng cho nhóm này nên nằm ngoài phạm vi bài viết.

Chuyển đổi số (việc dùng công nghệ số để thay đổi cách tổ chức sản xuất và làm việc) chưa xóa ngay các vị trí lao động phổ thông, nhưng đã làm thay đổi phần việc ở những vị trí đó. Phần việc làm bằng tay giảm đi, phần việc theo dõi máy, nhập số liệu và làm theo quy trình trên phần mềm tăng lên. Người công nhân trong dây chuyền của doanh nghiệp nước ngoài hiện nay phải dùng được thiết bị số, làm đúng quy trình, phối hợp với tổ, đội và đọc được chỉ dẫn an toàn, có khi bằng tiếng nước ngoài. Mức kỹ năng tối thiểu để giữ được việc làm vì thế đã cao hơn trước. Theo khảo sát của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, 85% doanh nghiệp ưu tiên nâng cao kỹ năng cho người lao động đang làm việc (WEF, 2025).

2.2. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực phổ thông ở Việt Nam hiện nay

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ Cục Thống kê năm 2026, Bộ Nội vụ năm 2026, Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2025) và Chỉ số Năng lực cạnh tranh nhân tài toàn cầu năm 2025. Thống kê chính thức hiện chưa tách riêng nhóm lao động phổ thông và chưa đo kỹ năng số của nhóm này; các chỉ số quốc tế phản ánh toàn bộ lực lượng lao động, không riêng lao động phổ thông. Các con số chênh lệch, tỷ số trong bài do tác giả tính toán từ những nguồn dữ liệu trên.

Thứ nhất, lao động phổ thông chiếm số đông và đang chuyển dần từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ

Quý III năm 2026, 60,5% lực lượng lao động sống ở khu vực nông thôn (Cục Thống kê, 2026b). Trong cơ cấu nghề nghiệp, nhóm nghề giản đơn chiếm 25,6% lao động có việc làm, nhóm thợ lắp ráp và vận hành máy chiếm 14,7%, nhóm lao động có kỹ thuật trong nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 10,8%; nhóm chuyên môn kỹ thuật bậc cao chỉ chiếm 7,5% (Bộ Nội vụ, 2026).

Tỷ trọng lao động làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản đã giảm từ 26,9% (quý I/2024) xuống 25,4% (quý IV/2025) và 25,1% (quý III/2026), trong khi tỷ trọng lao động làm dịch vụ tăng từ 40,0% (quý I/2024) lên 41,0% (quý III/2026) (Cục Thống kê, 2026a, 2026b). Nhu cầu tuyển dụng cũng tập trung ở các ngành chế biến, chế tạo và xây dựng (chiếm 74,8% tổng nhu cầu), lớn nhất là điện, điện tử, tiếp đến là dệt may, da giày (Bộ Nội vụ, 2026).

Thứ hai, trình độ, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng chậm và chênh lệch lớn giữa các nhóm

Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ (từ trình độ sơ cấp nghề trở lên) đã tăng từ 20,9% năm 2016 lên 29,2% năm 2025, bình quân tăng khoảng 0,9 điểm phần trăm mỗi năm (Biểu đồ 1). Quý III/2026, tỷ lệ này đạt 30,4%, cao hơn cùng kỳ năm trước 1,1 điểm phần trăm (Cục Thống kê, 2026b). Nếu giữ tốc độ 0,9 điểm phần trăm mỗi năm, đến năm 2030 tỷ lệ đạt khoảng 34%; nếu giữ tốc độ 1,1 điểm của năm gần nhất thì đạt khoảng 35%, vừa đạt mức thấp nhất của mục tiêu 35-40% trong Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021-2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2021).

Biểu đồ 1: Tỷ lệ lao động qua đào tạo giai đoạn 2016-2025 (%)

na1.png
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu của Cục Thống kê

Xét theo khu vực, chênh lệch tỷ lệ qua đào tạo giữa thành thị và nông thôn chỉ giảm từ 24,3 điểm phần trăm (năm 2016) xuống 22,5 điểm (năm 2025). Chênh lệch giữa nam và nữ lại tăng từ 4,9 điểm (năm 2016: nam 23,3%, nữ 18,4%) lên 6,6 điểm (năm 2025: nam 32,2%, nữ 25,6%) (tính toán của tác giả từ số liệu trên website của Cục Thống kê). Số liệu việc làm 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy, ba ngành sử dụng nhiều lao động phổ thông là xây dựng, công nghiệp chế biến, chế tạo và nông nghiệp có tỷ lệ lao động không có chuyên môn kỹ thuật từ gần 77% đến trên 95%, còn ở các ngành thông tin và truyền thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm là 70,7-76,5% lao động có trình độ đại học (Bộ Nội vụ, 2026).

Cơ cấu đào tạo ở nước ta còn lệch về phía đại học. Tỷ lệ giữa số lao động có trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp và sơ cấp là 1 : 0,29 : 0,31 : 0,47 (Bộ Nội vụ, 2026), tức là tầng đào tạo thực hành mỏng hơn tầng đại học. Về nhu cầu, người có chứng chỉ, bằng nghề chiếm 18,5% nhu cầu tuyển dụng nhưng chỉ chiếm 14,8% lực lượng lao động; nhóm có trình độ đại học trở lên chiếm 8,0% nhu cầu tuyển dụng và 13,6% lực lượng lao động (Biểu đồ 2). Số liệu trên phản ánh xu hướng nhu cầu tuyển dụng nghiêng về nhóm có chứng chỉ nghề nhiều hơn tỷ trọng của nhóm này trong lực lượng lao động.

Biểu đồ 2: Cơ cấu lực lượng lao động và cơ cấu nhu cầu tuyển dụng theo trình độ, 6 tháng đầu năm 2026 (%)

na2.png
Nguồn: Tác giả tính từ số liệu của Bộ Nội vụ, 2026; tổng các cột của mỗi loại không bằng 100% do cách chia nhóm khác nhau

Chỉ 42,2% lao động làm việc đúng với trình độ được đào tạo; 51,4% làm công việc đòi hỏi kỹ năng cao hơn trình độ được đào tạo; 48,8% lao động trình độ trung cấp và 31,4% lao động trình độ cao đẳng làm công việc có yêu cầu thấp hơn trình độ của mình (Bộ Nội vụ, 2026).

Thứ ba, việc làm ổn định về số lượng nhưng thấp về chất lượng

Quý III/2026, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,22%, tỷ lệ thiếu việc làm là 1,31% (Cục Thống kê, 2026b). Tuy vậy, 9 tháng đầu năm 2026, 61,5% người có việc làm làm việc phi chính thức; riêng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tỷ lệ này là 98,7% (Cục Thống kê, 2026b). Năm 2025, tỷ lệ việc làm phi chính thức ở nông thôn là 73,3%, ở thành thị là 47,0%; nếu không tính nông nghiệp, tỷ lệ vẫn là 60,7% so với 43,8% (Bảng 1). Từ quý I đến quý IV/2025, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức giảm 2,4 điểm phần trăm, nhưng chênh lệch giữa nông thôn và thành thị không giảm, từ 25,6 lên 25,9 điểm (Biểu đồ 3).

Biểu đồ 3: Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức theo quý, năm 2025 (%)

na3.png
Nguồn: Cục Thống kê, 2026a.

Bảng 1: Một số chỉ tiêu lao động năm 2025 theo khu vực và giới tính

Chỉ tiêu
Chung
Thành thị
Nông thôn
Nam
Nữ
Lực lượng lao động (triệu người)
53,5
20,9
32,6
28,5
25,1
Việc làm phi chính thức, tính cả nông nghiệp (%)
63,1
47,0
73,3
66,4
59,3
Việc làm phi chính thức, không tính nông nghiệp (%)
52,7
43,8
60,7
57,0
47,9
Thu nhập bình quân tháng (triệu đồng)
8,4
10,1
7,3
9,5
7,2
Thiếu việc làm trong độ tuổi lao động (%)
1,65
1,25
1,93
1,67
1,63
Thất nghiệp của thanh niên 15 - 24 tuổi (%)
8,64
11,23
7,09
8,40
8,93
Làm nông nghiệp để tự dùng (triệu người)
3,83
0,45
3,38
1,40
2,43

Nguồn: Cục Thống kê, 2026a.

Về thu nhập, quý III/2026, thu nhập bình quân/tháng của người lao động là 9,2 triệu đồng; của lao động ở nông thôn là 8,0 triệu đồng, bằng khoảng 73% ở thu nhập ở thành thị. Thu nhập của lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 5,4 triệu đồng, của khu vực dịch vụ là 10,9 triệu đồng (Cục Thống kê, 2026b). Thu nhập bình quân tháng của lao động nữ là 7,9 triệu đồng, bằng khoảng 77% của lao động nam (10,3 triệu đồng), mặc dù tỷ lệ việc làm phi chính thức của nữ thấp hơn của nam (Bảng 1). Phụ nữ chiếm 64,6% người làm công việc sản xuất để tự dùng, và 86,8% số người này ở nông thôn (Cục Thống kê, 2026b). Điều này phản ánh một phần nguyên nhân khiến việc tiếp cận đào tạo và thu nhập của lao động nữ thấp hơn lao động nam.

Đối với thanh niên, quý III/2026, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi là 9,07%, ở thành thị là 12,49%; khoảng 1,6 triệu thanh niên (11,2%) không có việc làm và không đi học (Cục Thống kê, 2026b).

Thứ tư, về kỹ năng nghề, kỹ năng số, ngoại ngữ, tính chuyên nghiệp và năng suất còn thấp

Theo Chỉ số Năng lực cạnh tranh nhân tài toàn cầu năm 2025, Việt Nam xếp thứ 76 trong 135 nền kinh tế; xếp thứ 35 về hiểu biết, toán và khoa học, nhưng chỉ xếp thứ 120 về mức độ học tập suốt đời của người lao động, thứ 108 về mức độ phổ biến của đào tạo tại doanh nghiệp, thứ 92 về tính chuyên nghiệp của người lao động và thứ 83 về kỹ năng số của người lao động (INSEAD & Portulans Institute, 2025). Xinhgapo là nước dẫn đầu chỉ số này. Theo thang điểm 100 của chỉ số, điểm năng suất lao động của Việt Nam là 13,90 so với 100 của Xinhgapo; điểm tính chuyên nghiệp là 12,94 so với 51,85; điểm kỹ năng nghề và kỹ thuật là 47,13 so với 66,96.

Kỹ năng số của lao động nước ta phổ biến ở mức cơ bản nhưng còn thiếu ở mức trung bình và mức cao. Năm 2021, việc làm đòi hỏi kỹ thuật chuyên sâu chưa tới 6% việc làm trong ngành chế tạo (World Bank, 2025). Các ngành kinh tế số lõi (nhóm ngành tạo ra sản phẩm và dịch vụ công nghệ số, theo phân loại của Cục Thống kê) mới có khoảng 1,6 triệu lao động, chiếm 3,02% số người có việc làm trong 9 tháng đầu năm 2026 (Cục Thống kê, 2026b).

Năng lực tiếng Anh của người lao động Việt Nam đạt 500/800 điểm, xếp thứ 64 trong 123 nền kinh tế không dùng tiếng Anh làm tiếng mẹ đẻ (Bộ Nội vụ, 2026); chỉ khoảng 5% người lao động làm việc trực tiếp được bằng tiếng Anh (World Bank, 2025). Điều này gây trở ngại đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu. Tỷ lệ doanh nghiệp xuất khẩu cho rằng thiếu lao động đủ trình độ là trở ngại cho kinh doanh tăng từ 5% năm 2019 lên 20% năm 2023 (World Bank, 2025). Bên cạnh đó, năng suất lao động của Việt Nam năm 2024 đạt 25.850 USD theo sức mua tương đương, đứng thứ 6/11 trong khu vực Đông Nam Á (sau Xinhgapo, Brunây, Malaixia, Thái Lan và Inđônêxia) (Tăng Văn Khiên & Nguyễn Thị Mão, 2026).

2.3. Nguyên nhân của những hạn chế

Một là, hệ thống đào tạo còn lệch về phía đại học, yếu ở phần đào tạo nghề ngắn hạn. Tỷ lệ 1 : 0,29 : 0,31 : 0,47 giữa lao động trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp và sơ cấp, cùng với tỷ lệ lao động có trình độ sơ cấp (6,3%) và trung cấp (4,3%) tăng chậm (Bộ Nội vụ, 2026), cho thấy đào tạo nghề ngắn hạn chưa đủ rộng để phần lớn lao động phổ thông có khả năng tham gia.

Hai là, doanh nghiệp ít đào tạo người lao động. Nhiều kỹ năng của lao động phổ thông được hình thành ngay tại nơi làm việc. Tuy nhiên, tại Việt Nam, lao động phổ thông thường chỉ được hướng dẫn ngắn để làm ngay một thao tác; kỹ năng học được không được ghi thành hồ sơ và không dùng được khi chuyển sang việc khác.

Ba là, chưa có chuẩn năng lực và công cụ đánh giá dành cho lao động phổ thông. Các yêu cầu hiện có đối với nhóm này mới dừng ở mức gợi ý, công cụ đánh giá kỹ năng giao tiếp và kỹ năng hội nhập chưa thống nhất; hệ thống dự báo nhu cầu nhân lực cập nhật liên tục và cơ chế gắn cơ sở đào tạo với doanh nghiệp còn thiếu (Bộ Nội vụ, 2026). Khi không có thước đo chung, doanh nghiệp không có căn cứ để tuyển dụng và trả lương theo kỹ năng, người lao động không có lý do để học thêm, còn cơ sở đào tạo không biết cần dạy những gì.

Bốn là, phần lớn việc làm là phi chính thức và chênh lệch giữa các vùng còn lớn. Thực trạng 61,5% người có việc làm thuộc khu vực phi chính thức (Cục Thống kê, 2026b) và khoảng 80% lao động nông thôn chưa qua đào tạo, trong khi lao động có tay nghề, chuyên môn cao tập trung ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (Bộ Nội vụ, 2026), làm gia tăng chênh lệch cơ cấu lao động giữa các vùng.

2.4. Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phổ thông ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới, 70% doanh nghiệp dự kiến tuyển người có kỹ năng mới và 51% dự kiến chuyển nhân sự từ những vị trí đang giảm sang vị trí khác (WEF, 2025). Ở Việt Nam, 60,9% doanh nghiệp được khảo sát đã có thêm vị trí việc làm mới. Tuy nhiên, theo Ngân hàng Thế giới, tính đến năm 2045, khoảng 2 triệu việc làm tại nước ta sẽ bị mất đi nếu người lao động không đáp ứng tốc độ phát triển của chuyển đổi số (Tùng Dương, 2024). Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phổ thông ở nước ta đáp ứng nhu cầu của chuyển đổi số, cần thực hiện các giải pháp sau:

Một là, ban hành khung chuẩn năng lực tối thiểu cho lao động phổ thông

Khung chuẩn cần đơn giản, thiên về thực hành và dễ quan sát. Mỗi yêu cầu được viết thành hành vi cụ thể với ba mức đạt: tối thiểu (đủ để vào nghề), khá và tốt (có thể hướng dẫn người khác).

Khung gồm năm nhóm:

Nhóm năng lực nền tảng gồm đọc hiểu hướng dẫn công việc, tính toán cơ bản, giữ kỷ luật và tự sắp xếp công việc; chẳng hạn, mức khá là đi làm đúng giờ từ 95% số ngày công trở lên và báo trước khi có việc đột xuất.

Nhóm kỹ năng nghề yêu cầu làm đúng thao tác, quy trình, an toàn và chất lượng theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia (bộ tiêu chuẩn mô tả công việc, kiến thức và kỹ năng của từng nghề theo bậc kỹ năng) và dùng được thiết bị số cơ bản; người lao động luôn dùng đủ đồ bảo hộ, làm đủ các bước kiểm tra trước khi chạy máy, tự dừng việc khi thấy nguy hiểm và báo cho người quản lý.

Nhóm giao tiếp và làm việc nhóm yêu cầu nói rõ ràng, phối hợp trong tổ, xử lý được tình huống đơn giản, quen với thay đổi ca kíp và quy trình; người lao động biết lắng nghe, khi không đồng ý thì trao đổi trực tiếp.

Nhóm kỹ năng hội nhập yêu cầu hiểu và làm theo chỉ dẫn an toàn, quy trình bằng ngoại ngữ cơ bản, làm việc được với người nước ngoài và biết quyền, nghĩa vụ của mình.

Nhóm học tập suốt đời yêu cầu sẵn sàng học lại, tự học và dùng được công cụ số tại nơi làm việc, biểu hiện ở việc chủ động xin học thêm khi được giao việc mới.

Việc đánh giá có thể làm bằng nhiều cách: phiếu đánh giá kết quả công việc định kỳ cho nhóm nền tảng; bài kiểm tra tay nghề gồm câu hỏi và thực hành cho nhóm kỹ năng nghề; ý kiến của người quản lý và đồng nghiệp cho nhóm giao tiếp; phỏng vấn và quan sát tại nơi làm việc cho nhóm hội nhập; sổ theo dõi đào tạo của từng người cho nhóm học tập suốt đời.

Hai là, gắn chuẩn năng lực với đánh giá, công nhận kỹ năng và khung trình độ quốc gia

Cần đối chiếu năm nhóm năng lực với bậc 1 đến bậc 3 của Khung trình độ quốc gia (bảng mô tả tám bậc trình độ) theo Quyết định số 39/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 23/7/2026 quy định về Khung trình độ quốc gia Việt Nam và với hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia. Đây là cách nhanh nhất để đánh giá và cấp chứng nhận cho những kỹ năng người lao động đã học được khi làm việc, kể cả kỹ năng của người trở về sau thời gian làm việc ở nước ngoài.

Ba là, đẩy mạnh đào tạo tại doanh nghiệp và học tập suốt đời

Chương trình “Đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời trong công nhân lao động tại các doanh nghiệp đến năm 2030” đặt mục tiêu đến năm 2030 có 75% công nhân lao động tại doanh nghiệp tham gia học nâng cao tay nghề (Thủ tướng Chính phủ, 2022). Để đạt mục tiêu này, cần có ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện đánh giá, công nhận lao động theo chuẩn; thí điểm cấp tiền học trực tiếp cho người lao động; bắt đầu ở những ngành sử dụng nhiều lao động phổ thông và gắn với chuỗi cung ứng toàn cầu như dệt may, da giày, điện tử, chế biến nông sản, vận tải và kho bãi.

Bốn là, phổ cập kỹ năng số cơ bản và ngoại ngữ cần cho công việc

Phong trào “Bình dân học vụ số” (phong trào phổ cập kỹ năng số cho người dân) đang chuyển từ tuyên truyền sang đánh giá theo kết quả. Nội dung tập trung vào sử dụng điện thoại thông minh, dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, mua, bán trên mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân, được thực hiện qua lớp học lưu động và tổ công nghệ số cộng đồng ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Đây là kênh sẵn có để dạy kỹ năng số cho lao động phổ thông, nhất là ở nông thôn. Cần bổ sung những nội dung gắn với công việc như đọc chỉ dẫn trên thiết bị, nhập số liệu, dùng phần mềm quản lý sản xuất, và đánh giá theo khung chuẩn. Cùng với đó, cần xây dựng chương trình ngoại ngữ ở mức đọc hiểu chỉ dẫn an toàn và quy trình cho người làm việc trong doanh nghiệp nước ngoài và người chuẩn bị đi làm việc ở nước ngoài.

Năm là, ưu tiên các nhóm lao động phổ thông yếu thế

Cần có chương trình riêng cho lao động nông thôn chưa qua đào tạo; người làm việc phi chính thức ngoài nông nghiệp ở nông thôn; lao động nữ, nhất những người sản xuất để tự tiêu dùng; và thanh niên không có việc làm, không đi học. Với các nhóm này, lớp học cần mở ngay tại nơi họ sinh sống, thời gian ngắn, giờ học linh hoạt và có chứng nhận sau khi học.

Sáu là, phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và theo dõi bằng chỉ tiêu cụ thể

Nhà nước ban hành khung chuẩn mẫu và cách thức công nhận; doanh nghiệp làm rõ chuẩn cho từng vị trí việc làm và cung cấp số liệu về nhu cầu; từ đó, cơ sở đào tạo xây dựng các khóa học ngắn theo từng phần và mở rộng các khóa này để tăng nhanh số người có chứng chỉ sơ cấp. Cần có hệ thống dự báo nhu cầu nhân lực cập nhật liên tục và hai nhóm chỉ tiêu theo dõi: ở doanh nghiệp (tỷ lệ đi làm đúng giờ, số lần vi phạm an toàn, tỷ lệ sản phẩm lỗi) và ở cấp quốc gia (tỷ lệ lao động phổ thông có chứng chỉ bậc 1 đến bậc 3, có ngoại ngữ cơ bản, được đào tạo kỹ năng số). Mục tiêu là đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ lên 35-40% vào năm 2030.

3. Kết luận

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phổ thông là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh chuyển đổi số. Hiện nay, nguy cơ chủ yếu đối với nguồn nhân lực phổ thông ở nước ta chưa phải là mất việc, mà là bị giữ lại trong các công việc kỹ năng thấp, thu nhập thấp. Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phổ thông ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, bài viết đề xuất xây dựng chuẩn năng lực tối thiểu gắn với công nhận kỹ năng và khung trình độ quốc gia; tăng cường đào tạo tại doanh nghiệp; phổ cập kỹ năng số, ngoại ngữ; ưu tiên các nhóm yếu thế và phối hợp Nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo.

_________________

Ngày nhận bài: 6/10/2026; Ngày bình duyệt: 9/10/2026; Ngày quyết định đăng: 29/10/2026.

Email tác giả: ngocanhngo.npa@gmail.com

Tài liệu tham khảo

Bộ Nội vụ (2026). Báo cáo tại buổi làm việc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về chất lượng nguồn lao động Việt Nam, ngày 8/7/2026.

Cục Thống kê (2026a). Biểu số liệu dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025. https://www.nso.gov.vn/wp-content/uploads/2026/01/Bieu_baocao_Q4.2025.xlsx.

Cục Thống kê (2026b). Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý III và chín tháng năm 2026, ngày 03/10/2026.

ILO (2008). International Standard Classification of Occupations: ISCO-08. https://ilostat.ilo.org/methods/concepts-and-definitions/classification-occupation/.

INSEAD & Portulans Institute (2025). The Global Talent Competitiveness Index 2025: Talent and Resilience - Navigating an Era of Disruption.

Tăng Văn Khiên & Nguyễn Thị Mão (2026). Năng suất lao động của Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 4/2026, tr.25-27. https://vjol.info.vn/khcn/article/download/142848/116609/.

Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 2239/QĐ-TTg ngày 30/12/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 1268/QĐ-TTg ngày 19/10/2022 phê duyệt Chương trình "Đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời trong công nhân lao động tại các doanh nghiệp đến năm 2030".

Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 39/2026/QĐ-TTg ngày 23/7/2026 quy định về Khung trình độ quốc gia Việt Nam.

Tùng Dương (2024). Đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu thị trường. Báo Đại biểu Nhân dân điện tử. https://daibieunhandan.vn/dao-tao-nhan-luc-dap-ung-nhu-cau-thi-truong-post370686.html.

WEF (2025). The Future of Jobs Report 2025. World Economic Forum.

World Bank (2025). Viet Nam 2045: Growing Up to High-Income Status. https://documents1.worldbank.org/curated/en/099100925004025289/pdf/P178784-b9ccdd4a-f3ea-45e3-a206-9081f73aa76c.pdf.