Thực tiễn

Hoàn thiện mục các tội phạm khác về chức vụ trong Bộ luật Hình sự năm 2015 dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

• 02/11/2026 10:30

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.4123
Tóm tắt: Bài viết phân tích yêu cầu hoàn thiện các tội phạm khác về chức vụ tại Mục 2 Chương XXIII Bộ luật Hình sự năm 2015 trong bối cảnh triển khai định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Trên cơ sở làm rõ nền tảng lý luận, chính trị, pháp lý; đối chiếu Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng, chuẩn mực OECD và kinh nghiệm của Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Singapore, Đức, Pháp; bài viết chỉ ra những điểm cần tiếp tục hoàn thiện về chủ thể, hậu quả, lợi ích phi vật chất, bí mật công tác, lợi dụng ảnh hưởng, trách nhiệm của pháp nhân thương mại và cơ chế thu hồi tài sản. Từ đó, bài viết đề xuất nhóm giải pháp lập pháp, giải thích pháp luật và tổ chức thi hành nhằm bảo đảm tính minh bạch, khả thi và hiệu quả phòng ngừa của pháp luật hình sự.

TS ĐỖ ĐỨC HỒNG HÀ
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội

congan.haiphong.gov.vn-upload-congan-product-2026-3-_library-20260320121311-936ddef1-a049-4939-8561-6e01ef3fe12c-cacdaibieu-all-aae002b14e934a7587c39269652e9a78.jpg
Ngày 20/3/2026, Bộ Công an tổ chức Hội nghị tổng kết thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025)_Ảnh: IT

1.Mở đầu

Hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội phạm khác về chức vụ không chỉ là yêu cầu kỹ thuật lập pháp mà còn là yêu cầu chính trị - pháp lý trực tiếp của quá trình kiểm soát quyền lực, xây dựng nền công vụ liêm chính và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Nhóm tội phạm này được quy định tại Mục 2 Chương XXIII Bộ luật Hình sự năm 2015, gồm các tội từ Điều 360 đến Điều 366, có chức năng tạo “vành đai” bảo vệ hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức; phòng ngừa sự tha hóa quyền lực; xử lý những hành vi xâm hại kỷ luật công vụ, bí mật công tác, nghĩa vụ trách nhiệm và sự trong sạch của quan hệ công vụ (Quốc hội, 2015).

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chuyển đổi số quốc gia và mở rộng hợp tác quốc tế, các hành vi xâm phạm hoạt động công vụ có xu hướng phức tạp hơn. Lợi ích trong các quan hệ hối lộ không chỉ là tiền, tài sản, mà còn có thể là lợi ích phi vật chất, cơ hội nghề nghiệp, dữ liệu, ưu đãi kinh doanh hoặc lợi ích cho người thứ ba. Người có ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn có thể không nắm giữ quyền lực nhà nước chính thức, nhưng vẫn có khả năng chi phối quyết định công vụ. Doanh nghiệp có thể tổ chức, che giấu, hợp thức hóa hành vi đưa hối lộ thông qua tư vấn, tài trợ, hợp đồng dịch vụ hoặc bên trung gian.

Luật số 86/2025/QH15 đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự và có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, tạo bối cảnh pháp lý mới để tiếp tục rà soát sự tương thích, đồng bộ và khả thi của các quy định liên quan đến tội phạm về chức vụ (Quốc hội, 2025). Tuy nhiên, đối với nhóm các tội phạm khác về chức vụ, trọng tâm không chỉ là tăng nặng hình phạt, mà là làm rõ cấu thành tội phạm, xác định ranh giới giữa vi phạm hành chính, kỷ luật, dân sự và trách nhiệm hình sự; đồng thời tăng khả năng phòng ngừa, phát hiện, chứng minh, xử lý và thu hồi tài sản.

Bài viết tập trung trả lời ba câu hỏi: một là, cơ sở lý luận, chính trị, pháp lý và quốc tế nào đặt ra yêu cầu hoàn thiện nhóm tội phạm này; hai là, quy định hiện hành còn những vấn đề gì cần tiếp tục xử lý; ba là, giải pháp nào có thể bảo đảm vừa nghiêm minh, vừa khả thi, phù hợp với nguyên tắc pháp quyền, yêu cầu phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và hội nhập quốc tế.

Tổng quan nghiên cứu

Các nghiên cứu về tội phạm chức vụ ở Việt Nam thường tập trung vào nhóm tội phạm tham nhũng, nhất là tham ô tài sản, nhận hối lộ, lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Nhóm các tội phạm khác về chức vụ ít được đặt thành một đối tượng nghiên cứu độc lập, mặc dù trên thực tế đây là nhóm quy định có vai trò rất quan trọng trong phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực từ sớm, từ xa. Nhiều hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ, lợi dụng ảnh hưởng, thiếu trách nhiệm hoặc làm lộ bí mật công tác có thể là điều kiện, tiền đề hoặc phương thức hỗ trợ cho các tội tham nhũng nghiêm trọng hơn.

Về khung lý thuyết, bài viết tiếp cận tội phạm khác về chức vụ từ ba bình diện. Thứ nhất, lý thuyết kiểm soát quyền lực đòi hỏi mọi quyền lực công phải được ràng buộc bởi trách nhiệm, minh bạch, giải trình và chế tài. Thứ hai, lý thuyết bảo vệ khách thể của luật hình sự cho thấy khách thể trọng tâm của nhóm tội này là hoạt động đúng đắn, khách quan, liêm chính của cơ quan, tổ chức. Thứ ba, lý thuyết phòng ngừa tham nhũng hiện đại coi hình sự hóa hành vi không chỉ nhằm trừng trị người vi phạm, mà còn nhằm phá vỡ cơ chế tạo lập, trao đổi và hợp thức hóa lợi ích bất chính.

Bài viết sử dụng phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật, tổng hợp chính sách, so sánh luật học và đánh giá thực tiễn áp dụng. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các Điều 360, 361, 362, 363, 364, 365 và 366 Bộ luật Hình sự năm 2015; các định hướng chính trị - pháp lý về xây dựng Nhà nước pháp quyền, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC); chuẩn mực của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD); cùng một số mô hình pháp luật có giá trị tham khảo trực tiếp (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, 2024, 2025; United Nations, 2004; OECD, 1997).

2. Nội dung

2.1. Cơ sở lý luận, chính trị và pháp lý của việc hoàn thiện

a) Cơ sở lý luận

Về lý luận, các tội phạm khác về chức vụ phản ánh yêu cầu bảo vệ tính liêm chính của quyền lực công trong toàn bộ chu trình thực thi nhiệm vụ. Khác với một số tội tham nhũng có yếu tố chiếm đoạt hoặc vụ lợi trực tiếp của người có chức vụ, quyền hạn, nhóm tội này có cấu trúc đa dạng hơn: có tội gắn với nghĩa vụ trách nhiệm (thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng); có tội gắn với bảo vệ thông tin công vụ (cố ý hoặc vô ý làm lộ bí mật công tác, làm mất tài liệu bí mật công tác); có tội gắn với sự ổn định của nhiệm vụ công vụ (đào nhiệm); có tội xử lý phía cung và trung gian của hối lộ (đưa hối lộ, môi giới hối lộ); có tội xử lý ảnh hưởng bất chính đối với người có chức vụ, quyền hạn (lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi).

Điểm chung của nhóm tội này là không chỉ xử lý hậu quả đã xảy ra, mà còn ngăn chặn sự hình thành thị trường ngầm của quyền lực công. Khi việc đưa lợi ích, môi giới, tác động hoặc làm sai lệch nghĩa vụ công vụ không bị kiểm soát hữu hiệu, quyền lực công có nguy cơ bị tư nhân hóa, bị mua bán hoặc bị chi phối bởi quan hệ thân hữu, lợi ích nhóm. Vì vậy, hoàn thiện nhóm tội phạm này là điều kiện để chuyển trọng tâm phòng, chống tham nhũng từ xử lý hậu quả sang kiểm soát rủi ro, phòng ngừa từ gốc.

b) Cơ sở chính trị

Về chính trị, các định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kiểm soát quyền lực, cải cách tư pháp, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đều đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật hình sự theo hướng minh bạch, khả thi, công bằng và hiệu quả. Nghị quyết số 27-NQ/TW yêu cầu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực nhà nước được kiểm soát bằng Hiến pháp và pháp luật; Nghị quyết số 66-NQ/TW nhấn mạnh đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu chuyển đổi số, dữ liệu hóa quản trị quốc gia và bảo đảm an toàn, an ninh thông tin (Bộ Chính trị, 2024).

Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, hoàn thiện pháp luật hình sự về tội phạm chức vụ cần được đặt trong tổng thể yêu cầu kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng đội ngũ cán bộ liêm chính, chuyên nghiệp, có trách nhiệm giải trình và nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia. Pháp luật hình sự phải đủ nghiêm để răn đe, nhưng cũng phải đủ rõ để không hình sự hóa quan hệ hành chính, kinh tế, công vụ một cách tùy tiện; đủ linh hoạt để xử lý hành vi mới, nhưng đủ chặt chẽ để bảo vệ quyền con người, quyền công dân và nguyên tắc suy đoán vô tội.

c) Cơ sở pháp lý trong nước và quốc tế

Về pháp lý trong nước, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã thiết lập khung tương đối toàn diện về các tội phạm khác về chức vụ. Tuy nhiên, sau một thập kỷ thi hành, bối cảnh quản trị công đã thay đổi mạnh mẽ. Dịch vụ công được xã hội hóa; nhiều chức năng công được thực hiện thông qua doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước, đối tác công - tư hoặc nền tảng số; bí mật công tác tồn tại dưới dạng dữ liệu điện tử; hành vi đưa hối lộ và môi giới hối lộ thường được che giấu bằng cấu trúc giao dịch phức tạp. Những thay đổi đó đòi hỏi tiếp tục rà soát cấu thành tội phạm, chủ thể, khách thể, hậu quả, công cụ chứng minh và trách nhiệm của tổ chức.

Về pháp lý quốc tế, UNCAC là chuẩn tham chiếu trực tiếp. Điều 18 về lợi dụng ảnh hưởng, Điều 19 về lạm dụng chức năng, Điều 21 và Điều 22 về khu vực tư, Điều 26 về trách nhiệm của pháp nhân và Điều 31, Điều 53 về thu hồi tài sản đều gợi mở yêu cầu mở rộng cách tiếp cận từ xử lý cá nhân sang kiểm soát hệ sinh thái tham nhũng (United Nations, 2004). Bên cạnh đó, Công ước OECD về chống hối lộ công chức nước ngoài nhấn mạnh nghĩa vụ hình sự hóa hành vi hối lộ công chức nước ngoài trong giao dịch kinh doanh quốc tế và các biện pháp bảo đảm hiệu quả điều tra, truy tố, xử lý (OECD, 1997). Đây là những cơ sở quan trọng để Việt Nam tiếp tục hoàn thiện nhóm tội đưa hối lộ, môi giới hối lộ, lợi dụng ảnh hưởng và trách nhiệm pháp nhân thương mại.

2.2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

a) Những vấn đề đặt ra từ quy định hiện hành

Một là, phạm vi chủ thể và phạm vi chức năng công cần được nhận diện linh hoạt hơn. Điều 352 Bộ luật Hình sự xác định người có chức vụ, quyền hạn theo chức trách, nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay, nhiều người không giữ chức danh nhà nước nhưng được giao thực hiện một số nhiệm vụ có tính công vụ, quản lý tài sản công, cung ứng dịch vụ công, vận hành hệ thống dữ liệu công hoặc tham gia quyết định trong các dự án sử dụng ngân sách, tài sản nhà nước. Nếu chỉ dựa vào chức danh hình thức, pháp luật có thể bỏ lọt những người thực tế có khả năng tác động đến quyết định công vụ hoặc tài sản công.

Hai là, tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng tại Điều 360 cần được hướng dẫn rõ hơn về nghĩa vụ pháp lý, chuẩn mực cẩn trọng và quan hệ nhân quả. Trách nhiệm hình sự chỉ nên đặt ra khi người có trách nhiệm có nghĩa vụ cụ thể, có điều kiện thực hiện nghĩa vụ, có khả năng nhận thức rủi ro và sự thiếu trách nhiệm là nguyên nhân đáng kể gây hậu quả. Nếu không làm rõ ranh giới này, nguy cơ hình sự hóa sai sót hành chính hoặc quyết định quản lý trong điều kiện thông tin không đầy đủ là hiện hữu.

Ba là, các tội làm lộ bí mật công tác, làm mất tài liệu bí mật công tác tại Điều 361 và Điều 362 cần được hiện đại hóa trong môi trường số. Bí mật công tác không chỉ là hồ sơ giấy, tài liệu vật lý mà còn là dữ liệu điện tử, tài khoản truy cập, mã xác thực, bản ghi hệ thống, bản sao lưu, dữ liệu trên nền tảng dùng chung. Hành vi làm lộ có thể xảy ra qua thư điện tử, thiết bị di động, hệ thống lưu trữ đám mây, mạng xã hội hoặc công cụ trí tuệ nhân tạo. Do đó, hướng dẫn áp dụng cần bao quát đầy đủ hình thái dữ liệu số và nghĩa vụ bảo mật tương ứng.

Bốn là, tội đào nhiệm tại Điều 363 cần được giải thích trong mối quan hệ với nghĩa vụ công vụ trong hoàn cảnh đặc biệt. Các tình huống thiên tai, dịch bệnh, tình trạng khẩn cấp, sự cố an ninh mạng, sự cố môi trường, tai nạn nghiêm trọng hoặc nhiệm vụ bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân đòi hỏi nghĩa vụ bám vị trí, thực hiện nhiệm vụ, không bỏ mặc trách nhiệm. Tuy nhiên, cũng cần phân biệt hành vi đào nhiệm với trường hợp bất khả kháng, tình thế cấp thiết, mệnh lệnh trái pháp luật hoặc điều kiện làm việc không bảo đảm an toàn tối thiểu.

Năm là, Điều 364 và Điều 365 về đưa hối lộ, môi giới hối lộ cần tiếp tục được làm rõ đối với lợi ích phi vật chất, lợi ích cho người thứ ba, lợi ích trong tương lai và lợi ích được che giấu. Trong thực tiễn, hối lộ có thể được ngụy trang dưới hình thức tài trợ, học bổng, hợp đồng tư vấn, tuyển dụng người thân, du lịch, cơ hội đầu tư, quảng cáo, truyền thông, dữ liệu hoặc các lợi ích khó định giá. Nếu pháp luật chỉ chú trọng tiền và tài sản hữu hình, khả năng chứng minh và xử lý các dạng hối lộ tinh vi sẽ bị hạn chế.

Sáu là, Điều 366 về lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi gần với khuyến nghị về “trading in influence” trong Điều 18 UNCAC. Tuy nhiên, cần xác định ranh giới giữa vận động chính sách hợp pháp, phản ánh kiến nghị chính đáng, quan hệ xã hội bình thường với hành vi bán ảnh hưởng, môi giới quyền lực hoặc tạo niềm tin giả về khả năng tác động đến quyết định công vụ để trục lợi (United Nations, 2004). Ranh giới này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nhà nước pháp quyền, bởi pháp luật phải xử lý nghiêm ảnh hưởng bất chính nhưng không làm cản trở quyền kiến nghị, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân.

Bảy là, trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại chưa bao phủ đầy đủ các hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ hoặc tổ chức cơ chế hối lộ qua bên thứ ba. Trong khi đó, hối lộ hiện đại nhiều khi không xuất phát từ quyết định cá nhân đơn lẻ, mà được tổ chức trong chính sách kinh doanh, cơ chế hoa hồng, chi phí ngoài sổ sách, quỹ đen hoặc hợp đồng trung gian. Điều 26 UNCAC yêu cầu các quốc gia thành viên thiết lập trách nhiệm của pháp nhân đối với hành vi tham nhũng, có thể là hình sự, dân sự hoặc hành chính, nhưng phải có hiệu quả, tương xứng và có tính răn đe (United Nations, 2004).

b) Kinh nghiệm quốc tế có giá trị tham khảo

Vương quốc Anh là mô hình đáng chú ý về trách nhiệm của tổ chức thương mại. Bribery Act 2010 xử lý hối lộ chủ động, hối lộ thụ động, hối lộ công chức nước ngoài và đặc biệt quy định tội danh “failure of commercial organisations to prevent bribery” (thất bại của tổ chức thương mại trong ngăn chặn hội lộ) tại Điều 7 (The National Archives, 2010). Mô hình này không đòi hỏi phải chứng minh lãnh đạo cao nhất trực tiếp ra lệnh đưa hối lộ, mà đặt nghĩa vụ phòng ngừa lên tổ chức thương mại. Doanh nghiệp có thể được miễn trách nhiệm nếu chứng minh đã có thủ tục phòng ngừa phù hợp. Kinh nghiệm này gợi mở cho Việt Nam về việc chuyển từ xử lý hành vi cá nhân sang yêu cầu tổ chức phải quản trị rủi ro hối lộ.

Hoa Kỳ thông qua Foreign Corrupt Practices Act nhấn mạnh chống hối lộ công chức nước ngoài trong hoạt động kinh doanh quốc tế, đồng thời đặt yêu cầu về sổ sách kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ đối với doanh nghiệp niêm yết (United States Department of Justice và United States Securities and Exchange Commission, 2020). Giá trị tham khảo của mô hình này là kết hợp hình sự hóa hành vi hối lộ với nghĩa vụ minh bạch tài chính, kiểm soát nội bộ và trách nhiệm tuân thủ của doanh nghiệp.

Singapore duy trì cách tiếp cận nghiêm khắc, thực dụng và dễ áp dụng. Prevention of Corruption Act 1960 sử dụng khái niệm lợi ích rộng, bao quát tiền, quà tặng, khoản vay, phí, phần thưởng, hợp đồng, dịch vụ, ưu đãi và nhiều lợi ích khác có khả năng tác động đến hành vi công vụ (Singapore Statutes Online, 1960). Điểm đáng chú ý là pháp luật Singapore không chỉ nhấn mạnh hình phạt nghiêm, mà còn coi trọng thiết chế điều tra chuyên trách, thủ tục gọn và văn hóa không dung thứ tham nhũng.

Đức phân biệt tương đối rõ các hành vi nhận lợi ích, nhận hối lộ, cấp lợi ích và hối lộ công chức trong Bộ luật Hình sự, qua đó cho phép xử lý nhiều cấp độ xâm hại liêm chính công vụ (Federal Ministry of Justice, 2024). Pháp, thông qua Luật Sapin II, nhấn mạnh nghĩa vụ chương trình tuân thủ, cơ chế phòng ngừa tham nhũng trong doanh nghiệp và vai trò của cơ quan phòng, chống tham nhũng (République française, 2016). OECD, với Công ước chống hối lộ công chức nước ngoài, đặt trọng tâm vào phía cung của hối lộ và nhấn mạnh nghĩa vụ điều tra, truy tố, xử lý hiệu quả (OECD, 1997, 2021). Những kinh nghiệm này cho thấy xu hướng chung là mở rộng trách nhiệm tổ chức, tăng yêu cầu tuân thủ, coi trọng kiểm soát nội bộ và xử lý lợi ích gián tiếp.

c) Định hướng hoàn thiện

Từ các phân tích trên, có thể khái quát ba định hướng hoàn thiện. Thứ nhất, hoàn thiện theo hướng chính xác hóa cấu thành tội phạm, tránh cả bỏ lọt tội phạm và hình sự hóa quan hệ công vụ bình thường. Thứ hai, hiện đại hóa quy định để bao quát hành vi trong môi trường số, kinh tế nền tảng, dịch vụ công được xã hội hóa và quan hệ công - tư phức tạp. Thứ ba, mở rộng trọng tâm từ xử lý cá nhân sang kiểm soát tổ chức, thu hồi tài sản và phòng ngừa rủi ro trong hệ thống quản trị công và quản trị doanh nghiệp.

2.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành

a) Hoàn thiện quy định và hướng dẫn về chủ thể, nghĩa vụ và hậu quả

Thứ nhất, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoặc hướng dẫn Điều 352 Bộ luật Hình sự theo hướng nhận diện người có chức vụ, quyền hạn dựa trên chức năng thực tế, quyền quyết định hoặc khả năng chi phối nhiệm vụ công, chứ không chỉ dựa vào chức danh hình thức. Người được giao quản lý tài sản công, dữ liệu công, dịch vụ công, dự án sử dụng vốn nhà nước hoặc nhiệm vụ do Nhà nước ủy quyền cần được xem xét trong phạm vi chủ thể phù hợp nếu có quyền hạn thực tế và nghĩa vụ công vụ tương ứng.

Thứ hai, cần hướng dẫn Điều 360 theo mô hình ba tầng: sai sót hành chính, vi phạm kỷ luật và tội phạm. Chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự khi có nghĩa vụ pháp lý cụ thể, có khả năng thực hiện nghĩa vụ, có mức độ lỗi rõ ràng, có hậu quả nghiêm trọng và có quan hệ nhân quả được chứng minh. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm nghiêm trị hành vi buông lỏng trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng, vừa bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong phạm vi pháp luật.

b) Hiện đại hóa quy định về bí mật công tác và hành vi trong môi trường số

Thứ nhất, cần hướng dẫn Điều 361 và Điều 362 theo hướng bí mật công tác bao gồm cả dữ liệu điện tử, tài liệu số, tài khoản truy cập, mã xác thực, cơ sở dữ liệu, bản ghi nhật ký hệ thống, bản sao lưu, dữ liệu trên nền tảng dùng chung và thông tin được xử lý bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo. Hành vi làm lộ hoặc làm mất không chỉ là giao nộp, đánh rơi tài liệu giấy, mà còn bao gồm chia sẻ trái phép, cấp quyền truy cập sai, sao chép dữ liệu, gửi nhầm có lỗi nghiêm trọng, bỏ mặc nghĩa vụ bảo mật hoặc sử dụng công cụ số không an toàn.

Thứ hai, cần hoàn thiện Điều 363 về đào nhiệm theo hướng gắn với hoàn cảnh đặc biệt, nghĩa vụ cụ thể và hậu quả pháp lý. Quy định hoặc hướng dẫn cần làm rõ các tình huống thiên tai, dịch bệnh, khẩn cấp, sự cố an ninh mạng, sự cố môi trường, tai nạn nghiêm trọng, quốc phòng, an ninh và nhiệm vụ bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân. Đồng thời, phải loại trừ trách nhiệm trong trường hợp bất khả kháng, tình thế cấp thiết hoặc người thực hiện nhiệm vụ buộc phải rời vị trí để ngăn chặn thiệt hại lớn hơn.

c) Hoàn thiện các tội đưa hối lộ, môi giới hối lộ và lợi dụng ảnh hưởng

Thứ nhất, cần cụ thể hóa Điều 364 về đưa hối lộ theo hướng bao quát lợi ích vật chất, lợi ích phi vật chất, lợi ích cho người thứ ba, lợi ích trong tương lai và lợi ích thông qua bên trung gian. Việc định lượng không nên chỉ giới hạn ở giá trị tài sản trực tiếp, mà cần kết hợp tiêu chí về tính chất lợi ích, vị trí người nhận, mục đích tác động, mức độ làm sai lệch hoạt động công vụ và hậu quả đối với lợi ích công. Những lợi ích như tuyển dụng người thân, tài trợ trá hình, hợp đồng tư vấn không thực chất, chuyến đi, học bổng, cơ hội đầu tư hoặc dữ liệu kinh doanh cần được nhận diện trong cấu thành hối lộ nếu có mục đích tác động đến quyết định công vụ.

Thứ hai, cần hoàn thiện Điều 365 về môi giới hối lộ theo hướng không chỉ xử lý người chuyển tiền hoặc truyền đạt yêu cầu, mà còn xử lý người thiết kế cấu trúc giao dịch, kết nối người có ảnh hưởng, tư vấn phương thức che giấu, hợp thức hóa lợi ích hoặc bảo đảm việc trao đổi lợi ích bất chính. Môi giới hối lộ trong thực tiễn hiện đại có thể mang hình thức dịch vụ tư vấn, quan hệ công chúng, đại lý, nhà thầu phụ hoặc cố vấn không chính thức. Do đó, dấu hiệu môi giới cần được hiểu theo chức năng thực tế của hành vi trong chuỗi hối lộ.

Thứ ba, cần hoàn thiện Điều 366 về lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi theo hướng tiệm cận Điều 18 UNCAC, nhưng phải bảo đảm ranh giới với vận động chính sách hợp pháp, hoạt động đại diện lợi ích hợp pháp, phản ánh kiến nghị của công dân và hoạt động nghề nghiệp chính đáng. Dấu hiệu cốt lõi nên là việc nhận, đòi, hứa hoặc thỏa thuận lợi ích bất chính để sử dụng ảnh hưởng thực tế hoặc ảnh hưởng được tuyên bố nhằm tác động không đúng đắn đến quyết định công vụ. Trường hợp người phạm tội tạo dựng ảnh hưởng giả để chiếm đoạt tài sản cần được phân định rõ với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

d) Mở rộng trách nhiệm pháp nhân và tăng hiệu quả thu hồi tài sản

Thứ nhất, cần nghiên cứu mở rộng trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ hoặc tổ chức cơ chế hối lộ vì lợi ích của pháp nhân. Việc mở rộng này cần đi kèm cơ chế miễn hoặc giảm trách nhiệm khi pháp nhân chứng minh đã có chương trình tuân thủ, kiểm soát nội bộ, kênh tố cáo, đánh giá rủi ro và biện pháp phòng ngừa phù hợp. Cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần Điều 26 UNCAC và kinh nghiệm của Vương quốc Anh, Pháp, Hoa Kỳ trong kiểm soát hối lộ doanh nghiệp (United Nations, 2004; The National Archives, 2010; United States Department of Justice và United States Securities and Exchange Commission, 2020).

Thứ hai, cần tăng cường cơ chế thu hồi tài sản gắn với nhóm tội phạm khác về chức vụ. Thu hồi tài sản không chỉ đặt ra đối với người nhận hối lộ, mà còn đối với người đưa hối lộ, người môi giới, người hưởng lợi thứ ba và pháp nhân được hưởng lợi. Cần hoàn thiện cơ chế phong tỏa, kê biên, tạm giữ, truy tìm dòng tiền, hợp tác quốc tế, tương trợ tư pháp và công nhận, thi hành quyết định thu hồi tài sản ở nước ngoài. Trong các vụ việc có yếu tố nước ngoài, cơ quan tiến hành tố tụng cần sử dụng hiệu quả kênh tương trợ tư pháp, hợp tác phòng, chống rửa tiền và hợp tác thu hồi tài sản theo UNCAC.

e) Bảo đảm điều kiện tổ chức thi hành

Thứ nhất, cần ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất các Điều 360 đến 366, nhất là các vấn đề về lợi ích phi vật chất, lợi ích cho người thứ ba, dữ liệu số, bí mật công tác, ảnh hưởng bất chính, quan hệ nhân quả trong thiếu trách nhiệm và trách nhiệm của pháp nhân. Hướng dẫn này cần được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử, tham khảo án lệ, thực tiễn quốc tế và ý kiến của các cơ quan có thẩm quyền trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Thứ hai, cần nâng cao năng lực chứng minh tội phạm chức vụ trong môi trường số. Cơ quan tiến hành tố tụng cần được tăng cường năng lực thu thập, bảo quản, phân tích chứng cứ điện tử, dữ liệu tài chính, dữ liệu doanh nghiệp, lịch sử truy cập, giao dịch trung gian và dòng tiền xuyên biên giới. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa điều tra hình sự, thanh tra, kiểm toán, kiểm soát tài sản, phòng chống rửa tiền, quản lý thuế, quản lý đấu thầu, quản lý dữ liệu và hợp tác quốc tế.

Thứ ba, cần phát triển văn hóa liêm chính và cơ chế phòng ngừa trong khu vực công và khu vực tư. Pháp luật hình sự chỉ là tuyến cuối cùng. Hiệu quả phòng ngừa bền vững đòi hỏi công khai, minh bạch, chuyển đổi số quy trình công vụ, giảm tiếp xúc trực tiếp không cần thiết, kiểm soát xung đột lợi ích, luân chuyển vị trí rủi ro, bảo vệ người tố cáo, quản trị dữ liệu, đào tạo đạo đức công vụ và xây dựng chương trình tuân thủ trong doanh nghiệp có quan hệ với khu vực công.

3. Kết luận

Các tội phạm khác về chức vụ tại Mục 2 Chương XXIII Bộ luật Hình sự năm 2015 giữ vị trí đặc biệt trong bảo vệ liêm chính công vụ, kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, việc hoàn thiện nhóm tội này cần được đặt trong tổng thể xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia và hội nhập quốc tế.

Trọng tâm hoàn thiện không phải là mở rộng hình sự hóa một cách cơ học, mà là chính xác hóa cấu thành tội phạm, hiện đại hóa quy định trước các dạng lợi ích và phương thức phạm tội mới, bảo đảm ranh giới giữa trách nhiệm hình sự với trách nhiệm hành chính, kỷ luật, dân sự; đồng thời tăng trách nhiệm của pháp nhân, hiệu quả thu hồi tài sản và năng lực chứng minh trong môi trường số. Thực hiện đồng bộ các giải pháp này sẽ góp phần xây dựng nền công vụ liêm chính, nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia và củng cố niềm tin của nhân dân vào công lý, pháp luật và sự lãnh đạo của Đảng.

_________________

Ngày nhận bài: 20/5/2026; Ngày bình duyệt: 12/7/2026; Ngày quyết định đăng: 30/10/2026.

Email tác giả: doduchongha@gmail.com

Tài liệu tham khảo

Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Hà Nội.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Federal Ministry of Justice (2024). German Criminal Code (Strafgesetzbuch). https://www.gesetze-im-internet.de.

OECD (1997). Convention on Combating Bribery of Foreign Public Officials in International Business Transactions. https://legalinstruments.oecd.org.

OECD (2021). Recommendation for Further Combating Bribery of Foreign Public Officials in International Business Transactions. https://legalinstruments.oecd.org.

Quốc hội (2015). Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13.

Quốc hội (2025). Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự.

République française (2016). Loi n° 2016-1691 du 9 décembre 2016 relative à la transparence, à la lutte contre la corruption et à la modernisation de la vie économique. https://www.legifrance.gouv.fr.

Singapore Statutes Online (1960). Prevention of Corruption Act 1960. https://sso.agc.gov.sg.

The National Archives (2010). Bribery Act 2010. https://www.legislation.gov.uk.

United Nations (2004). United Nations Convention against Corruption. https://www.unodc.org.

United Nations Office on Drugs and Crime (2022). Legislative guide for the implementation of the United Nations Convention against Corruption. https://www.unodc.org.

United States Department of Justice và United States Securities and Exchange Commission (2020). A resource guide to the U.S. Foreign Corrupt Practices Act. https://www.justice.gov.