Thực tiễn

Phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong tăng trường kinh tế gắn với phát triển bền vững ở Việt Nam

• 03/11/2026 08:15

Tóm tắt: Phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển bền vững là nội dung quan trọng trong phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số. Mục tiêu là tăng cường sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào các hoạt động kinh tế, hướng tới nâng cao chất lượng tăng trưởng thông qua việc cải thiện sinh kế, giảm nghèo bền vững, thu hẹp bất bình đẳng và tăng cường năng lực chống chịu của hộ gia đình và cộng đồng. Bài viết phân tích, làm rõ các nội dung phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển bền vững ở Việt Nam.

TS NGUYỄN DŨNG ANH
Học viện Chính trị khu vực III

media3.baotintuc.vn-images-kys96zfawcpdx_o-qcpzfzjs5svmbbziffjhrhkym7xrwgibjnl7xzsyyau7xycc1guad0ofumxpa57lvbcong-_shan-tuyet-14525-10.jpg.avif
Phụ nữ người Dao hái chè Xuân trên đỉnh Tây Côn Lĩnh_Ảnh: TTXVN

1. Mở đầu

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của phụ nữ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.340). Thực hiện tư tưởng của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm, đường lối khẳng định tầm quan trọng và phát huy hơn nữa vai trò phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc.

Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: “Thực hiện bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội …” (ĐCSVN, 2026, tr.110). Đồng thời nhấn mạnh: “Chăm lo xây dựng phụ nữ Việt Nam thời đại mới, phát huy truyền thống, tiềm năng, thế mạnh, trí tuệ và tinh thần làm chủ, khát vọng vươn lên của phụ nữ, tích cực xây dựng gia đình Việt Nam tiến bộ, văn minh, ấm no, hạnh phúc” (ĐCSVN, 2026, tr.123).

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ lớn, với 53 dân tộc thiểu số, phụ nữ các dân tộc thiểu số đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Bài viết tập trung làm rõ vai trò phụ nữ dân tộc thiểu số trong tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển bền vững; với việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống; với bảo vệ tài nguyên môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu.

2. Nội dung

2.1. Phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển bền vững

Tăng trưởng kinh tế là một trụ cột quan trọng trong phát triển bền vững. Mục tiêu số 8 về phát triển bền vững (SDGs) của Liên hợp quốc là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, toàn diện và có trách nhiệm, tạo việc làm đầy đủ và hiệu quả cho tất cả mọi người (Sachs và cộng sự, 2025). Vì thế, tăng trưởng kinh tế bền vững vừa được đo lường bằng tốc độ tăng trưởng GDP hay thu nhập bình quân đầu người, đồng thời được đánh giá thông qua chất lượng tăng trưởng, khả năng tạo sinh kế ổn định, giảm nghèo bền vững, thu hẹp bất bình đẳng và nâng cao năng lực chống chịu của cộng đồng trước các cú sốc kinh tế - xã hội như thiên tai, dịch bệnh hay biến động thị trường.

Đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở những khu vực còn nhiều khó khăn về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Tỷ lệ biết chữ phổ thông của người dân tộc thiểu số từ 15 tuổi trở lên là 84,9%, thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình của cả nước (96,6%). Tỷ lệ lao động người dân tộc thiểu số đã từng được đào tạo chuyên môn hoặc kỹ thuật chỉ bằng hơn một nửa so với mức chung của cả nước với 14,9%. Theo thống kê năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở vùng dân tộc thiểu số lên tới 27,2%, cao gấp khoảng 6,7 lần so với mức trung bình cả nước (Cục Thống kê, UNICEF, UNFPA, UN Woman, 2025). Vì vậy, tăng trưởng kinh tế bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần thực hiện song song giữa đầu tư vật chất và chú trọng phát huy nguồn lực con người, trong đó có vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số.

Phụ nữ dân tộc thiểu số là lực lượng tham gia tích cực vào các hoạt động lao động sản xuất và giữ vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế hộ gia đình và cộng đồng dân tộc thiểu số, trực tiếp tham gia và đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế. Việc phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển bền vững trở thành yêu cầu khách quan, vừa xuất phát từ mục tiêu bình đẳng giới, vừa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng và tính bền vững của kinh tế địa phương.

Tuy nhiên, phụ nữ dân tộc thiểu số phải chịu nhiều bất lợi trong tiếp cận các nguồn lực phát triển như đất đai, vốn và thị trường. Những đặc điểm về giới làm hạn chế khả năng phát huy tiềm năng kinh tế của phụ nữ, đồng thời kìm hãm tăng trưởng kinh tế bền vững ở địa phương (Vu, Kim và Le, 2024). Khi những rào cản này được tháo gỡ, vai trò của phụ nữ được phát huy, góp phần cải thiện thu nhập và đời sống gia đình, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, giảm nghèo và tăng cường gắn kết xã hội. Như vậy, phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong tăng trưởng kinh tế bền vững trước hết là phát huy vai trò của họ trong sản xuất, sinh kế và tạo thu nhập ở cấp hộ gia đình và cộng đồng. Cụ thể, việc phát huy sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số được thể hiện trên các phương diện chủ yếu sau:

Một là, trong các hoạt động sản xuất và kinh doanh

Mặc dù tỷ lệ phụ nữ dân tộc thiểu số có việc làm là 70,2%, thấp hơn so với tỷ lệ này ở nam giới (76,8%), nhưng phụ nữ dân tộc thiểu số đã khẳng định vai trò của mình khi đảm nhận đồng thời lao động tạo ra thu nhập và lao động không được trả công (Cục Thống kê, UNICEF, UNFPA, UN Woman, 2025). Phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia đa dạng các lĩnh vực kinh tế, từ trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông - lâm sản, sản xuất thủ công truyền thống, đến dịch vụ du lịch cộng đồng và các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp. Vì vậy, bên cạnh việc thúc đẩy, làm gia tăng số lượng lao động nữ tham gia sản xuất, việc phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số còn tập trung vào nâng cao chất lượng và hiệu quả tham gia của phụ nữ. Trong đó, phụ nữ được tiếp cận khoa học - kỹ thuật, cải tiến phương thức sản xuất, áp dụng mô hình sinh kế bền vững, đa dạng hóa nguồn thu nhập và tăng cường liên kết với thị trường (Vu, Kim và Le, 2024).

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng hiện nay và trước những thách thức của biến đổi khí hậu, việc đa dạng hóa sinh kế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phụ nữ dân tộc thiểu số. Thông qua phát triển kinh tế hộ gia đình gắn với kinh tế cộng đồng và kinh tế xanh, phụ nữ dân tộc thiểu số có thể vừa nâng cao thu nhập, vừa góp phần bảo vệ môi trường và giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống. Đây chính là biểu hiện cụ thể của tăng trưởng kinh tế bền vững ở vùng dân tộc thiểu số.

Hai là, trong quản lý kinh tế hộ gia đình

Cùng với vai trò trong sản xuất và kinh doanh, phụ nữ dân tộc thiểu số còn giữ vị trí quan trọng trong quản lý kinh tế hộ gia đình, như phân bổ nguồn lực, chi tiêu, tiết kiệm và đầu tư cho giáo dục, y tế. Việc phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong quản lý kinh tế hộ gia đình là yếu tố quan trọng giúp nâng cao phúc lợi, cải thiện chất lượng cuộc sống và tạo nền tảng cho phát triển bền vững. Việc thúc đẩy quyền quyết định kinh tế của phụ nữ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực trong gia đình, cải thiện dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe và giáo dục cho trẻ em, từ đó góp phần giảm nghèo bền vững và phát triển nguồn nhân lực trong dài hạn (Girma & Alenko, 2020). Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phát huy vai trò quản lý kinh tế của phụ nữ càng trở nên quan trọng. Khi phụ nữ dân tộc thiểu số được trao quyền và được trang bị kiến thức, kỹ năng tài chính, họ có khả năng đưa ra các quyết định hợp lý hơn trong sử dụng nguồn lực, giảm thiểu rủi ro và tăng khả năng thích ứng trước các biến động kinh tế-xã hội.

Ba là, khả năng tiếp cận và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển

Một nội dung quan trọng trong phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển bền vững là nâng cao khả năng tiếp cận và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển. Các nguồn lực này bao gồm đất đai, vốn tín dụng, khoa học - kỹ thuật, đào tạo nghề, thông tin thị trường và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất. Trong thực tế, mặc dù phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia tích cực vào các hoạt động lao động sản xuất, nhưng họ thường gặp nhiều rào cản trong việc tiếp cận các nguồn lực phát triển do hạn chế về quyền sở hữu tài sản, trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, khả năng tiếp cận thông tin cũng như những ràng buộc về tập quán xã hội và định kiến giới (UN Women, ISDS, 2022). Những hạn chế này làm giảm hiệu quả sản xuất, kìm hãm khả năng phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong tăng trưởng kinh tế bền vững.

Vì vậy, nội dung phát huy vai trò phụ nữ dân tộc thiểu số cần được đặt trong mối quan hệ với việc bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng và nâng cao năng lực sử dụng các nguồn lực phát triển. Khi phụ nữ dân tộc thiểu số được tạo điều kiện tiếp cận đất đai và nguồn vốn, họ có khả năng chủ động đầu tư mở rộng sản xuất, cải tiến phương thức canh tác và phát triển các mô hình sinh kế phù hợp với điều kiện địa phương. Bên cạnh đó, việc nâng cao khả năng tiếp cận khoa học - kỹ thuật, đào tạo nghề và thông tin thị trường giúp phụ nữ dân tộc thiểu số nâng cao trình độ sản xuất, tăng năng suất lao động, giảm chi phí và nâng cao giá trị sản phẩm. Nhờ đó, phụ nữ từng bước trở thành chủ thể kinh tế có năng lực, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo thu nhập ổn định và phát triển sinh kế bền vững cho gia đình và cộng đồng.

Bốn là, trong liên kết kinh tế và các chuỗi giá trị

Phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển bền vững còn thể hiện ở việc tăng cường sự tham gia chủ động của phụ nữ vào các liên kết kinh tế và chuỗi giá trị. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế không chỉ dừng lại ở hoạt động sản xuất đơn lẻ của từng hộ gia đình, mà ngày càng gắn với các mối liên kết theo chuỗi giá trị, từ cung ứng đầu vào, sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Việc thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ dân tộc thiểu số vào các chuỗi giá trị và liên kết kinh tế góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Thông qua các hình thức tổ hợp tác, hợp tác xã, nhóm sản xuất cộng đồng hoặc các chuỗi giá trị nông - lâm sản, thủ công truyền thống và du lịch cộng đồng, phụ nữ dân tộc thiểu số từng bước tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng cao hơn, như sơ chế, chế biến, tiêu thụ sản phẩm và xây dựng thương hiệu. Việc tham gia sâu hơn vào các hoạt động liên kết kinh tế và chuỗi giá trị giúp phụ nữ dân tộc thiểu số nâng cao vị thế kinh tế, tăng thu nhập và giảm sự phụ thuộc vào các khâu trung gian, giúp tăng hiệu quả kinh tế của hộ gia đình và cộng đồng.

Bên cạnh đó, việc tăng cường vai trò của phụ nữ trong các liên kết kinh tế và chuỗi giá trị còn góp phần củng cố sự gắn kết cộng đồng, nâng cao năng lực thích ứng trước biến động thị trường và giảm nghèo bền vững. Đối với phụ nữ dân tộc thiểu số, tham gia chuỗi giá trị còn tạo điều kiện để phát huy tri thức bản địa, giá trị văn hóa truyền thống và các sản phẩm đặc trưng của địa phương, qua đó gắn kết phát triển kinh tế với bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường. Như vậy, phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong liên kết kinh tế và tham gia chuỗi giá trị góp phần nâng cao thu nhập và ổn định sinh kế, đồng thời thể hiện rõ chất lượng tăng trưởng kinh tế thông qua việc nâng cao giá trị gia tăng, tăng tính bền vững theo chiều sâu trong phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Năm là, trong nâng cao năng lực thích ứng và chống chịu của hộ gia đình

Phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển bền vững còn thể hiện rõ ở việc phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong việc nâng cao năng lực thích ứng và chống chịu của hộ gia đình và cộng đồng trước các cú sốc kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, dịch bệnh, thiên tai và những biến động khó lường của thị trường, năng lực chống chịu của hộ gia đình trở thành một tiêu chí quan trọng phản ánh chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng kinh tế. Thông qua việc đa dạng hóa sinh kế, kết hợp giữa sản xuất nông - lâm nghiệp, nghề thủ công truyền thống và các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp, phụ nữ dân tộc thiểu số góp phần giảm sự phụ thuộc vào một nguồn thu nhập duy nhất, qua đó hạn chế rủi ro và tăng khả năng thích ứng của hộ gia đình trước những biến động từ bên ngoài (World Bank, 2009). Việc tăng cường vai trò kinh tế và quyền ra quyết định của phụ nữ giúp các hộ gia đình nâng cao khả năng ứng phó, thích nghi và phục hồi trước các cú sốc, góp phần giảm nghèo và thúc đẩy phát triển bền vững.

2.2. Phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế bền vững gắn với bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống

Trong phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số, việc gắn kết giữa phát triển kinh tế với bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống có ý nghĩa quan trọng. Văn hóa là nền tảng tinh thần của cộng đồng, đồng thời là nguồn lực nội sinh góp phần khẳng định bản sắc, tăng cường sự gắn kết xã hội và tạo tiền đề cho các mô hình phát triển kinh tế phù hợp, bền vững. Trong đó, phụ nữ dân tộc thiểu số là chủ thể trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế gắn với văn hóa, góp phần giữ gìn, thực hành và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Hiệu quả phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong tăng trưởng kinh tế bền vững gắn với bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống được thể hiện ở các khía cạnh:

Một là, thông qua thực hành các giá trị văn hóa truyền thống

Theo UNESCO, phụ nữ chiếm hơn 60% lực lượng lao động trong các lĩnh vực kinh tế sáng tạo như nghề thủ công truyền thống, ẩm thực và nghệ thuật dân gian. Phụ nữ là người duy trì và phát huy di sản văn hóa phi vật thể tại cộng đồng (UNESCO, 2024). Đối với các dân tộc thiểu số, phụ nữ là lực lượng trực tiếp thực hành các giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống hằng ngày của gia đình và cộng đồng. Thông qua sinh hoạt gia đình, lao động sản xuất và tham gia các hoạt động cộng đồng, phụ nữ duy trì và tái tạo các giá trị như ngôn ngữ dân tộc, phong tục tập quán, nghi lễ, ẩm thực truyền thống, trang phục dân tộc, nghề thủ công và các hình thức nghệ thuật dân gian. Việc thực hành văn hóa diễn ra thường xuyên, liên tục và gắn chặt với đời sống thực tiễn giúp các giá trị văn hóa không bị mai một mà tiếp tục tồn tại như một phần sống động của đời sống cộng đồng.

Từ góc độ phát triển bền vững, việc thực hành văn hóa thông qua vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số góp phần bảo đảm tính bền vững về văn hóa và xã hội của quá trình phát triển kinh tế. Khi văn hóa truyền thống được duy trì trong đời sống hằng ngày, cộng đồng dân tộc thiểu số có điều kiện củng cố bản sắc, tăng cường sự gắn kết xã hội và nâng cao năng lực thích ứng trước những biến đổi kinh tế - xã hội (World Bank, 2009).

Bên cạnh đó, việc phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong thực hành văn hóa giúp văn hóa truyền thống trở thành nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế bền vững. Thông qua việc duy trì các nghề thủ công truyền thống, các kỹ năng chế biến ẩm thực dân tộc và các hình thức biểu đạt văn hóa, phụ nữ dân tộc thiểu số góp phần tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mang bản sắc dân tộc. Những sản phẩm và dịch vụ này có tiềm năng kinh tế trong các lĩnh vực như du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái. Với tri thức và kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều thế hệ, phụ nữ dân tộc thiểu số có khả năng kiểm soát nội dung, hình thức và ý nghĩa văn hóa của các sản phẩm được tạo ra, qua đó giúp hạn chế nguy cơ thương mại hóa văn hóa, đồng thời bảo đảm rằng phát triển kinh tế gắn với văn hóa không làm mất đi bản sắc dân tộc.

Các hoạt động kinh tế gắn với thực hành văn hóa do phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia thường có quy mô vừa và nhỏ, dựa trên nguồn lực nội sinh, ít tác động tiêu cực đến môi trường và có khả năng thích ứng cao trước biến động thị trường. Các mô hình này phù hợp với định hướng phát triển bền vững theo chiều sâu, coi trọng chất lượng tăng trưởng, ổn định sinh kế và bảo vệ môi trường thay vì chạy theo tăng trưởng nhanh nhưng thiếu bền vững.

Hai là, thông qua truyền dạy và chuyển giao các giá trị văn hóa truyền thống gắn với sinh kế bền vững

Việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể chỉ thực sự bền vững khi các giá trị văn hóa được truyền dạy và thực hành liên tục giữa các thế hệ trong cộng đồng. Trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế - xã hội và hội nhập sâu rộng, việc bảo đảm sự liên tục và kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống giữa các thế hệ trở thành điều kiện quan trọng để phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số. Trong quá trình này, phụ nữ dân tộc thiểu số giữ vai trò người truyền tải tri thức, kỹ năng và các chuẩn mực văn hóa cho thế hệ trẻ thông qua giáo dục gia đình. Trong quá trình nuôi dạy con cái, phụ nữ truyền đạt ngôn ngữ dân tộc, phong tục tập quán, lối sống, chuẩn mực truyền thống và các kỹ năng sinh hoạt gắn với văn hóa tộc người (Zabulis và cộng sự, 2025). Hoạt động truyền dạy này diễn ra tự nhiên, bền bỉ và liên tục, góp phần hình thành ý thức về bản sắc văn hóa và trách nhiệm giữ gìn các giá trị truyền thống cho thế hệ trẻ.

Phụ nữ dân tộc thiểu số còn giữ vai trò quan trọng trong truyền nghề và chuyển giao các kỹ năng nghề truyền thống. Cả nước hiện có hơn 5.400 làng nghề, nhiều làng nghề tập trung ở khu vực nông thôn và vùng dân tộc thiểu số (N Dương, 2024). Trong các làng nghề này, phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và truyền dạy nghề thủ công, kỹ năng chế biến ẩm thực, các hình thức nghệ thuật dân gian và bảo tồn tri thức địa phương, góp phần duy trì sinh kế và giữ gìn bản sắc văn hóa cộng đồng. Từ góc độ phát triển bền vững, truyền dạy và chuyển giao văn hóa gắn với sinh kế giúp bảo đảm sự tiếp nối của các mô hình kinh tế dựa vào văn hóa. Khi được trang bị tri thức văn hóa và kỹ năng nghề truyền thống, thế hệ trẻ có khả năng kế thừa và phát triển các hoạt động kinh tế như sản xuất thủ công truyền thống, dịch vụ ẩm thực dân tộc, du lịch cộng đồng và các ngành nghề văn hóa. Qua đó, các mô hình sinh kế truyền thống được duy trì, tăng khả năng thích ứng của cộng đồng trước những biến động của thị trường và môi trường.

Việc truyền dạy và chuyển giao các giá trị văn hóa truyền thống thông qua vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số còn góp phần nâng cao năng lực sinh kế của hộ gia đình và cộng đồng. Khi phụ nữ truyền dạy cho thế hệ trẻ các kỹ năng nghề và tri thức văn hóa gắn với sinh kế, cộng đồng có điều kiện đa dạng hóa nguồn thu nhập, giảm sự phụ thuộc vào một loại hình sinh kế duy nhất và tăng sức chống chịu trước các cú sốc kinh tế - xã hội. Đây là yếu tố quan trọng bảo đảm tính bền vững của phát triển kinh tế vùng dân tộc thiểu số. Bên cạnh ý nghĩa kinh tế, việc phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong truyền dạy và chuyển giao văn hóa còn có giá trị xã hội sâu sắc, giúp duy trì mối liên kết giữa các thế hệ, củng cố bản sắc cộng đồng và tăng cường tính cố kết cộng đồng trong quá trình phát triển.

2.3. Phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế bền vững gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu

Phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số không thể tách rời yêu cầu bảo vệ tài nguyên, môi trường và nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu. Các vùng dân tộc thiểu số thường gắn bó chặt chẽ với tài nguyên rừng, đất, nước và hệ sinh thái tự nhiên, đồng thời cũng là những khu vực chịu tác động mạnh mẽ và trực tiếp của biến đổi khí hậu, như thiên tai, suy thoái tài nguyên và biến động sinh kế. Trong bối cảnh đó, phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu trở thành một nội dung quan trọng của phát triển bền vững.

Việc phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu có thể khái quát thành hai nội dung chính: (1) phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên môi trường gắn với sinh kế; và (2) phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu gắn với ổn định sinh kế bền vững của cộng đồng.

Phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong bảo vệ, sử dụng bền vững tài nguyên, môi trường gắn với sinh kế bền vững

Theo báo cáo của UNDP, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, với khoảng 70% dân số sinh sống tại các khu vực dễ bị tổn thương như miền núi, ven biển và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán, lũ quét và sạt lở đất có xu hướng gia tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của phụ nữ dân tộc thiểu số (Tăng Thế Cường và cộng sự, 2023).

Các nghiên cứu cho thấy, phụ nữ sinh sống tại địa bản đóng vai trò quan trọng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm an ninh lương thực. Khi phụ nữ được trao quyền và tham gia đầy đủ vào quản lý tài nguyên, hiệu quả bảo vệ môi trường và tính bền vững của sinh kế được nâng cao (Agarwal, 2009). Trong đời sống hằng ngày của cộng đồng dân tộc thiểu số, phụ nữ là lực lượng trực tiếp tham gia vào nhiều hoạt động gắn với khai thác và sử dụng tài nguyên, đặc biệt trong sản xuất nông - lâm nghiệp, thu hái lâm sản, sử dụng nước sinh hoạt và quản lý tài nguyên ở cấp hộ gia đình. Với vai trò đó, phụ nữ dân tộc thiểu số tích lũy nhiều tri thức địa phương liên quan đến bảo vệ môi trường và sử dụng tài nguyên một cách hài hòa với tự nhiên. Những tri thức này thể hiện qua các tập quán canh tác truyền thống, kinh nghiệm bảo vệ rừng, sử dụng đất, quản lý nguồn nước và bảo tồn đa dạng sinh học. Khi được phát huy, tri thức và thực hành môi trường của phụ nữ dân tộc thiểu số sẽ góp phần hạn chế suy thoái tài nguyên, bảo vệ hệ sinh thái và duy trì nền tảng sinh kế lâu dài cho cộng đồng.

Từ góc độ phát triển kinh tế bền vững, việc phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong bảo vệ tài nguyên, môi trường giúp định hướng các hoạt động sinh kế theo hướng thân thiện với môi trường. Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số được phát huy trong các mô hình kinh tế gắn với nông nghiệp sinh thái, lâm nghiệp bền vững, kinh tế dưới tán rừng, khai thác hợp lý lâm sản và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước. Những mô hình này vừa tạo thu nhập cho hộ gia đình, vừa góp phần duy trì chất lượng tài nguyên và giảm áp lực lên môi trường tự nhiên.

Việc gắn kết giữa bảo vệ tài nguyên, môi trường với sinh kế thông qua vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số còn góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về phát triển bền vững. Thông qua các hoạt động sản xuất và sinh hoạt hằng ngày, phụ nữ dân tộc thiểu số góp phần tiết kiệm tài nguyên, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và bảo vệ không gian sinh thái chung của cộng đồng. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển kinh tế không đánh đổi môi trường, phù hợp với mục tiêu, yêu cầu phát triển bền vững trong dài hạn.

Phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu gắn với ổn định sinh kế:

Biến đổi khí hậu đang tác động ngày càng rõ nét đến sinh kế của cộng đồng dân tộc thiểu số do sự gia tăng thiên tai, thay đổi thời tiết, suy giảm tài nguyên và rủi ro sản xuất (Tăng Thế Cường, 2023). Trong bối cảnh đó, phụ nữ dân tộc thiểu số vừa là nhóm chịu nhiều tác động bất lợi, vừa là lực lượng có vai trò quan trọng trong việc xây dựng khả năng chống chịu của hộ gia đình và cộng đồng. Thông qua việc đa dạng hóa sinh kế, phụ nữ góp phần giảm sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên và giảm thiểu rủi ro do biến đổi khí hậu.

Phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong ứng phó với biến đổi khí hậu còn giúp tăng cường năng lực chống chịu của cộng đồng. Thông qua sinh hoạt gia đình và hoạt động cộng đồng, phụ nữ góp phần lan tỏa các biện pháp phát triển bền vững như điều chỉnh phương thức sản xuất, sử dụng tài nguyên hợp lý và chuẩn bị ứng phó với thiên tai. Qua đó, giúp cộng đồng dân tộc thiểu số chủ động hơn trước các rủi ro khí hậu, giảm thiểu tác động tiêu cực đến sinh kế và môi trường.

3. Kết luận

Từ cách tiếp cận phát triển bền vững, việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững không chỉ phụ thuộc vào các chính sách vĩ mô mà còn gắn chặt với vai trò, vị thế và sự tham gia thực chất của các nhóm xã hội. Trong đó, phụ nữ dân tộc thiểu số là một lực lượng có tiềm năng đóng góp quan trọng đối với phát triển bền vững ở cấp cộng đồng và địa phương.

Trên cơ sở quan điểm phát triển bền vững nhấn mạnh tính bao trùm, công bằng xã hội và bảo tồn các nguồn lực cho tương lai, phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số có thể được hiểu là quá trình phát triển nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân tộc thiểu số, đồng thời bảo đảm duy trì sinh kế, giữ gìn môi trường tự nhiên và bảo tồn các giá trị văn hóa đặc thù của từng dân tộc. Trong quá trình này, phụ nữ dân tộc thiểu số vừa là đối tượng thụ hưởng, vừa là chủ thể trực tiếp tham gia và tác động đến kết quả phát triển bền vững thông qua các hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường tại cộng đồng cư trú.

_________________

Ngày nhận bài: 31/3/2026; Ngày bình duyệt: 5/10/2026; Ngày quyết định đăng: 1/11/2026

Email tác giả: dunganhnguyen73@gmail.com

Tài liệu tham khảo:

Agarwal, B. (2009). Gender and forest conservation: The impact of women's participation in community forest governance. Ecological Economics, 68(11), 2785-2799, https://doi.org/10.1016/j.ecolecon.2009.04.025.

Cục Thống kê, UNICEF, UNFPA, UN Woman. (2025). Những khác biệt về đặc trưng kinh tế - xã hội và nghèo đa chiều trẻ em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam: Nhà xuất bản Hà Nội, https://www.nso.gov.vn/wp-content/uploads/2025/12/Bao-cao-dan-toc.-pdf.pdf

ĐCSVN. (2026). Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập 1. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

Girma, S., & Alenko, A. (2020). Women’s Involvement in Household Decision-Making and Nutrition Related-Knowledge as Predictors of Child Global Acute Malnutrition in Southwest Ethiopia: A Case–Control Study. Nutrition and Dietary Supplements, 12, 87–95. https://doi.org/10.2147/NDS.S252342

Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập. Tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

N Dương (2024). Kết nối nghề xưa với văn hóa truyền thống, https://vietnamtourism.gov.vn/post/59796

Sachs, J. D., Lafortune, G., Fuller, G., & Iablonovski, G. (2025). Sustainable development report 2025: Financing sustainable development to 2030 and mid-century. Dublin University Press.

Tăng Thế Cường, Nguyễn Tuấn Quang, Vũ Tấn Phương, Phan Ngụy Trường, Vũ Đức Đam Quang, Phạm Văn Sỹ, Nguyễn Bá Tú, Trần Thị Thanh Nga (2023) Báo cáo hướng dẫn đánh giá tác động của biến đổi khí hậu-dự án hỗ trợ xây dựng và thực hiện kế hoạch quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu của Việt Nam, https://www.undp.org/vietnam/publications/guideline-climate-change-impact-assessment

UN Women, ISDS. (2022). Access of ethnic minority women to public administration services, https://asiapacific.unwomen.org/sites/default/files/2022-06/vn-ISDS_Report_EMW-to-PAS_Full-Report_EN-s.pdf.

UNESCO. (2024). Measures that Monitor Women Participation in Cultural/Creative Economy Life, https://www.unesco.org/creativity/en/policy-monitoring-platform/measures-monitor-women-participation-cultural/creative-economy-life-0

Vu, T. D., Kim, A. D., & Le, M. C. (2024). Poverty among Indigenous Women in the Central Highlands of Vietnam: a Critical Analysis. The Russian Journal Of Vietnamese Studies, 8(1), 52-65. doi: 10.54631/VS.2024.81-623028.

World Bank. (2009). Country Social Analysis-Ethnicity and Development in Vietnam, https://documents1.worldbank.org/curated/en/495271468321531033/pdf/499760ESW0Whit1BLIC10vietnam1CSA1LR.pdf.

Zabulis, X., Partarakis, N., Zidianakis, E., & Kaplanidi, D. (2025). A Critical Review of the Function of Intangible Cultural Heritage as a Driver for Social Resilience and Cohesion. Encyclopedia, 5(4), 189. https://doi.org/10.3390/encyclopedia5040189