“Lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển” - tầm nhìn chiến lược của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5184
Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích nhận thức lý luận của Đảng về mối quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển; những thành tựu nổi bật của đất nước trong 40 năm đổi mới cùng các quyết sách lớn của Đại hội XIV, bài viết khẳng định, phát triển thực chất, bao trùm, bền vững chính là nền tảng lâu bền nhất đồng thời, ổn định là điều kiện tiên quyết để mở rộng không gian phát triển nhanh và bền vững. Bài viết làm rõ luận điểm “lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước” là bước phát triển mới trong tư duy lý luận, nghệ thuật lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới.
TS NGUYỄN ĐÌNH TƯƠNG
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

“Using development for stability, stability to promote development” - The Party’s strategic vision in the new era of development
Abstract: Based on an analysis of the Party’s theoretical awareness regarding the relationship among stability, innovation, and development, alongside the country's outstanding achievements during 40 years of national renovation and the major decisions of the 14th National Party Congress, the article affirms that substantive, inclusive, and sustainable development serves as the most enduring foundation; concurrently, stability is a prerequisite condition to expand the space for rapid and sustainable growth. The article clarifies that the thesis of “using development to maintain stability, and stability to promote rapid and sustainable national development” is a new advancement in the Party’s theoretical thinking, leadership art, and ruling capacity in the new era of development.
Keywords: development, stability; new era of development, developmental institutions.
1. Mở đầu
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là một dấu mốc chính trị đặc biệt quan trọng, mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước trong bối cảnh cục diện thế giới, khu vực và trong nước có nhiều thay đổi nhanh, phức tạp. Với phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”, Đại hội đã xác lập rõ tầm nhìn, mục tiêu, động lực và chương trình hành động tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc. Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận đường lối đổi mới, Đại hội XIV khẳng định quan điểm: “lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước” (ĐCSVN, 2026, tr.81). Đây không chỉ là định hướng điều hành thực tiễn mà còn phản ánh bước phát triển mới trong tư duy chiến lược, nghệ thuật lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới.
2. Nội dung
2.1. “Lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển”, bước phát triển mới trong tư duy lý luận và nghệ thuật lãnh đạo, cầm quyền của Đảng
Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, 96 năm lãnh đạo cách mạng, nhất là trong 40 năm đổi mới, Đảng ta luôn xác lập các mối quan hệ lớn trong lãnh đạo và tổ chức thực hiện mục tiêu chiến lược cách mạng. Kế thừa và phát triển sáng tạo quan điểm, mục tiêu và phương thức giải quyết các mối quan hệ lớn trong các kỳ Đại hội trước về mối quan hệ “giữa ổn định, đổi mới và phát triển”, trước bối cảnh “Thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức lớn đan xen; trong nước đang triển khai những quyết sách chiến lược mang tính cách mạng” (ĐCSVN, 2026, tr.80).
Đại hội XIV khẳng định: lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước thể hiện bước phát triển tư duy mới của Đảng, xác lập phương châm chỉ đạo, hành động: phát triển để tạo nền tảng, cơ sở, nguồn lực và động lực cho ổn định; lấy ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước. Bởi, nếu phát triển mà thiếu ổn định thì dễ đứt gãy, làm mất cân đối, gia tăng rủi ro xã hội; ổn định mà không phát triển sẽ triệt tiêu động lực, tích tụ trì trệ dẫn đến phá vỡ sự ổn định. Vì vậy, ổn định không phải là “giữ yên” mà phải tạo lập và giữ vững nền tảng để thúc đẩy phát triển toàn diện, có chất lượng; ổn định để mở rộng không gian, tạo lập thời cơ, động lực cho phát triển nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu: “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” (ĐCSVN, 2026, tr.84).
Đặc biệt, nội hàm của “ổn định” và “phát triển” trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng được mở rộng, nâng tầm trong bối cảnh mới. Ổn định bao hàm cả ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định thể chế, ổn định lòng dân, ổn định chiến lược quốc phòng, an ninh, đối ngoại và giữ vững môi trường hòa bình để phát triển. Phát triển phải bảo đảm hài hòa giữa nhanh và bền vững, gắn với tiến bộ và công bằng xã hội; phát triển phải gắn với “đẩy mạnh đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chủ động hội nhập quốc tế, kết hợp chặt chẽ và triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, trong đó: Phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên” (ĐCSVN, 2026, tr.82).
Ổn định và phát triển phải khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc. Nguồn lực, động lực nội sinh của phát triển là phát huy sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. Phát triển là kết quả tổng hợp của chất lượng thể chế, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực tổ chức thực hiện, trình độ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam, đồng thuận xã hội trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc; gắn kết chặt chẽ giữa tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên.
Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước; lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính gắn với thực hiện đồng bộ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; thu hút, trọng dụng nhân tài, đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất mới; phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất cho phát triển bền vững và giữ vững ổn định.
2.2. Phát triển đặt trong tổng thể của ổn định chiến lược
“Cục diện thế giới đang chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng, phân mảnh và phân tuyến mạnh” (ĐCSVN, 2026, tr.77) và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục phát triển mạnh mẽ và tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực, nếu không có phát triển thực chất thì không thể có ổn định bền vững. Một xã hội chỉ thực sự ổn định khi đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao; cơ hội việc làm, học tập, chăm sóc sức khoẻ, tiếp cận dịch vụ công và văn hóa, giải trí được mở rộng và bảo đảm; người dân được hưởng thụ thành quả của quá trình phát triển; doanh nghiệp có niềm tin vào môi trường đầu tư, kinh doanh; đất nước luôn “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin” để chống chịu trước “Các thách thức toàn cầu tiếp tục tác động bất lợi đến an ninh và phát triển của tất cả các nước, trong đó có Việt Nam” (ĐCSVN, 2026, tr.78). Ổn định phải luôn trong sự vận động phát triển bền vững, là nội lực, động lực và kết quả phát triển; phát triển phải đặt trong tổng thể của ổn định chiến lược.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, trước những “cú sốc” về chiến tranh thương mại, sự “đứt gãy” của các chuỗi cung ứng toàn cầu, logictis, các thách thức an ninh phi truyền thống và sự phát triển, cạnh tranh công nghệ cần phải huy động và phát huy tối đa, có trọng tâm, trọng điểm các động lực của phát triển. Trong đó, cần phải “Đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực” (ĐCSVN, 2026, tr.146-147); tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển kinh tế nhà nước thật sự đóng vai trò chủ đạo, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân; hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
Đặc biệt, “phát huy cao độ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển, sức mạnh của Nhân dân và đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đổi mới mạnh mẽ tư duy; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các quyết sách chiến lược” (ĐCSVN, 2026, tr.148) để xây dựng, phát triển đất nước hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Phát triển nhanh, bền vững tạo nền tảng vật chất bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội. “Lấy phát triển để ổn định” là lấy kết quả phát triển thực chất để nuôi dưỡng niềm tin, bảo đảm lợi ích của nhân dân và tăng cường sức mạnh nội sinh của đất nước, của chế độ. Phát triển là quá trình kiến tạo, tạo dựng sức mạnh vật chất, công nghệ, thể chế, niềm tin chiến lược và nền tảng của ổn định; là động lực, nguồn lực để: “Phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ của con người Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” (ĐCSVN, 2026, tr.82-83) trong kỷ nguyên phát triển mới.
Thực tiễn 40 năm đổi mới là minh chứng sinh động, khẳng định phát triển là tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định. Từ một đất nước nghèo, kém phát triển, bị bao vây, cấm vận, đời sống nhân dân nhiều khó khăn, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới. Thành tựu đó không chỉ là tăng trưởng kinh tế mà còn là quá trình “Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân” (ĐCSVN, 2026, tr.83), “củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa” (ĐCSVN, 2026, tr.72). Tạo dựng và tăng cường lòng tin chiến lược, “Nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong nền chính trị thế giới, kinh tế toàn cầu và văn minh nhân loại” (ĐCSVN, 2026, tr.118).
Những thành tựu của quá trình phát triển là nền tảng vật chất để đất nước có thêm nguồn lực để đầu tư cho quốc phòng, an ninh, đối ngoại, giáo dục, y tế, an sinh xã hội, hạ tầng và chuyển đổi số. Đồng thời, cũng là nền tảng vững chắc để thực hiện mục tiêu “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân; tự chủ chiến lược, tin cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc” (ĐCSVN, 2026, tr.84).
2.3. Ổn định để kiến tạo, mở đường cho phát triển
Ổn định không phải trạng thái đứng yên, mà là ổn định trong đổi mới, ổn định để tạo niềm tin, an toàn cho đầu tư, sáng tạo và hội nhập. Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, xây dựng đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Trong đó, ổn định chính trị là nền tảng, ổn định thể chế và pháp lý là kiến tạo, mở đường, ổn định lòng dân là nguồn lực và động lực, ổn định lòng tin chiến lược là tạo dựng không gian cho phát triển.
Ổn định chính trị là nền tảng vững chắc cho phát triển, là tài sản vô giá, điều kiện tiên quyết để bảo đảm độc lập, chủ quyền, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc cho phát triển. Đại hội XIV xác định: “Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa…; tăng cường quốc phòng toàn dân, phòng thủ chủ động; ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững và củng cố môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước” (ĐCSVN, 2026, tr.113). Nếu một đất nước không giữ được ổn định chính trị, tất yếu sẽ không giữ được môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.
Tuy nhiên, ổn định chính trị không đồng nghĩa với bảo thủ mà là ổn định trong đổi mới, ổn định gắn với “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn, tự đổi mới để Đảng ta thực sự “là đạo đức, là văn minh”; nâng tầm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng” (ĐCSVN, 2026, tr.130); “kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện đồng bộ công cuộc đổi mới; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển” (ĐCSVN, 2026, tr.81) gắn với “phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trọng tâm; xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”.
Ổn định thể chế và pháp lý là kiến tạo, mở đường cho phát triển. Môi trường chính sách minh bạch, ít rủi ro thể chế là yếu tố quan trọng nhất để phát triển bền vững. Đảng ta khẳng định: “Công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỳ nguyên mới” (Bộ Chính trị, 2025a), pháp luật vừa là công cụ quản lý, vừa là nền tảng của quản trị hiện đại, có vai trò “mở đường, khơi thông mọi nguồn lực”, “thể chế, pháp luật trở phải thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vũng chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển”. Khi pháp luật đồng bộ, minh bạch, khả thi và được thực thi nghiêm minh thì sẽ tạo được niềm tin cho người dân và doanh nghiệp, mở đường, kiến tạo, định hướng cho phát triển.
Ổn định lòng dân là nguồn lực và động lực của phát triển. Phát triển luôn gắn liền với cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân, nhằm phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển. Tư tưởng xuyên suốt trong Văn kiện Đại hội XIV là khẳng định cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam chính là “Dân là gốc”; “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển” (ĐCSVN, 2026, tr.38-39). Khi người dân được thụ hưởng thành quả phát triển, niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ được củng cố thì xã hội sẽ ổn định, khả năng thực thi các chủ trương, chiến lược lớn cũng sẽ đạt hiệu quả cao. Ổn định lòng dân là nền tảng của ổn định quốc gia, là nguồn lực, động lực vững chắc của phát triển.
Ổn định lòng tin chiến lược là tạo dựng không gian cho phát triển. Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các nước lớn, biến động địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, thách thức an ninh phi truyền thống, an ninh mạng, năng lượng và tài chính thì ổn định chiến lược là cơ sở, động lực, nền tảng để xây dựng, củng cố lòng tin chiến lược. Ổn định còn là khả năng giữ vững môi trường hòa bình, an ninh, an toàn; là tự chủ chiến lược, không để đất nước rơi vào bị động, bất ngờ trước những biến động quốc tế lớn. Trong một thế giới đầy biến động, Đảng ta xác định cần tăng cường quốc phòng toàn dân, phòng thủ chủ động; ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững và củng cố môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước gắn với “phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, phối hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh, các ngành, các cấp, các địa phương chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột, tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; tranh thủ các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài cho sự phát triển đất nước” (ĐCSVN, 2026, tr.117). Ổn định là kết quả của sức mạnh tổng hợp quốc gia, của năng lực tự chủ chiến lược, của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế chủ động, tích cực, toàn diện.
2.4. Một số đề xuất nhằm hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược, “lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển” trong kỷ nguyên phát triển mới
Thứ nhất, tiếp tục xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, bảo đảm được thực thi nghiêm minh. Thực tiễn cho thấy, kết quả phát triển đất nước phụ thuộc trước hết vào năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên và năng lực tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước. Đây là yếu tố có ý nghĩa quyết định trong việc chuyển hóa ổn định thành động lực phát triển và tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại. Thể chế là “đột phá của đột phá”. Một thể chế minh bạch, ổn định, có chất lượng cao, thực thi nghiêm minh sẽ khơi thông và phát huy được mọi nguồn lực và động lực sáng tạo và tăng sức cạnh tranh quốc gia. Do đó, cần phải “Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, công bằng, dân chủ, minh bạch, khả thi, ổn định để tạo lập nền tảng cho hệ thống quản lý, quản trị phát triển hiện đại, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển các lĩnh vực mới, tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc; khơi dậy, phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh và nguồn lực, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững của đất nước” (ĐCSVN, 2026, tr.128-129).
Thứ ba, tạo đột phá mạnh mẽ về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phát triển khoa học, công nghệ không chỉ là yêu cầu tăng năng suất, mà còn là biện pháp bảo đảm ổn định từ gốc, nâng cao năng lực chống chịu, năng lực quản trị, năng lực quốc phòng, an ninh và tự chủ chiến lược của quốc gia. Phát triển phải dựa nhiều hơn vào tri thức, dữ liệu, công nghệ chiến lược, nguồn nhân lực chất lượng cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Vì vậy, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách ở mức vượt trội, phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo; tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đạt trình độ tiên tiến ở những lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao.
Thứ tư, tiếp tục khơi dậy mạnh mẽ mọi nguồn lực xã hội, đổi mới mạnh mẽ, tạo đột phá để sớm hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, có sự quản lý của Nhà nước. Đổi mới tư duy và đẩy mạnh cơ cấu lại toàn bộ nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng trên cơ sở bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế. Phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế, trong đó, kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.
Thứ năm, kiên định mục tiêu phát triển vì con người, lấy nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân làm thước đo. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và là động lực của phát triển. Mọi quyết sách phát triển chỉ thật sự có ý nghĩa khi làm cho người dân được thụ hưởng nhiều hơn, sống tốt hơn, được tạo điều kiện phát triển toàn diện hơn và tham gia chủ động hơn vào quá trình phát triển đất nước. Phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, nhà ở, an sinh xã hội, môi trường sống, giảm chênh lệch vùng miền, bảo đảm cơ hội phát triển cho các nhóm yếu thế, phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương xã hội chính là cách củng cố lòng dân, tạo nền tảng ổn định bền vững nhất. Đồng thời, phải gắn chặt phát triển với củng cố quốc phòng, an ninh và nâng cao hiệu quả đối ngoại, hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, an ninh, an toàn, tự chủ chiến lược và hội nhập quốc tế hiệu quả sẽ mở rộng không gian phát triển.
3. Kết luận
“Lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển” không chỉ là một thông điệp chính trị, mà là kết tinh của trí tuệ lý luận, kinh nghiệm thực tiễn và bản lĩnh cầm quyền của Đảng ta. Tầm nhìn chiến lược định hướng để đất nước ta bứt phá vươn lên, nâng tầm vị thế, phát triển nhanh, bền vững, bao trùm và nâng cao toàn diện đời sống, hạnh phúc của nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là sự phản ánh bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng: không tuyệt đối hóa bất kỳ một chiều cạnh nào mà giải quyết mối quan hệ giữa ổn định và phát triển trong chỉnh thể lớn toàn diện hơn, đồng bộ hơn và có tầm nhìn chiến lược hơn, trở thành phương châm chỉ đạo trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
_________________
Ngày nhận bài: 11/5/2026; Ngày bình duyệt: 6/7/2026; Ngày quyết định đăng: 22/7/2026.
Email tác giả: dinhtuong.hvct@gmail.com
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025a). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bộ Chính trị (2025b). Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.
Ban Chấp hành Trung ương (2026). Quy định số 19-QĐ/TW ngày 08/4/2026 về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.