Tăng cường xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh miền núi phía Bắc hiện nay
(LLCT) - Các tỉnh miền núi phía Bắc là khu vực có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh; địa bàn cư trú chủ yếu của đồng bào các dân tộc thiểu số. Sau 15 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, bộ mặt nông thôn và đời sống người dân khu vực miền núi phía Bắc đã có những chuyển biến rất tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng cách chênh lệch khá lớn và có xu hướng nới rộng so với các vùng, miền khác của cả nước. Do vậy, cần có những giải pháp hữu hiệu phù hợp với đặc thù, đặc trưng vùng, miền để nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
PGS, TS ĐINH NGỌC GIANG
TS BÙI VĂN HẢI
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Chương trình xây dựng nông thôn mới của Đảng và Nhà nước ta có ý nghĩa chiến lược, xây dựng nông thôn mới được xác định là một quá trình liên tục, với mục tiêu ngày càng được nâng cao, nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao đời sống nhân dân, phát triển bền vững nông thôn nước ta trong tình hình mới. Sau 15 năm triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, các tỉnh miền núi phía Bắc đã có nhiều khởi sắc, song thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở khu vực này còn nhiều khác biệt và khó khăn. Bởi vậy, trong kỷ nguyên phát triển mới, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, việc xây dựng nông thôn mới với các tỉnh miền núi phía Bắc đòi hỏi cách tiếp cận mới với giải pháp phù hợp, hiệu quả và bền vững hơn để góp phần khai thác hiệu quả tiềm năng về tài nguyên rừng, khoáng sản, dược liệu, du lịch sinh thái, văn hóa dân tộc đặc sắc. Từ đó xây dựng khu vực miền núi phía Bắc ngày càng phát triển với bản sắc đặc trưng và sức hút riêng.
Các tỉnh miền núi phía Bắc có khu vực nông thôn rộng lớn, chủ yếu là nông thôn miền núi, rất đa dạng các thiết chế xã hội, cách thức tổ chức cộng đồng dân cư và giàu bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc. Việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới cần căn cứ vào bộ tiêu chí quốc gia, đồng thời phải chú ý đến tính chất đặc thù, đặc trưng về hạ tầng kỹ thuật, về địa bàn cư trú, tập quán canh tác nông nghiệp và văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc.
2. Nội dung
2.1. Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Về thành tựu
Một là, tư duy và cách thức sản xuất có nhiều đổi mới theo hướng sản xuất hàng hóa lớn. Cơ cấu nông nghiệp đang chuyển dịch mạnh mẽ từ chủ yếu là cây lương thực sang sản xuất đa dạng hóa, chuyên canh cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu thị trường. Ở một số địa phương đã hình thành các vùng chuyên canh cây trồng, chăn nuôi thủy sản, vật nuôi có tính đặc hữu cao, giúp khai thác lợi thế riêng như: lúa đặc sản (vùng lòng chảo Mường Thanh, Điện Biên), chè (Thái Nguyên, Phú Thọ, Sơn La), mận, đào, xoài, chanh leo (Sơn La, Điện Biên), cây ăn quả (Lào Cai); nuôi lợn, gà đồi (Bắc Ninh, Hòa Bình (cũ)), trâu (Sơn La, Lai Châu), bò sữa (Mộc Châu, Sơn La), cá nước ngọt trên vùng lòng hồ thủy điện (Hòa Bình (cũ) Sơn La, Lai Châu, Tuyên Quang…). Một số địa phương như Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang… đã thu hút được các doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu, gia tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, góp phần đưa sản phẩm nông, lâm nghiệp vươn xa tới các thị trường trong và ngoài nước. Hầu hết các địa phương vùng miền núi phía Bắc đã chú trọng thúc đẩy chương trình OCOP với những kết quả bước đầu khả quan.
Hai là, cơ sở hạ tầng và kỹ thuật phục vụ đời sống và sản xuất ở nông thôn được quan tâm đầu tư tương đối đồng bộ. Hệ thống đường đến trung tâm các xã, hệ thống trạm y tế, trường học, điện lưới quốc gia cũng được xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp; hạ tầng thương mại nông thôn ngày càng hoàn thiện, giúp kết nối sản xuất, tiêu dùng, tăng thu nhập cho nhân dân; hệ thống cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu được đầu tư khá đồng bộ, giúp nâng cao tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh, bảo đảm nhu cầu sản xuất nông, lâm nghiệp của người dân.
Ngày 11-10-2024, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1161/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch thực hiện Quy hoạch vùng trung du và miền núi phía Bắc thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, theo đó, liên quan đến vấn đề nông nghiệp, nông thôn sẽ phát triển trung tâm chế biến sản phẩm nông nghiệp tại Sơn La, trung tâm sản xuất và chế biến gỗ tại Tuyên Quang, đẩy mạnh phát triển các chuỗi sản phẩm nông nghiệp, du lịch đặc trưng và kinh tế cửa khẩu.
Ba là, các thiết chế văn hóa - xã hội ngày càng phát triển, nhiều nét văn hóa truyền thống, đặc sắc của các dân tộc được bảo tồn, phát huy thành những giá trị, nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là du lịch, dịch vụ. Một số địa phương khu vực miền núi phía Bắc đã hình thành các loại hình du lịch nông thôn, bao gồm: du lịch cộng đồng, du lịch canh nông và du lịch sinh thái; đã hình thành một số mô hình du lịch cộng đồng phát triển bền vững như: Làng Thái Hải (Thái Nguyên); mô hình du lịch cộng đồng và du lịch sinh thái ở Mộc Châu (Sơn La); du lịch cộng đồng và du lịch mạo hiểm (Hà Giang, Yên Bái)… Thông qua các mô hình du lịch nông thôn, các thiết chế văn hóa truyền thống, bản sắc văn hóa độc đáo của các dân tộc được giới thiệu, lan tỏa và trở thành nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở các địa phương.
Bốn là, hệ thống chính trị cấp xã được củng cố và tăng cường, hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy, hiệu lực quản lý của chính quyền cấp xã được nâng lên. Trong quá trình thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, nhiều cấp ủy, chính quyền xã đã có cách làm sáng tạo trong việc huy động và phát huy các nguồn lực, kết hợp các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số với việc tổ chức thực hiện chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới, tạo sức mạnh và nguồn lực tổng hợp cho phát triển kinh tế - xã hội; tạo sự đồng thuận và niềm tin của nhân dân đối với cấp ủy, chính quyền trên địa bàn.
Năm là, môi trường sinh thái được quan tâm bảo vệ và trở thành nguồn lực phát triển bền vững. Công tác bảo vệ rừng được cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo thực hiện quyết liệt, góp phần giữ gìn môi trường sinh thái, hạn chế các tác động rủi ro của thiên tai và biến đổi khí hậu. Môi trường sinh thái, cảnh quan thiên nhiên được bảo vệ, không chỉ là nguồn lực cho phát triển du lịch mà còn có tiềm năng mang lại lợi ích kinh tế từ việc bán tín chỉ carbon trong tương lai.
Về hạn chế
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh miền núi phía Bắc còn nhiều hạn chế so với cả nước, cụ thể:
Một là, sinh kế cư dân nông thôn ở nhiều nơi còn thiếu bền vững, do đặc tính địa hình, địa chất và khí hậu, các nguy cơ hiểm họa về môi trường, sinh thái vẫn còn ảnh hưởng lớn đến sinh kế người dân. Chẳng hạn, lũ quét và sạt lở đất xảy ra ngày 10-9-2024 tại thôn Làng Nủ, xã Phúc Khánh, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai (cũ) cho thấy nguy cơ và khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu còn hạn chế.
Hai là, quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp còn chậm và chưa vững chắc, thu nhập của người dân nông thôn còn thấp; chuyển đổi mô hình sản xuất còn thiếu bền vững; năng lực đáp ứng của hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân còn hạn chế. Một số địa phương trong khu vực miền núi phía Bắc vẫn còn nhiều khó khăn, kém phát triển về hạ tầng kỹ thuật, dù một số tỉnh đã có sự phát triển bứt phá; một số địa phương tình trạng thiếu nước sinh hoạt và sản xuất vẫn diễn ra nghiêm trọng vào một số thời điểm trong năm.
Ba là, vị trí, vai trò chủ thể của nông dân trong nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới chưa được phát huy. Tập tục, thói quen sản xuất nhỏ, manh mún vẫn còn ăn sâu trong đời sống của đồng bào dân tộc là rào cản lớn trong phát triển nông nghiệp, dẫn đến những hạn chế về năng suất, hiệu quả và khả năng cạnh tranh.
Bốn là, một số giá trị văn hóa truyền thống đứng trước nguy cơ bị phai nhạt, sự gắn kết cộng đồng làng, xã, bản có nguy cơ bị xói mòn. Một số địa phương, cộng đồng đứng trước những mâu thuẫn khi phát triển du lịch cộng đồng nhằm lan tỏa và phát huy giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của các dân tộc, biến giá trị văn hóa thành nguồn lực cho phát triển. Mặt khác, chính sự hội nhập ấy lại khiến các giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một hoặc lai căng. Vấn đề này đặt ra thách thức cho việc cân bằng giữa phát triển kinh tế với bảo tồn bản sắc văn hóa, đòi hỏi sự quản lý bài bản và vai trò chủ động của cộng đồng địa phương.
Năm là, vẫn còn tiềm ẩn một số điểm nóng chính trị, xã hội, dân tộc và tôn giáo; tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn ở một số địa phương có xu hướng gia tăng.
2.2. Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng nông thôn mới gắn với đô thị hóa, phát triển kinh tế nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần người dân. Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, các mô hình phân bố dân cư phù hợp với từng vùng sinh thái tự nhiên và đặc điểm văn hóa, dân tộc, phù hợp với đặc thù của từng vùng, miền. Đến năm 2030, số xã đạt chuẩn nông thôn mới trên 90%, trong đó phấn đấu 50% số xã đạt đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; thu nhập của cư dân nông thôn cao hơn 2,5 - 3 lần so với năm 2020. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề nông thôn. Bố trí hợp lý khu dân cư và hỗ trợ phát triển nhà ở cho người dân tại các vùng thường xuyên chịu tác động của thiên tai, bão lũ, sạt lở đất”(1).
Đối với các tỉnh miền núi phía Bắc, để thực hiện tốt chương trình, mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới từ nay đến năm 2030 cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo: Tạo chuyển biến một bước căn bản về nhận thức của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội các cấp, tổ chức xã hội, cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp, người dân về vai trò, yêu cầu đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, tác dụng và kinh nghiệm xây dựng các mô hình nông thôn mới đạt hiệu quả; hoàn thiện chính sách, cơ chế đặc thù về xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh miền núi phía Bắc; xây dựng cấp ủy, chính quyền địa phương và các đoàn thể chính trị - xã hội vững mạnh, đáp ứng tốt yêu cầu xây dựng nông thôn mới đạt hiệu quả cao; tạo dựng và sử dụng hiệu quả nguồn lực (nhân lực, vật lực), ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; coi trọng thanh tra, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm, nhân rộng những mô hình xây dựng nông thôn mới đạt hiệu quả. Để thực hiện hiệu quả các phương hướng nêu trên, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Một là, tiếp tục nâng cao vai trò của cấp ủy, chính quyền địa phương và năng lực đội ngũ cán bộ cấp xã trong việc đổi mới nội dung, phương thức xây dựng nông thôn mới hiện nay
Sự vào cuộc chưa đồng bộ và thiếu quyết liệt của cấp ủy, chính quyền các cấp là nguyên nhân làm chậm tiến độ thực hiện chương trình nông thôn hiện đại tại một số địa phương miền núi phía Bắc. Để khắc phục tình trạng này, cần đẩy mạnh phân công trách nhiệm rõ ràng, gắn kết quả thực hiện với trách nhiệm của người đứng đầu. Đồng thời, cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã về quản lý dự án, lập kế hoạch, sử dụng ngân sách, đặc biệt là tại vùng sâu, vùng xa, nơi trình độ chuyên môn còn hạn chế. Triển khai các mô hình hỗ trợ, như: luân chuyển cán bộ, cố vấn kỹ thuật từ cấp tỉnh, trung ương về xã sẽ giúp nâng cao năng lực điều hành và quản lý. Ngoài ra, việc phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, vận động và giám sát cũng góp phần tạo nên sức mạnh cộng đồng, thúc đẩy tiến trình xây dựng nông thôn mới toàn diện, hiệu quả hơn.
Hai là, nghiên cứu và xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, bảo đảm xây dựng nông thôn mới thực chất, hiệu quả
Các tỉnh miền núi phía Bắc có điều kiện địa hình phức tạp, kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, các xã có diện tích lớn, khoảng cách giữa các thôn, bản khá xa, trong khi hạ tầng giao thông đi lại khó khăn. Do vậy, cần có cơ chế, chính sách đặc thù phù hợp với điều kiện, đặc điểm của vùng cũng như từng địa phương. Quá trình nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách cần chú trọng địa bàn thôn, bản.
Hiện nay, vấn đề nổi cộm và vướng mắc trong xây dựng nông thôn mới ở vùng núi phía Bắc bao gồm sự chênh lệch về trình độ phát triển, hạn chế về nguồn lực, khó khăn trong huy động sự tham gia của người dân, và sự chưa đồng bộ trong cơ chế chính sách. Để giải quyết, cấp có thẩm quyền cần nghiên cứu, bổ sung, cụ thể hóa các chính sách phù hợp với điều kiện cụ thể của từng tỉnh, từng loại hình xã miền núi; nghiên cứu, ban hành khung chính sách linh hoạt về tiêu chí nông thôn mới cho vùng sâu, vùng xa, có tính khả thi; đẩy mạnh việc phân quyền, tăng cường kiểm tra, giám sát, đồng thời xây dựng chính sách hỗ trợ đồng bộ, dễ thực hiện và phù hợp với đặc thù từng địa phương.
Bên cạnh đó, cần có chủ trương, giải pháp phù hợp với các địa phương, vùng, miền, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong việc lồng ghép ba chương trình mục tiêu quốc gia (chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới).
Ba là, đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế nông thôn; xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu
Coi trọng, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập bền vững của người dân; tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị, theo vùng sinh thái đặc thù như cây dược liệu, chè, quế, mắc ca, trâu, bò, cá nước lạnh; hỗ trợ hình thành các hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp nông nghiệp liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ; tập trung phát triển sản phẩm OCOP, sản phẩm đặc sản địa phương gắn với du lịch cộng đồng, làng nghề, kinh tế chia sẻ; đẩy mạnh cơ giới hóa, tự động hóa, áp dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học vào nông nghiệp miền núi.
Các xã có điều kiện khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội, các xã vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số phần lớn chưa đạt chuẩn trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025, cần được quan tâm hỗ trợ xây dựng hoàn thiện các hạ tầng thiết yếu đồng bộ: giao thông, thủy lợi, điện lưới, thông tin truyền thông, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa thôn bản, phát huy vai trò của các doanh nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội và người dân tham gia đầu tư hạ tầng; kết nối hạ tầng giữa miền núi với vùng trung du và đồng bằng để khai thông chuỗi cung ứng, thị trường, du lịch, tạo tiền đề thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, phát triển các sản phẩm đặc sản của địa phương theo chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), phát triển các làng nghề truyền thống, phát triển kinh tế dịch vụ, du lịch cộng đồng trên cơ sở bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.
Đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng nông thôn mới thông minh; tiến hành thí điểm và nhân rộng mô hình “làng thông minh”, xã nông thôn số ở các địa bàn có điều kiện; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa về dân cư, tài nguyên, sản phẩm nông nghiệp, OCOP, cơ sở sản xuất; ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo nông dân, quảng bá sản phẩm địa phương, truy xuất nguồn gốc sản phẩm; khuyến khích người dân sử dụng dịch vụ ngân hàng số, y tế từ xa, giáo dục trực tuyến phù hợp điều kiện miền núi.
Bốn là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tăng cường quản trị nông thôn, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu
Nâng cao chất lượng giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe; chất lượng đời sống văn hóa tinh thần của người dân để bảo đảm cho cư dân nông thôn được tiếp cận các dịch vụ cơ bản, phúc lợi xã hội tốt nhất, đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, xây dựng môi trường sống xanh, sạch, đẹp.
Mặt khác, cần tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật cho người dân, thực hiện tốt chính sách bình đẳng giới, phòng, chống xâm hại phụ nữ và trẻ em, nâng cao năng lực, vị thế của phụ nữ ở nông thôn. Thực hiện hiệu quả chính sách bảo hiểm, khuyến khích, nâng nhanh tỷ lệ người dân nông thôn tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế…
Đẩy mạnh đào tạo nghề, phát triển nhân lực nông thôn có tay nghề, chuyển từ lao động giản đơn sang lao động kỹ thuật gắn với nhu cầu thị trường và kế hoạch chuyển đổi sinh kế tại địa phương; xây dựng mô hình chính quyền nông thôn hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; phát huy vai trò giám sát cộng đồng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tạo đồng thuận trong nhân dân; chuyển mạnh từ “làm thay” sang “hỗ trợ người dân tự làm”, nâng cao năng lực chủ động.
Tăng cường quản lý chất thải nông thôn; nâng cao tỷ lệ thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt, chất thải chăn nuôi; phát triển mô hình làng sinh thái, làng xanh, nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ; bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ; khuyến khích cộng đồng tham gia chi trả dịch vụ môi trường rừng; nâng cao khả năng chống chịu thiên tai, lũ quét, sạt lở, hạn hán thông qua đầu tư thủy lợi nhỏ, hồ treo, đê, kè chắn đất đá lở.
Năm là, gắn kết chặt chẽ xây dựng nông thôn mới với bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng biên giới
Gắn việc xây dựng nông thôn mới với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, lực lượng dự bị động viên ở các xã biên giới, vùng sâu, vùng xa; phát huy vai trò nòng cốt của các đồn biên phòng, lực lượng vũ trang nhân dân địa phương trong xây dựng cơ sở chính trị và phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn trật tự, bảo vệ chủ quyền biên giới; tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật, phòng chống tệ nạn xã hội, buôn bán người, truyền đạo trái phép; xây dựng mô hình “thôn bản an toàn”, “tổ liên gia tự quản”, “cụm dân cư tự phòng tự quản về an ninh trật tự”.
Sáu là, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn tới cần lấy người dân sống ở nông thôn là chủ thể, trọng tâm phát triển, bảo đảm tiếp cận bình đẳng các nguồn lực phát triển (vốn, đất, nước, năng lượng, khoa học công nghệ), các dịch vụ cơ bản, phúc lợi xã hội (dinh dưỡng, y tế, giáo dục, thể thao, văn hóa, thông tin, giao thông…), các cơ hội (học, làm việc, thị trường…). Xây dựng các chính sách phúc lợi xã hội công bằng (nhà ở và nơi định cư, bảo hiểm chữa bệnh, chế độ hưu,…) cho người dân ở nông thôn, hướng tới bình đẳng giới. Chủ động phòng chống rủi ro, bảo đảm địa bàn cư trú và đời sống của cư dân nông thôn an ninh và an toàn trước thiên tai, dịch bệnh và các biến động bất lợi.
Bảy là, coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra trong xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Việc xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, phải huy động nguồn lực lớn, nhất là kinh phí từ nhiều nguồn, trong đó chủ yếu là kinh phí hỗ trợ của Nhà nước. Để việc xây dựng nông thôn mới, nhất việc áp dụng những kinh nghiệm về xây dựng những mô hình nông thôn mới đạt hiệu quả vào xây dựng nông thôn mới ở từng địa phương đạt hiệu quả, cần đặc biệt coi trọng việc sử dụng hiệu quả nguồn lực. Đồng thời, thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán trong xây dựng nông thôn mới, phòng, chống thất thoát, tham nhũng, lãng phí trong xây dựng nông thôn mới.
3. Kết luận
Xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh miền núi phía Bắc có ý nghĩa chiến lược, nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các dân tộc sinh sống vùng nông thôn, phát triển nhanh và bền vững các địa phương trong tình hình mới, hướng đến mục tiêu “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”. Xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh miền núi phía Bắc được xác định là một quá trình liên tục, với mục tiêu ngày càng được nâng cao, do đó, cần tiếp tục tập trung nghiên cứu, tổng kết các mô hình hay, sáng kiến hiệu quả của các địa phương trong cả nước về xây dựng nông thôn mới, từ đó phổ biến, nhân rộng một cách phù hợp tại địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc; chỉ ra các giải pháp, cụ thể hóa quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ phù hợp với thực tiễn, thiết thực và hiệu quả hơn, để phát triển nông thôn hài hòa, bền vững ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
_________________
Ngày nhận bài: 26-11-2025; Ngày bình duyệt: 30-11-2025; Ngày duyệt đăng: 2-12-2025.
Email tác giả: buihaiminh938@gmail.com
(1) ĐCSVN: Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, tr. 334.