DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.6797
Tóm tắt: Theo định hướng chiến lược của Đại hội, xác lập mô hình tăng trưởng mới là nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa đột phá đối với phát triển đất nước. Trên cơ sở hệ thống hóa các mô hình tăng trưởng trong kinh tế học, phân tích kinh nghiệm quốc tế và tổng kết tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam qua các kỳ Đại hội Đảng, bài viết đề xuất một số định hướng, giải pháp hoàn thiện mô hình tăng trưởng mới cho giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
PGS, TS ĐINH THỊ NGA
TS NGUYỄN THỊ HOÀI THU
Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Trong bốn mươi năm đổi mới, mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào khai thác lợi thế lao động giá rẻ, mở rộng đầu tư và hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu đã đóng góp quan trọng cho tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, những giới hạn nội tại của mô hình này ngày càng bộc lộ rõ: năng suất chậm cải thiện, giá trị gia tăng nội địa thấp, phụ thuộc lớn vào thị trường quốc tế, sức chống chịu trước các cú sốc toàn cầu còn hạn chế, trong khi yêu cầu phát triển xanh, bao trùm và tự chủ ngày càng trở nên cấp bách. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược gia tăng, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số phát triển với tốc độ đột phá, yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng, mà là xác lập một mô hình tăng trưởng mới đủ sức bảo đảm phát triển nhanh và bền vững trong dài hạn.
Bước vào kỷ nguyên mới với khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hùng cường, việc đổi mới tư duy và xác lập mô hình tăng trưởng mới không còn là lựa chọn, mà là đòi hỏi tất yếu mang tính chiến lược. Mô hình tăng trưởng phải chuyển mạnh từ chiều rộng sang chiều sâu; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực làm động lực chủ đạo; phát huy nội lực của nền kinh tế gắn với hội nhập quốc tế chủ động, hiệu quả; đồng thời bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Mô hình tăng trưởng mới chính là chìa khóa để Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong những thập niên tới.
2. Nội dung
2.1. Mô hình tăng trưởng mới - định hướng xác lập từ góc độ kinh tế học
Trong kinh tế học, mô hình tăng trưởng phản ánh cách thức kết hợp, phân bổ và sử dụng các yếu tố đầu vào (vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ…) nhằm tạo ra tăng trưởng của nền kinh tế. Thông qua đó, mô hình tăng trưởng giúp lý giải cơ chế hình thành tăng trưởng, xác định nguồn gốc của tăng trưởng và phản ánh sự vận động của tư duy kinh tế qua các giai đoạn phát triển khác nhau(1).
Các mô hình tăng trưởng cổ điển, tiêu biểu của Adam Smith, David Ricardo và Thomas Malthus, coi vốn, lao động và đất đai là ba yếu tố cơ bản của tăng trưởng, đề cao vai trò của “bàn tay vô hình” thị trường trong phân bổ nguồn lực. Tuy nhiên, mô hình này thiếu cơ chế giải thích tiến bộ công nghệ và coi nhẹ vai trò nhà nước, nên khó vận dụng trong điều kiện công nghiệp hóa hiện đại. Bước sang thế kỷ XX, mô hình Harrod - Domar nhấn mạnh mối quan hệ giữa tiết kiệm và hiệu quả sử dụng vốn, coi đây là nhân tố quyết định tăng trưởng. Mặc dù có giá trị trong giai đoạn kế hoạch hóa tập trung, song mô hình này giả định công nghệ cố định, chưa làm rõ vai trò của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), nên thiên về tăng trưởng theo chiều rộng. Khắc phục những hạn chế trên, mô hình tân cổ điển Solow đưa tiến bộ công nghệ vào phân tích như một yếu tố quyết định tăng trưởng dài hạn, dù vẫn coi công nghệ là yếu tố ngoại sinh. Đến cuối thế kỷ XX, mô hình tăng trưởng nội sinh của Romer và Lucas đã nhấn mạnh vai trò của tri thức, vốn con người và đổi mới sáng tạo như những động lực nội tại của tăng trưởng trong nền kinh tế hiện đại(2).
So sánh giữa các mô hình cho thấy, sự tiến hóa của tư duy tăng trưởng diễn ra từ tích lũy vật chất sang tích lũy tri thức, từ các yếu tố đầu vào hữu hình sang các yếu tố vô hình như công nghệ, sáng tạo và năng lực con người. Nếu mô hình cổ điển và Harrod - Domar phù hợp với giai đoạn khởi đầu phát triển, thì mô hình Solow và mô hình tăng trưởng nội sinh lại phản ánh xu thế của kinh tế hiện đại - hướng tới tăng trưởng chất lượng cao, bền vững và dựa trên đổi mới sáng tạo.
Một số quốc gia sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú (như Nga, Venezuela hay các nước Trung Đông) lựa chọn mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên, đặc biệt là dầu mỏ, khí đốt và khoáng sản. Mô hình này thường mang lại mức tăng trưởng cao trong ngắn hạn thông qua nguồn thu ngoại tệ lớn từ xuất khẩu tài nguyên, đồng thời thúc đẩy chi tiêu công và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.
Tuy nhiên, việc phụ thuộc quá mức vào nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể dẫn tới mất cân bằng cơ cấu kinh tế, suy giảm năng lực cạnh tranh của các ngành sản xuất khác và gia tăng rủi ro khi giá hàng hóa biến động. Nhiều quốc gia giàu tài nguyên nhưng tăng trưởng thiếu bền vững do thể chế yếu và phụ thuộc vào nguồn thu đơn nhất. Ngược lại, các nước như Na Uy, Canađa hay Ôxtrâylia đã quản lý hiệu quả nguồn thu để tái đầu tư vào tri thức và công nghệ, qua đó chuyển hóa tài nguyên thành vốn phát triển lâu dài. Như vậy, thành công của mô hình tăng trưởng không phụ thuộc vào trữ lượng tài nguyên, mà chủ yếu do năng lực quản trị và phân bổ nguồn lực.
Mô hình tăng trưởng dựa vào nội lực được nhiều quốc gia Mỹ Latinh như Brazil, Argentina, Mexico áp dụng trong thế kỷ XX, với trọng tâm là chiến lược thay thế nhập khẩu nhằm bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ trong nước. Về lý luận, mô hình này chịu ảnh hưởng lý thuyết của Harrod - Domar, coi đầu tư công và tỷ lệ tiết kiệm là động lực chủ yếu của tăng trưởng, kéo theo vai trò can thiệp mạnh của nhà nước thông qua thuế quan cao, hạn ngạch nhập khẩu và các hình thức trợ cấp sản xuất nội địa.
Trong giai đoạn đầu, mô hình này góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa và hình thành một số ngành sản xuất cơ bản; song về dài bộc lộ nhiều hạn chế do bảo hộ kéo dài, làm suy giảm cạnh tranh, hiệu quả và trình độ công nghệ, kéo theo bao cấp và gia tăng nợ công.
Kinh nghiệm từ mô hình “hướng nội” cho thấy, công nghiệp hóa nếu tách rời thị trường toàn cầu và đổi mới công nghệ sẽ khó bảo đảm tăng trưởng bền vững, bởi tăng trưởng không chỉ dựa vào tích lũy vốn mà còn phụ thuộc vào năng suất, tri thức và năng lực cạnh tranh.
Đây là mô hình tăng trưởng gắn với nhiều nền kinh tế châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc. Cốt lõi của mô hình là lấy xuất khẩu làm động lực tăng trưởng, tập trung phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo có giá trị gia tăng cao, qua đó mở rộng năng lực sản xuất, tạo việc làm và thúc đẩy chuyển giao công nghệ. Mô hình này dựa trên lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển, coi năng suất nhân tố tổng hợp và tiến bộ công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng dài hạn. Trong đó, nhà nước đóng vai trò kiến tạo, định hướng chiến lược và hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Tuy nhiên, do phụ thuộc nhiều vào thị trường quốc tế, mô hình này dễ tổn thương trước các cú sốc toàn cầu (như khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 hay đại dịch Covid-19). Do vậy, nhiều quốc gia phải điều chỉnh theo hướng đa dạng hóa thị trường, thúc đẩy đổi mới sáng tạo nội địa nhằm bảo đảm tự chủ và phát triển bền vững.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, mô hình tăng trưởng dựa vào tri thức, đổi mới sáng tạo và công nghệ đang trở thành xu thế chủ đạo ở nhiều quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Itxraen, Hàn Quốc và các nước Bắc Âu. Theo lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Paul Romer và Robert Lucas, tri thức, vốn con người và nghiên cứu phát triển (R&D) là nguồn lực nội sinh quyết định tăng trưởng dài hạn. Đầu tư vào giáo dục, R&D, và hạ tầng số tạo hiệu ứng lan tỏa, nâng cao năng suất toàn nền kinh tế. Thành công của Hoa Kỳ, Itxraen, Hàn Quốc và các nước Bắc Âu cho thấy vai trò then chốt của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong nâng cao năng suất và thu nhập.
Gắn với tăng trưởng xanh, tăng trưởng bao trùm và kinh tế số, mô hình này phản ánh đầy đủ xu thế phát triển bền vững của thế kỷ XXI, khi tri thức và công nghệ trở thành nguồn vốn cơ bản thay thế cho tài nguyên và lao động giá rẻ.
Các mô hình tăng trưởng kinh tế trên thế giới cho thấy sự đa dạng trong lựa chọn con đường phát triển, song, cùng hướng tới mục tiêu nâng cao năng suất và phúc lợi xã hội. Mỗi mô hình đều hàm chứa những giới hạn nhất định. Sự vận động của các mô hình này phản ánh tiến trình phát triển của tư duy tăng trưởng, từ tích lũy vật chất đến hiệu quả sử dụng nguồn lực và tri thức, đổi mới sáng tạo. Điều này phản ánh quy luật tất yếu rằng tăng trưởng kinh tế chỉ bền vững khi dựa trên chất lượng nguồn nhân lực, năng suất và tiến bộ công nghệ. Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, kinh nghiệm quốc tế cần được tiếp thu có chọn lọc và chuyển hóa sáng tạo, phù hợp với điều kiện thể chế, nguồn lực và trình độ phát triển. Trong bối cảnh hiện nay, việc xác lập mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số chính là con đường tất yếu để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững.
Từ năm 1986 đến nay, Trải qua 8 kỳ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước xây dựng và hoàn thiện mô hình tăng trưởng, chuyển từ mô hình hướng nội dựa vào tích lũy vật chất sang mô hình hướng ngoại và hiện nay là mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tiến trình này phản ánh sự đổi mới và sáng tạo liên tục trong tư duy lý luận của Đảng trên cơ sở kiên định, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm thế giới trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Mô hình tăng trưởng được phản ánh khái quát qua những bước chuyển sau đây:
(1) Từ phủ nhận kinh tế thị trường đến khẳng định đây là sản phẩm chung của văn minh nhân loại và là phương thức xây dựng chủ nghĩa xã hội; xác định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát và trụ cột của phát triển nhanh, bền vững.
(2) Từ cơ cấu sở hữu đơn nhất sang đa sở hữu, đa thành phần kinh tế; bảo đảm quyền tự do kinh doanh, bình đẳng trước pháp luật; hình thành hệ thống thị trường đồng bộ, hiện đại.
(3) Ngày càng nhận thức đầy đủ vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự tham gia của các tổ chức xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
(4) Từ nền kinh tế dựa chủ yếu vào kế hoạch sang nền kinh tế vận hành theo các quy luật của kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước; từ phân phối bình quân sang đa dạng hóa hình thức phân phối, gắn với hội nhập quốc tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
(5) Từ mô hình kinh tế khép kín sang chủ động, tích cực hội nhập quốc tế gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; khẳng định đầu tư nước ngoài là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế.
(6) Từ công nghiệp hóa hướng nội, dựa vào vốn nhà nước sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo mô hình rút ngắn, hiện đại, dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và huy động nguồn lực xã hội.
(7) Từ tăng trưởng theo chiều rộng là chủ yếu sang theo chiều sâu, dựa trên năng suất, chất lượng, hiệu quả, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; gắn với cơ cấu lại nền kinh tế và bảo vệ môi trường.
(8) Nhận thức ngày càng đầy đủ các mối quan hệ biện chứng trong phát triển, đặc biệt giữa tăng trưởng kinh tế với văn hóa, môi trường, tiến bộ và công bằng xã hội.
(9) Từ ưu tiên phát triển nhanh sang phát triển nhanh gắn với bền vững, gắn tăng trưởng với các đột phá chiến lược và phương thức phát triển kinh tế mới.
2.4. Xác lập mô hình tăng trưởng mới theo tinh thần Đại hội XIV
Các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng nêu rõ: Xác lập mô hình tăng trưởng mới: Kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Trong đó xác định phát triển nhanh nhưng phải bền vững. Hoàn thiện quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch lĩnh vực, quy hoạch địa phương. Coi trọng chất lượng tăng trưởng trên cơ sở xác lập tiêu chuẩn kỹ thuật cao, phù hợp chất lượng quốc tế. Bảo đảm hạch toán kinh tế. Tăng trưởng phải dựa chủ yếu vào năng suất, chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo; giảm dần phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ. Phát triển đồng bộ công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ theo chuỗi giá trị; hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, các đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu. Xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, các trung tâm dịch vụ, du lịch chất lượng cao; các trung tâm logistics lớn gắn với các cảng biển, cảng hàng không trung chuyển quốc tế, các cửa khẩu quốc tế lớn, hiện đại, tự động hoá cao; nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ và chuỗi cung ứng trong những lĩnh vực trọng yếu…
Việc xác lập mô hình tăng trưởng mới không chỉ dừng ở sự điều chỉnh mục tiêu hay tốc độ tăng trưởng, mà được thể hiện rõ qua cách tiếp cận lại toàn bộ cấu trúc vận hành của nền kinh tế, từ huy động và phân bổ nguồn lực, thiết kế cơ chế vận hành thị trường, xác định vai trò của các chủ thể, đến việc hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Thứ nhất về nguồn lực
(1) Vốn
Đại hội XIV đặt mục tiêu nâng tỷ lệ tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên trên 40% GDP(3), cao hơn mức bình quân của các giai đoạn trước. Trọng tâm không chỉ là mở rộng quy mô vốn mà là nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng, hướng vào các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao. Mô hình tăng trưởng mới nhấn mạnh đa dạng hóa kênh huy động vốn, phát triển tài chính xanh, trái phiếu công nghệ và các quỹ đầu tư cho đổi mới sáng tạo, đồng thời kiểm soát hệ số ICOR ở mức hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Đầu tư công tiếp tục giữ vai trò then chốt trong ổn định kinh tế vĩ mô, dẫn dắt phát triển kết cấu hạ tầng và tạo hiệu ứng lan tỏa đối với đầu tư xã hội. Trong bối cảnh quốc tế nhiều biến động, yêu cầu nâng cao chất lượng giải ngân và hiệu quả đầu tư công trở nên đặc biệt cấp thiết. Song song với đó, thu hút FDI được định hướng theo chiều sâu, ưu tiên các dự án công nghệ cao, có khả năng liên kết với khu vực trong nước và cam kết phát triển xanh, bền vững.
(2) Lao động
Mô hình tăng trưởng mới đặt mục tiêu nâng tốc độ tăng năng suất lao động bình quân lên khoảng 8,5%, cao hơn đáng kể so với mức 5-6% của giai đoạn trước đó(4). Điều này phản ánh sự chuyển đổi từ mô hình dựa vào lao động giá rẻ sang mô hình dựa trên năng suất, tri thức và công nghệ. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số làm thay đổi mạnh mẽ nhu cầu về kỹ năng và tổ chức lao động, đòi hỏi phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có kỹ năng số, đổi mới sáng tạo và năng lực quản trị hiện đại.
(3) Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP)
Đại hội XIV xác định đây là động lực trung tâm của tăng trưởng chất lượng cao. Việc gia tăng đóng góp của TFP phản ánh xu hướng giảm dần phụ thuộc vào vốn và lao động, chuyển sang dựa nhiều hơn vào đổi mới công nghệ, quản trị và thể chế. Để thúc đẩy TFP, cần ưu tiên phát triển khoa học - công nghệ, R&D, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực giữa các ngành và vùng.
Bên cạnh đó, các nguồn lực phi vật chất như văn hóa, hệ giá trị quốc gia và con người Việt Nam được coi là nguồn lực nội sinh, có vai trò nền tảng và điều tiết đối với phát triển nhanh và bền vững.
Thứ hai, về cơ chế vận hành
Đại hội XIV tiếp tục khẳng định định hướng hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nghĩa là “nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”(5). Điểm đổi mới quan trọng là sự chuyển dịch từ phương thức quản lý tiền kiểm sang hậu kiểm, gắn với hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và tăng cường kiểm tra, giám sát. Cách tiếp cận này nhằm giảm thiểu rào cản hành chính, nâng cao tính minh bạch và ổn định của môi trường kinh doanh, qua đó giải phóng và phát huy các nguồn lực xã hội cho phát triển.
Vai trò của Nhà nước được tái cấu trúc theo hướng chuyển từ can thiệp trực tiếp sang kiến tạo thể chế, sử dụng các công cụ điều tiết phù hợp để thị trường thực hiện chức năng huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả, đồng thời bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng phát triển bền vững và thực hiện các mục tiêu công bằng xã hội.
Thứ ba, về chủ thể
Đại hội XIV làm rõ tư duy phát triển nền kinh tế đa chủ thể, với yêu cầu phát huy đầy đủ vai trò của các khu vực kinh tế. Trong đó, kinh tế nhà nước được xác định giữ vai trò chủ đạo theo hướng hiệu quả hơn, tập trung vào dẫn dắt các cân đối lớn và định hướng chiến lược phát triển. Đồng thời, kinh tế tư nhân được khẳng định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, với sự chuyển dịch rõ nét trong tư duy chính sách từ “thừa nhận” sang “bảo vệ, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển”.
Bên cạnh đó, không gian hoạt động của kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác và khu vực đầu tư nước ngoài tiếp tục được mở rộng. Trong quản trị xã hội, Đại hội XIV nhấn mạnh phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng các cơ chế để người dân tham gia vào quá trình hoạch định chính sách và giám sát thực thi, qua đó tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan Đảng và Nhà nước. Mô hình tăng trưởng mới vì vậy không chỉ đa dạng hóa chủ thể kinh tế mà còn gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội.
Thứ tư về động lực mới
Các động lực tăng trưởng mới là những nhân tố có vai trò khơi thông, thúc đẩy và nâng cao hiệu quả vận hành của các nguồn lực, qua đó chuyển hóa tiềm năng phát triển thành kết quả kinh tế - xã hội thực tế. Động lực không chỉ quyết định khả năng huy động nguồn lực mà còn chi phối cách thức phân bổ và sử dụng nguồn lực theo hướng chủ động, hiệu quả và bền vững. Trong năm 2024 - 2025, Bộ Chính trị đã ban hành một loạt nghị quyết mang tính chiến lược, bao quát các lĩnh vực then chốt của đời sống kinh tế - xã hội và quản trị quốc gia. Hệ thống nghị quyết này thể hiện tư duy đổi mới, tầm nhìn dài hạn của Đảng, đồng thời đóng vai trò nền tảng trong việc thiết lập cơ chế tạo động lực tăng trưởng mới, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Việc ban hành đồng bộ các nghị quyết chiến lược đã tạo khung thể chế quan trọng nhằm giải phóng và phát huy tối đa các nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và định hình mô hình tăng trưởng mới trong kỷ nguyên chuyển đổi số và kinh tế tri thức:
Đổi mới pháp luật và thể chế được xác định là động lực mang tính nền tảng. Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật giữ vai trò trung tâm trong việc kiến tạo môi trường phát triển minh bạch, ổn định và thuận lợi, tiệm cận chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Trọng tâm của Nghị quyết là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực điều hành kinh tế vĩ mô và tăng cường pháp quyền, qua đó giải phóng sức sản xuất và khơi thông mọi nguồn lực phát triển. Mục tiêu đưa môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm ba nước dẫn đầu ASEAN đến năm 2028 cho thấy quyết tâm tạo dựng nền tảng thể chế hiện đại cho mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và năng suất. Đồng thời, việc xây dựng khung pháp lý cho kinh tế số, công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử và các ngành công nghệ mới, cùng với cơ chế đặc thù cho các mô hình kinh tế mới và dự án quy mô lớn sẽ mở rộng không gian phát triển và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực trung tâm của tăng trưởng. Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt trọng tâm vào nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp dựa trên tri thức và công nghệ. Mục tiêu đến năm 2030 kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP và tầm nhìn đến năm 2045 đạt khoảng 50% GDP phản ánh định hướng chuyển đổi căn bản từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu. Việc hình thành các ngành kinh tế mới, phát triển hạ tầng số và xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao không chỉ nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia mà còn tạo nền tảng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Phát triển kinh tế tư nhân được coi là một đột phá chiến lược. Nghị quyết số 68-NQ/TW đã khẳng định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế quốc gia, với tầm nhìn đến năm 2045 có năng lực cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế, đóng góp khoảng trên 60% GDP. Điểm mới mang tính bản chất là sự chuyển dịch tư duy chính sách: từ thừa nhận sang bảo vệ, khuyến khích và thúc đẩy; từ vai trò bổ trợ sang vai trò dẫn dắt phát triển. Điều này tạo cơ sở để khu vực kinh tế tư nhân phát huy mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh, đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng, tạo việc làm và nâng cao năng suất.
Hội nhập quốc tế tiếp tục là động lực mở rộng không gian phát triển. Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới nhấn mạnh việc kết nối sâu hơn với các chuỗi giá trị toàn cầu, tận dụng hiệu quả các nguồn lực bên ngoài về thị trường, vốn, công nghệ và tri thức quản trị. Hội nhập được gắn chặt với tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, đồng thời yêu cầu nâng cao năng lực thực thi cam kết quốc tế và hoàn thiện thể chế trong nước. Cách tiếp cận này góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ nhưng chủ động và hiệu quả trong hội nhập.
Giáo dục và y tế được xác định là động lực nền tảng của phát triển dài hạn. Các Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22-8-2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo và Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09-9-2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân với mục tiêu hết sức cao cả, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và bảo đảm sức khỏe cộng đồng. Đổi mới giáo dục theo hướng phát triển năng lực, kỹ năng số và sáng tạo, đáp ứng yêu cầu lao động chất lượng cao; trong khi đó, đầu tư cho y tế giúp duy trì thể trạng dân số khỏe mạnh, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động và bảo đảm an sinh xã hội.
Nhìn tổng thể, mỗi nghị quyết chiến lược tạo thành một mắt xích trong chuỗi động lực tăng trưởng, cùng hình thành hệ cơ chế phát triển đồng bộ. Sự kết hợp giữa đổi mới thể chế, khoa học - công nghệ, kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế và đầu tư cho con người là nền tảng quan trọng để Việt Nam chuyển đổi mô hình tăng trưởng thành công, hướng tới phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
2.5. Một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện mô hình tăng trưởng mới ở Việt Nam
Nhằm củng cố nền tảng cho một nền kinh tế tăng trưởng hiệu quả, tự chủ và bền vững trong dài hạn, Việt Nam cần thực thi đồng bộ và kiên quyết một số giải pháp sau đây:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế phát triển hiện đại, minh bạch và hiệu quả.
Đây là giải pháp mang tính nền tảng, tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp. Cần tiếp tục cải thiện triệt để môi trường thể chế, đẩy mạnh cải cách hành chính, minh bạch hóa chính sách, đơn giản hóa thủ tục đầu tư - kinh doanh và bảo đảm tính ổn định của khung pháp lý. Đồng thời, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, khuyến khích sáng tạo và đầu tư mạo hiểm. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo phát triển, chuyển từ “quản lý - can thiệp” sang “điều phối - phục vụ”, gắn phân cấp, phân quyền với kiểm soát quyền lực, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành và thúc đẩy sự vận hành đầy đủ của các yếu tố thị trường.
Thứ hai, phát triển mạnh khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đây là động lực cốt lõi của mô hình tăng trưởng mới và doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm của quá trình này. Do vậy, Nhà nước cần có cơ chế, chương trình hỗ trợ kỹ thuật và tài chính giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực hấp thụ, lựa chọn và ứng dụng công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), công nghệ sinh học và vật liệu mới. Đồng thời, ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu - phát triển, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia và mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam trong và ngoài nước. Một trọng tâm quan trọng là tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa, cũng như giữa viện nghiên cứu, trường đại học và khu vực sản xuất, nhằm hình thành chuỗi giá trị có khả năng lan tỏa công nghệ và nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp.
Thứ ba, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện gắn với tái cơ cấu kinh tế.
Chuyển đổi số được coi là động lực đột phá của mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy tái cơ cấu ngành kinh tế theo hướng giảm phụ thuộc vào các lĩnh vực thâm dụng lao động, tài nguyên; đồng thời, phát triển mạnh công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao và dịch vụ hiện đại. Nhà nước cần xây dựng hạ tầng số đồng bộ, phát triển nền tảng dữ liệu mở, Chính phủ số và hệ sinh thái dịch vụ số quốc gia. Doanh nghiệp cần được hỗ trợ trong ứng dụng công nghệ số, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo và phát triển kỹ năng số cho lực lượng lao động. Việc chuyển đổi số toàn diện không chỉ nâng cao năng suất lao động và năng lực quản trị mà còn tạo ra mô hình kinh doanh, dịch vụ mới, đóng góp trực tiếp vào phát triển kinh tế bền vững.
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là đột phá chiến lược trong mô hình tăng trưởng mới, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trọng tâm là đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo theo hướng phát triển năng lực, tư duy sáng tạo và kỹ năng thực hành, đặc biệt là kỹ năng số và kỹ năng nghề chất lượng cao. Khuyến khích hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động và đổi mới công nghệ. Đồng thời, cần đầu tư mạnh cho nghiên cứu phát triển trong doanh nghiệp thông qua cơ chế ưu đãi thuế, tín dụng và quỹ khoa học - công nghệ. Song song với đó, cần xây dựng hệ sinh thái học tập suốt đời và các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, tạo môi trường thuận lợi cho chuyển giao, hấp thụ và làm chủ công nghệ tiên tiến.
Thứ năm, thúc đẩy phát triển xanh, bền vững và bao trùm.
Cần cụ thể hóa cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 bằng các chương trình hành động thiết thực: phát triển năng lượng tái tạo, giao thông xanh, nông nghiệp tuần hoàn, đô thị thông minh và công nghiệp sạch. Đồng thời, lồng ghép các mục tiêu xanh vào quy hoạch phát triển vùng, ngành; xây dựng cơ chế tài chính xanh và thị trường carbon; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ thân thiện môi trường. Phát triển bền vững gắn liền với công bằng, bảo đảm an sinh xã hội, thu hẹp khoảng cách vùng miền và nâng cao chất lượng đời sống người dân.
Thứ sáu, đổi mới phương thức lãnh đạo, quản trị và tổ chức thực hiện.
Phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và huy động sự tham gia của toàn xã hội. Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương cần cụ thể hóa các định hướng của Đại hội XIV bằng kế hoạch, chương trình hành động cụ thể, gắn với mục tiêu, chỉ tiêu đo lường rõ ràng. Phát huy vai trò tiên phong của doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân, trong thực thi mô hình tăng trưởng mới.
3. Kết luận
Trong kỷ nguyên mới, khi bối cảnh phát triển trong nước và quốc tế thay đổi nhanh chóng, yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam không chỉ là đạt tốc độ tăng trưởng cao trong ngắn hạn, mà quan trọng hơn là bảo đảm chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của tăng trưởng trong dài hạn. Xác lập mô hình tăng trưởng mới không chỉ là vấn đề lựa chọn chính sách kinh tế, mà là sự chuyển đổi căn bản về tư duy phát triển, phương thức tổ chức nguồn lực và năng lực quản trị quốc gia. Điều này đòi hỏi quyết tâm chính trị cao, cải cách thể chế mạnh mẽ, sự đồng hành của khu vực doanh nghiệp và sự tham gia tích cực của toàn xã hội. Với định hướng đúng đắn và hành động kiên trì, mô hình tăng trưởng mới sẽ trở thành nền tảng quan trọng để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng phát triển nhanh, bền vững, vươn lên trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao trong những thập niên tới.
_________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 2-2026
Nhận bài: 06-01-2026; Ngày bình duyệt:22-02-2026; Ngày duyệt đăng: 27-02-2026.
Email tác giả: thu.nguyenhoai89@gmail.com
(1) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Kinh tế phát triển dùng cho hệ đào tạo cao cấp lý luận chính trị, NXB Lý luận chính trị, 2024.
(2) Trần Thọ Đạt: Các mô hình tăng trưởng kinh tế, NXB Thống kê, 2005.
(3) Huy Thắng: Nghị quyết Đại hội XIV: Quyết sách cho khát vọng tăng trưởng hai con số, https://baochinhphu.vn.
(4) Nghị quyết số 12/NQ-CP ngày 15-01-2026 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 115-KL/TW ngày 16-01-2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15-01-2019 của Bộ Chính trị khóa XII về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế.
(5) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2021, Hà Nội, tr.128.