DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.9433
Tóm tắt: Đại hội XIV đánh dấu bước chuyển quan trọng tư duy đối ngoại của Đảng, từ “giữ gìn” sang “chủ động kiến tạo hòa bình”. Đó là kế thừa và phát triển tư duy đối ngoại của Đảng, vừa đáp ứng yêu cầu tự chủ chiến lược, vừa thể hiện trách nhiệm quốc tế của Việt Nam đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định, phát triển bền vững của khu vực và thế giới. Qua đó nâng cao vị thế, uy tín của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
PGS, TS NGUYỄN SỸ TRUNG
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
ThS LÊ THỊ THU PHƯƠNG
Trường Đại học Giao thông vận tải

1. Mở đầu
Đại hội XIV của Đảng nhận định: “Cục diện thế giới đang chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng, phân mảnh và phân tuyến mạnh… Xung đột, chiến tranh, chạy đua vũ trang công nghệ cao diễn ra ở nhiều khu vực, nguy hiểm hơn, không loại trừ nguy cơ chiến tranh lớn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.77). Đồng thời nêu rõ “trong 5 năm tới, đất nước ta sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, có những mặt gay gắt, nặng nề hơn so với giai đoạn trước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.79-80).
Từ đó, Đại hội đi đến nhận định: “Thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức lớn đan xen; trong nước đang triển khai những quyết sách chiến lược mang tính cách mạng, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới rất cao; đồng thời đây cũng là bước ngoặt mới, vận hội mới mang tính lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.80-81).
Trước bối cảnh mới đầy biến động khó lường ấy, Đại hội XIV đã đề ra đường lối đối ngoại mới: “Ngoại giao kiến tạo hòa bình”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngoại giao kiến tạo hòa bình, là sự tự chủ chiến lược về giữ vững độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, bảo đảm lợi ích quốc gia và mở rộng không gian phát triển mới cho đất nước. Đồng thời, thể hiện trách nhiệm và sự đóng góp tích cực của Việt Nam vào hòa bình, ổn định và phát triển bền vững của khu vực và thế giới. Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: “Đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới phải lấy bản lĩnh, trí tuệ là la bàn định hướng; tin cậy, trách nhiệm là cầu nối hợp tác; hòa hiếu, luật pháp là nơi neo đậu giá trị” (Tô Lâm, 2026). Đây là một bước tiến vượt bậc, thể hiện tư duy mới trong đường lối đối ngoại của Đảng ta, khẳng định Việt Nam đã đủ thực lực để tự tin, chủ động tham gia kiến tạo và định hình các điều kiện hòa bình để phát triển trong kỷ nguyên mới.
2. Nội dung
2.1. Ngoại giao kiến tạo hòa bình là bước phát triển mới trong tư duy đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngoại giao kiến tạo hòa bình là phương thức đối ngoại, trong đó quốc gia chủ động tạo lập, duy trì và định hình các điều kiện hòa bình thông qua đối thoại, hợp tác, xây dựng lòng tin, tôn trọng luật pháp quốc tế và thúc đẩy các lợi ích hài hòa, lâu dài. Khác với cách tiếp cận coi hòa bình chỉ là trạng thái “không có chiến tranh” hoặc kết quả của sự cân bằng quyền lực, ngoại giao kiến tạo hòa bình xem hòa bình là một quá trình chủ động, đòi hỏi tầm nhìn chiến lược, năng lực tổ chức và sự kiên trì trong thực thi chính sách đối ngoại.
Về mặt lịch sử phát triển lý luận, ngoại giao kiến tạo hòa bình trong Văn kiện Đại hội XIV là kết quả của sự kế thừa và phát triển tư duy ngoại giao của Đảng ở các nhiệm kỳ trước. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhất quán theo đuổi đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ như chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tư tưởng “thêm bạn, bớt thù”, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, kết hợp đấu tranh và đối thoại, chính là những biểu hiện sớm của tư duy kiến tạo hòa bình. Đại hội XIII đã nhấn mạnh yêu cầu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, chủ động hội nhập quốc tế, không để bị động, bất ngờ trước các biến động từ bên ngoài: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.161). Đại hội XIII xác định ngoại giao là công cụ quan trọng để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và tránh bị cuốn vào xung đột. Tuy vậy, Đại hội chưa xác định một cách rõ ràng trong vai trò chủ động kiến tạo môi trường hòa bình hay định hình cấu trúc quan hệ quốc tế theo hướng kiến tạo hòa bình ở tầm chiến lược. Vì thế, vai trò của đối ngoại ở đây được nhấn mạnh nhiều hơn ở khía cạnh giữ vững nguyên tắc, hơn là ở năng lực chủ động thiết kế không gian phát triển và mở rộng dư địa chiến lược.
Điểm mới căn bản của Đại hội XIV không chỉ dừng lại ở việc tiếp tục khẳng định giá trị của hòa bình, mà ở sự nâng tầm và hệ thống hóa tư duy này thành một nội hàm kiến tạo rõ nét, chủ động và mang tính chiến lược sâu sắc. Tư duy đó đã có bước phát triển về chất, khi xác định đối ngoại là lực lượng tiên phong trong việc kiến tạo môi trường hòa bình bền vững: “phát huy vai trò đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân trong việc kiến tạo môi trường hoà bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.146).
Trong tầm nhìn mới, ngoại giao kiến tạo hòa bình không còn đơn thuần là công cụ bảo vệ trạng thái ổn định, mà trở thành phương thức chủ động để hiện thực hóa tự chủ chiến lược, gắn chặt với mục tiêu nâng cao vị thế quốc gia và năng lực định hình “luật chơi” ở cả cấp độ khu vực và toàn cầu. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc chủ động tạo lập và giữ vững môi trường quốc tế thuận lợi; đồng thời yêu cầu sự tham gia tích cực, có trách nhiệm vào việc xây dựng các chuẩn mực, thể chế và cơ chế đa phương mới. Đây chính là biểu hiện sinh động của sự chuyển dịch từ vị thế quốc gia “tham gia” sang quốc gia “kiến tạo”, dùng bản lĩnh đối ngoại để mở rộng dư địa phát triển và khẳng định quyền tự quyết dân tộc trong một thế giới đầy biến động.
Như vậy, điểm khác biệt căn bản trong tư duy đối ngoại chính là sự chuyển dịch từ trạng thái “giữ gìn” của Đại hội XIII sang “chủ động kiến tạo” trong Văn kiện Đại hội XIV. Đây là bước tiến về chất trong tư duy cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam: chuyển từ tự chủ mang tính phòng thủ sang kiến tạo, từ ngoại giao thích ứng sang ngoại giao định hình luật chơi. Bước phát triển này không chỉ phản ánh bản lĩnh của Đảng mà còn là yêu cầu tất yếu để dân tộc bứt phá trong một thế giới biến động nhanh chóng và khó lường. Sự phát triển này đặt đối ngoại vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Tư duy mới xác lập rằng: “Đối ngoại và hội nhập quốc tế phải là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, “đặt đối ngoại ở một vị trí trung tâm, với trách nhiệm và vai trò cao hơn đối với an ninh và phát triển của đất nước: Giữ vững hòa bình để ổn định, ổn định để phát triển, phát triển để nâng cao sức mạnh tổng thể của đất nước” (Tô Lâm, 2026). Điều này là minh chứng rõ nét sự đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
2.2. Ngoại giao kiến tạo hòa bình là sự kết tinh của mạch nguồn dân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại và thời đại
Trước hết, tư duy này bám rễ sâu sắc trong truyền thống ngoại giao hòa hiếu, nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Suốt chiều dài lịch sử, chúng ta đã hình thành một triết lý giữ nước độc đáo: không lấy chiến tranh làm mục đích, mà lấy hòa bình làm nền tảng cho sự trường tồn. Dẫn chứng tiêu biểu nhất của tinh thần ngoại giao này là sau khi đánh bại các thế lực xâm lược hùng mạnh, thay vì theo đuổi sự tận diệt hay gieo rắc hận thù, các triều đại phong kiến Việt Nam đã chủ động thực hiện chính sách “nhu vi thượng”, mở đường cho đối phương rút quân trong danh dự để nhanh chóng lập lại hòa bình. Việc triều Lê sơ chủ động cấp lương thực, thuyền bè và ngựa cho quân Minh bại trận về nước không chỉ đơn thuần là hành động nhân đạo, mà là một bước đi chiến lược mang tính kiến tạo: dùng nhân nghĩa để hóa giải xung đột, dùng thiện chí để ngăn ngừa họa binh đao trong tương lai. Đó chính là những mầm mống sơ khai nhưng vô cùng quan trọng của tư duy ngoại giao kiến tạo hòa bình - lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo.
Mạch nguồn truyền thống quý báu đó đã được Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa và nâng lên tầm cao mới dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây chính là cơ sở lý luận cốt yếu nhất, tạo nên bản chất cách mạng và nhân văn cho ngoại giao Việt Nam hiện đại.
Với nhãn quan của chủ nghĩa Mác - Lênin, “hòa bình chân chính” gắn liền với việc xóa bỏ áp bức, bất công và xây dựng một trật tự quốc tế công bằng, dựa trên sự tôn trọng tuyệt đối quyền tự quyết của các dân tộc. Ngay từ những ngày đầu của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, V.I. Lênin đã nâng tầm vấn đề bảo vệ hòa bình thành nhiệm vụ sống còn của nhân loại. Thông qua “Sắc lệnh về Hòa bình”, Người đã tuyên bố: Chiến tranh là một tội ác lớn nhất đối với nhân loại. Bằng việc vạch trần bản chất của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động là căn nguyên của sự hủy diệt và kìm hãm phát triển, V.I. Lênin khẳng định bản chất ưu việt, yêu chuộng hòa bình của Nhà nước xã hội chủ nghĩa: “Phong trào công nhân sẽ giành được phần thắng và sẽ vạch ra con đường đi tới hòa bình và chủ nghĩa xã hội” (V.I.Lênin, 1978, tr.19). Tư duy này xác lập một chân lý: Hòa bình bền vững chỉ có thể đạt được khi các dân tộc được giải phóng khỏi ách thống trị và cùng nhau xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
Vận dụng sáng tạo thế giới quan của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng vững chắc cho nền ngoại giao hòa bình Việt Nam với tôn chỉ nhất quán: “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.256). Trước âm mưu thủ đoạn của chủ nghĩa thực dân mới, Người vẫn luôn kiên định lập trường: “Về quan hệ quốc tế, chúng tôi luôn luôn trung thành với chính sách hòa bình và hợp tác giữa các nước trên cơ sở năm nguyên tắc chung sống hòa bình” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.271). Theo Hồ Chí Minh, hòa bình là lợi ích chung của tất cả các dân tộc, do đó việc đấu tranh cho hòa bình thế giới chính là bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc từ gốc, bởi lẽ: “giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta. Vì lợi ích của nhân dân lao động khắp thế giới là nhất trí” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.273). Theo Người, ngoại giao Việt Nam chưa bao giờ mưu cầu bá quyền hay áp đặt sức mạnh, mà luôn kiên trì mục tiêu bảo vệ hoà bình cho dân tộc và góp phần vào hòa bình và tiến bộ của thế giới.
Trí tuệ của Đảng hôm nay chính là sự vận dụng sáng tạo các nguyên tắc ấy vào một thế giới đa cực, nơi Việt Nam không chỉ thích ứng mà còn chủ động dẫn dắt các sáng kiến hòa bình. Đây chính là mạch nguồn lý luận quan trọng nhất để Đảng ta phát triển thành tư duy “ngoại giao kiến tạo hòa bình” trong kỷ nguyên mới: gắn vận mệnh của dân tộc với dòng chảy tiến bộ của nhân loại, lấy sự ổn định của thế giới làm dư địa để bứt phá và phát triển đất nước.
Đối với Việt Nam một dân tộc đã trải qua những mất mát đau thương, thì hòa bình là tài sản vô giá được đánh đổi bằng xương máu. Tại kỷ niệm 80 năm thành lập Liên hợp quốc, Chủ tịch nước Lương Cường đã khẳng định: “Hơn ai hết, Việt Nam thấu hiểu sâu sắc giá trị quý báu của hòa bình... Hoà bình vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện tiên quyết cho hành trình xây dựng tương lai ổn định, công bằng, dân chủ và phát triển thịnh vượng” (Việt Cường, 2025). Nhận thức sâu sắc quy luật đó, tư duy ngoại giao kiến tạo hòa bình trong Văn kiện Đại hội XIV là bước đi hoàn toàn phù hợp xu thế thời đại. Việc Đảng Cộng sản Việt Nam đề cao mục tiêu kiến tạo hòa bình không chỉ nhằm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa mà còn thể hiện trách nhiệm quốc tế cao cả.
Trong bối cảnh thế giới biến động phức tạp hiện nay, nguy cơ xung đột đe dọa sự sinh tồn của nhân loại, hòa bình đã trở thành thước đo cao nhất cho mọi sự phát triển. Thực tế chứng minh, không một quốc gia nào có thể đạt tăng trưởng bền vững hay nâng cao chất lượng sống nếu thiếu môi trường hòa bình ổn định. Mọi thành quả giáo dục, y tế và kinh tế sẽ bị triệt tiêu trước sức tàn phá của chiến tranh. Theo Chỉ số hòa bình toàn cầu (Global Peace Index - GPI), mức độ hòa bình của một quốc gia được đo lường dựa trên các tiêu chí như mức độ an toàn xã hội, xung đột trong và ngoài nước, cùng mức độ quân sự hóa. Các quốc gia có GPI cao thường duy trì ổn định chính trị, tôn trọng nhân quyền và bảo đảm an ninh con người, đây là những yếu tố nền tảng để phát triển bền vững. Đáng chú ý, các nghiên cứu của Liên hợp quốc và tổ chức World Happiness Report chỉ ra mối tương quan chặt chẽ giữa chỉ số hòa bình (GPI) và chỉ số hạnh phúc (HPI). Những quốc gia có mức độ hòa bình cao như Phần Lan, Đan Mạch hay Iceland không chỉ ít xung đột mà còn nằm trong nhóm quốc gia hạnh phúc nhất thế giới. Điều này cho thấy rằng, hòa bình không chỉ là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế - xã hội mà còn là nền tảng tinh thần cho hạnh phúc của con người.
Tư duy ngoại giao kiến tạo hòa bình trong Văn kiện Đại hội XIV còn là sự đúc kết từ thực tiễn hào hùng của 40 năm đổi mới. Thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới đã tạo ra một vị thế và thực lực mới chưa từng có, cho phép Việt Nam bước ra khỏi trạng thái thích ứng thụ động để chủ động định hình không gian phát triển. Đặc biệt, tư duy mới này hoàn toàn tương thích với định hướng đặt mục tiêu hòa bình và độc lập lên hàng đầu trong hệ thống giá trị quốc gia, đó là mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội: “hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.44).
Ngoại giao kiến tạo hòa bình không còn là phương thức hỗ trợ đơn thuần, mà đã trở thành lực lượng tiên phong mở đường, tạo lập “lá chắn” bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc từ sớm, từ xa. Việc chủ động tham gia xây dựng các khuôn khổ pháp lý quốc tế, thúc đẩy đối thoại đa phương và hóa giải mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình không chỉ khẳng định vị thế của Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm, mà còn là công cụ để thực thi tự chủ chiến lược một cách bền vững nhất.
2.3. Ngoại giao kiến tạo hòa bình là sự tự chủ chiến lược trong đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới
Trong tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội XIV, mối quan hệ giữa tự chủ chiến lược và ngoại giao kiến tạo hòa bình không chỉ đơn thuần là sự phối hợp mà là mối quan hệ nhân quả tất yếu: Tự chủ là nền tảng, kiến tạo là phương thức; không có tự chủ thì không thể có kiến tạo thực chất. Chỉ khi quốc gia làm chủ được vận mệnh, không lệ thuộc vào các trung tâm quyền lực, thì các sáng kiến hòa bình mới có giá trị và sức nặng thực tiễn. Để kiến tạo thành công, Việt Nam phải thực hiện phương châm mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ: ““Chủ động chiến lược” trong mọi tình huống, giữ cho “trong ấm, ngoài êm”: giữ ổn định, phát triển ở bên trong, giữ hòa bình, hợp tác với bên ngoài” (Tô Lâm, 2026).
Thứ nhất, ngoại giao kiến tạo hòa bình chỉ có hiệu quả khi được bảo đảm bằng thực lực tự chủ. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.147). Trong thế giới phân tuyến, một quốc gia thiếu tự chủ chiến lược về kinh tế, chính trị và quốc phòng sẽ dễ rơi vào tình trạng bị dẫn dắt hoặc trở thành quân bài trong mối quan hệ giữa các nước lớn. Khi đó, mọi lời kêu gọi hòa bình đều trở nên yếu ớt. Ngược lại, khi Việt Nam kiên định đường lối độc lập, tự chủ, chúng ta mới có đủ bản lĩnh để đưa ra các đề xuất, định hình các cơ chế đa phương. Thực lực tự chủ chính là “sức nặng” giúp tiếng nói kiến tạo hòa bình của Việt Nam vang xa và có tầm ảnh hưởng.
Thứ hai, tự chủ chiến lược tạo ra không gian độc lập để ngoại giao chủ động định hình kiến tạo hòa bình. Đại hội XIV nhấn mạnh việc chuyển từ “thích ứng” sang “kiến tạo”. Muốn thực hiện được bước chuyển này, quốc gia phải có khả năng tự quyết trong việc lựa chọn đối tác và phương thức hợp tác mà không bị chi phối bởi sức ép bên ngoài. Tự chủ chiến lược cho phép ngoại giao Việt Nam giữ vững vị thế trung tâm, đóng vai trò là “cầu nối” hòa giải và là nhân tố thúc đẩy lòng tin giữa các cường quốc đang đối đầu. Nếu không giữ được sự tự chủ, ngoại giao sẽ chỉ dừng lại ở mức “phòng ngự” hoặc “thích ứng” thụ động trước những biến động, thay vì chủ động thiết kế một môi trường quốc tế hòa bình có lợi cho dân tộc.
Thứ ba, sự gắn kết giữa tự chủ và kiến tạo là bảo chứng cho một nền hòa bình bền vững. Ngoại giao kiến tạo hòa bình không phải là sự thỏa hiệp vô nguyên tắc, mà là quá trình đấu tranh và đối thoại trên cơ sở bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, hòa bình chân chính phải đi đôi với độc lập, tự do. Vì vậy, ngoại giao kiến tạo chỉ có thể thành công khi nó củng cố thêm sức mạnh tự chủ của đất nước và ngược lại, chính khả năng tự chủ giúp chúng ta hóa giải các thách thức an ninh, ngăn ngừa xung đột từ sớm, từ xa.
Có thể nói, tự chủ chiến lược và ngoại giao kiến tạo hòa bình là hai mặt của một chỉnh thể thống nhất. Muốn kiến tạo hòa bình hiệu quả, phải có nội lực tự chủ mạnh mẽ; và thông qua ngoại giao kiến tạo, vị thế tự chủ của đất nước lại càng được nâng cao. Đây là chiến lược để Đảng Cộng sản Việt Nam đưa đất nước bứt phá mạnh mẽ, giữ vững độc lập và chủ quyền trong một thế giới đầy biến động của kỷ nguyên mới.
2.4. Giá trị tư duy ngoại giao kiến tạo hòa bình của Đảng Cộng sản Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Trong bối cảnh thế giới đầy biến động, tư duy ngoại giao kiến tạo hòa bình của Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành một giá trị chiến lược đặc biệt, phản ánh bản sắc dân tộc và bản lĩnh quốc gia trong kỷ nguyên mới. Giá trị này được thể hiện qua các phương diện cơ bản sau:
Thứ nhất, ngoại giao kiến tạo hòa bình khẳng định bản chất nhân văn và thượng tôn luật pháp quốc tế. Ngoại giao Việt Nam lấy nhân nghĩa làm gốc, coi hòa bình là mục tiêu tự thân và giá trị cốt lõi. Khác với ngoại giao cường quyền dựa trên quyền lực thực dụng, Việt Nam chủ trương hài hòa lợi ích bằng đối thoại bình đẳng: “Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, an ninh, tích cực tham gia hiệu quả các hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc, hỗ trợ nhân đạo, tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ thảm họa, khắc phục hậu quả chiến tranh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.115). Điển hình cho tư duy kiến tạo này là việc Việt Nam chủ trì ký kết Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội) với sự tham gia của 60 quốc gia và tổ chức quốc tế. Đây là văn kiện lịch sử không chỉ định hướng hợp tác đa phương mà còn xác lập các nguyên tắc về hòa bình, ngăn ngừa xung đột và tôn trọng đa dạng văn hóa trên toàn cầu. Bên cạnh đó, việc kiên trì, mạnh mẽ kêu gọi Mỹ xóa bỏ cấm vận Cuba tại Liên hợp quốc đã khẳng định bản lĩnh tự chủ chiến lược và chính nghĩa của dân tộc. Việc đặt công lý lên trên sức mạnh cường quyền đã tạo nên bản sắc ngoại giao đặc sắc, đóng góp tích cực vào tiến bộ chung của nhân loại.
Thứ hai, ngoại giao kiến tạo hòa bình là cơ sở và điều kiện bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Vai trò tiên phong của ngoại giao được nâng tầm từ “giữ vững” sang chủ động “kiến tạo”. Bằng việc tham gia các cơ chế đa phương, Việt Nam thiết lập những “hàng rào an ninh mềm”, hóa giải nguy cơ xung đột ngay từ mầm mống. Theo tinh thần Đại hội XIV, ngoại giao kiến tạo bảo đảm môi trường ổn định để đất nước tập trung nguồn lực phát triển kinh tế, khẳng định triết lý: bảo đảm hòa bình để phát triển và phát triển để củng cố hòa bình.
Thứ ba, ngoại giao kiến tạo hòa bình, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược và uy tín quốc gia. Ngoại giao kiến tạo hòa bình giúp Việt Nam duy trì thế cân bằng linh hoạt trên nền tảng độc lập, tự chủ, không rơi vào vòng xoáy đối đầu liên minh. Việc tích cực tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan và Trung Phi đã chuyển hóa tư duy “kiến tạo” thành hành động thực chất. Những hình ảnh về đội Công binh và Bệnh viện dã chiến Việt Nam không chỉ khẳng định vị thế một dân tộc tự cường mà còn minh chứng cho việc định hình các luật lệ quốc tế, chuyển đổi vị thế Việt Nam từ “người tham gia” sang “người dẫn dắt”. Điều này làm tăng mạnh “quyền lực mềm” và trọng lượng tiếng nói của đất nước, khẳng định Việt Nam luôn hành động vì một trật tự quốc tế công bằng, hòa bình và hạnh phúc trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
Thứ tư, ngoại giao kiến tạo hòa bình là cầu nối huy động nguồn lực phát triển. Trong thế giới phân tuyến, ngoại giao kiến tạo hòa bình là chìa khóa xây dựng lòng tin chiến lược, thu hút vốn đầu tư chất lượng cao và công nghệ lõi. Nó chuyển hóa các quan hệ chính trị tốt đẹp thành kết quả kinh tế thực chất. Đồng thời, thông qua hỗ trợ an ninh lương thực và nhân đạo quốc tế, Việt Nam đã góp phần giải quyết căn nguyên của bất ổn toàn cầu, gắn lợi ích dân tộc với sự ổn định chung của thế giới.
Thứ năm, ngoại giao kiến tạo hòa bình trở thành giá trị tham chiếu trong trật tự quốc tế mới. Thực tiễn Việt Nam chứng minh, một quốc gia không cần sức mạnh cường quyền vẫn có thể bảo vệ lợi ích chiến lược bằng trí tuệ và uy tín. Đây là “kinh nghiệm phát triển” mang ý nghĩa thời đại, phản ánh tầm nhìn dài hạn của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tương lai nhân loại.
2.5. Những giải pháp phát huy giá trị tư duy ngoại giao kiến tạo hòa bình trong bối cảnh lịch sử mới
Trong bối cảnh tình hình quốc tế đang trải qua những biến động sâu sắc và yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới mà Đại hội XIV đề ra, việc phát triển tư duy “ngoại giao kiến tạo hòa bình” của Đảng Cộng sản việt Nam trong bối cảnh lịch sử mới là sự lựa chọn chiến lược tất yếu. Để chuyển hóa tư duy này thành nguồn lực vật chất bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc trong kỷ nguyên mới, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại nói chung và ngoại giao kiến tạo hòa bình nói riêng. Đây là nhân tố quyết định giữ vững bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa, tính nhân văn trong văn hóa Việt Nam, từ đó quy định bản chất đối ngoại nhân văn, vì hòa bình và chính nghĩa. Sự lãnh đạo, quản lý thống nhất giúp đối ngoại giữ vững bản lĩnh chính trị trước sức ép cường quyền và phối hợp nhịp nhàng giữa ba trụ cột: Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân. Bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng chính là bảo vệ “phần hồn” của ngoại giao Việt Nam, giúp đất nước luôn là chủ thể tin cậy trong kiến tạo hòa bình toàn cầu.
Thứ hai, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược và củng cố nội lực quốc gia. Ngoại giao kiến tạo hòa bình chỉ thực sự có giá trị khi đặt trên cơ sở độc lập, tự chủ. Việt Nam cần không ngừng tăng cường sức mạnh tổng hợp, từ kinh tế, khoa học - công nghệ đến an ninh, quốc phòng. Nội lực vững chắc giúp chúng ta chủ động xử lý linh hoạt quan hệ với các nước lớn theo phương châm “kiên định nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược”, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc mà không bị cuốn vào vòng xoáy cạnh tranh địa chính trị.
Thứ ba, nâng cao năng lực dự báo chiến lược để chủ động kiến tạo hòa bình từ sớm, từ xa. Trong thế giới đầy biến động, ngoại giao phải đi trước một bước thông qua việc nhận diện, đánh giá đúng các xu hướng địa chính trị và rủi ro tiềm ẩn: “Coi trọng và đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược”. Chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy “giữ gìn” sang chủ động “kiến tạo”, Việt Nam cần nâng tầm công tác dự báo chiến lược để không bị động trước các bất ngờ chính trị toàn cầu. Theo tinh thần Đại hội XIV, năng lực dự báo chính xác là tiền đề để chúng ta chủ động đóng góp sáng kiến và “định hình luật chơi” tại các diễn đàn đa phương như ASEAN, Liên hợp quốc… Việc kết hợp chặt chẽ dự báo chiến lược với bản sắc “ngoại giao cây tre”, ngoại giao số và ngoại giao văn hóa sẽ giúp chúng ta hóa giải các thách thức, xây dựng lòng tin chiến lược và bảo đảm môi trường hòa bình bền vững cho sự phát triển của đất nước.
Thứ tư, xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao tinh nhuệ, ngang tầm nhiệm vụ. Con người là chủ thể thực hiện chiến lược, cho nên cần đào tạo đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị kiên định, am tường luật pháp quốc tế và kỹ năng đàm phán sắc bén: “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp với đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn cao” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.118). Mỗi cán bộ phải là một sứ giả của hòa bình, mang tâm thế của một quốc gia tự cường, sẵn sàng “tác chiến” trên các mặt trận đối ngoại cam go để bảo vệ Tổ quốc và đóng góp cho sự ổn định toàn cầu.
Thứ năm, gắn kết chặt chẽ giữa đối ngoại, quốc phòng và an ninh, hình thành thế chân kiềng vững chắc để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Ngoại giao kiến tạo hòa bình giúp giảm thiểu xung đột, tạo môi trường thuận lợi để củng cố tiềm lực quân sự. Ngược lại, một nền quốc phòng mạnh mẽ là điểm tựa để tiếng nói ngoại giao có trọng lượng hơn. Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Kỷ nguyên mới đòi hỏi phải triển khai “đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới”: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc; lấy hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm” (Tô Lâm, 2026). Đây chính là những phương châm hành động cụ thể để Việt Nam khẳng định vai trò kiến tạo, biến các giá trị nhân văn của chủ nghĩa xã hội Việt Nam thành những đóng góp thực tế cho sự ổn định toàn cầu.
Để hiện thực hóa vai trò kiến tạo hòa bình, ngoại giao Việt Nam phải được trang bị những công cụ hiện đại. Đó là xây dựng nền ngoại giao thông minh với trí tuệ nhân tạo đóng vai trò là trợ lý chiến lược trong phân tích tình hình và dự báo rủi ro. Việc làm chủ công nghệ số không chỉ giúp chúng ta tối ưu hóa nguồn lực mà còn thể hiện một Việt Nam trí tuệ, sẵn sàng hội nhập và đóng góp những giải pháp công nghệ vào công cuộc gìn giữ hòa bình chung của nhân loại.
3. Kết luận
Tư duy ngoại giao kiến tạo hòa bình trong Văn kiện Đại hội XIV đánh dấu bước đột phá đổi mới về đường lối ngoại giao của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tư duy đối ngoại mới của Đảng thể hiện sự chuyển dịch từ bị động thích ứng sang chủ động định hình kiến tạo môi trường quốc tế, đóng góp cho hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc trên thế giới. Đây không chỉ là sự kế thừa truyền thống hòa hiếu của dân tộc và tinh hoa lý luận cách mạng, mà còn là biểu hiện sinh động của bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược của Đảng ta, là nhân tố quan trọng góp phần đưa đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới.
Ngày nhận bài: 26-3-2026; Ngày bình duyệt:01-5-2026; Ngày quyết định đăng: 20-5-2026.
Email tác giả: nguyensitrungdhgtvt@gmail.com
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập 1) Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (tập 4). Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (tập 5). Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập (tập 8). Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Hồ Chí Minh (2011d). Toàn tập (tập 11). Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Tô Lâm (2026). Đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới. Báo điện tử chính phủ. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/
V.I.Lênin (1978). Toàn tập (tập 35). Nxb.Tiến bộ.
Việt Cường (2025). Chủ tịch nước: Tôn vinh giá trị hoà bình, kiến tạo tương lai bền vững. Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam. https://vov.vn.
2