DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.6219
Tóm tắt: Bài viết phân tích quan điểm Đại hội XIV về phòng ngừa, ứng phó với tác động từ khủng hoảng kinh tế và chiến tranh xung đột; từ đó đề xuất một số giải pháp chủ động phòng ngừa, ứng phó hiệu quả nhằm bảo đảm mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.
TS MAI THÚC HIỆP
Trường Đại học Sài Gòn

1. Mở đầu
Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới” (ĐCSVN, 2026a, tr.79); đồng thời, đặt ra mục tiêu phát triển là “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc (...) hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao” (ĐCSVN, 2026a, tr.84). Đặc biệt, sau 40 năm đổi mới, Đảng ta đã bổ sung “lý luận về đường lối đổi mới” trở thành một bộ phận trong nền tảng tư tưởng của Đảng. Để hiện thực hóa mục tiêu đã được xác định tại Đại hội XIV của Đảng, điều kiện tiên quyết là duy trì môi trường hòa bình, ổn định và kiểm soát hiệu quả các nguy cơ khủng hoảng.
Bối cảnh thế giới hiện nay, với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số toàn cầu, tái cấu trúc chuỗi cung ứng, biến đổi khí hậu, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và sự gia tăng của các điểm nóng xung đột đã tạo ra một môi trường quốc tế đầy biến động, khó lường, nguy cơ khủng hoảng kinh tế không chỉ là hiện tượng cục bộ, mà trở thành yếu tố thường trực ảnh hưởng đến ổn định và phát triển của các quốc gia.
Đối với Việt Nam, một nền kinh tế có độ mở cao, đang trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, mọi biến động của kinh tế, chính trị thế giới đều có tác động trực tiếp và sâu sắc. Trong bối cảnh mới, chống khủng hoảng kinh tế và chống chiến tranh xung đột không chỉ là nhiệm vụ đối ngoại hay quốc phòng, an ninh đơn thuần, mà là vấn đề chiến lược có ý nghĩa sống còn đối với nhiệm vụ phát triển đất nước.
2. Nội dung
2.1. Quan điểm của Đại hội XIV về chống khủng hoảng kinh tế và chiến tranh xung đột
Tại Đại hội XIV, trên cơ sở khẳng định tiến trình xây dựng và từng bước được hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, Đảng đã khái quát thành định nghĩa để bổ sung vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Theo đó, “lý luận về đường lối đổi mới là tổng thể các quan điểm, mục tiêu, tầm nhìn, định hướng phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” (ĐCSVN, 2026a, tr.76). Như vậy, Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới trên nền tảng kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới.
Đại hội nhận định, đất nước đang đứng trước những thời cơ lớn đan xen với thách thức chưa từng có. Đại hội chỉ rõ, bối cảnh quốc tế biến động nhanh, phức tạp, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; xung đột cục bộ, chiến tranh, bất ổn chính trị, an ninh phi truyền thống gia tăng (ĐCSVN, 2026a, tr.77-79). Trong điều kiện như vậy, yêu cầu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển nhanh và bền vững không chỉ là định hướng chiến lược, mà còn là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ đó, chủ động ứng phó với tác động từ khủng hoảng kinh tế và chiến tranh xung đột trở thành nhiệm vụ chiến lược để bảo đảm vững chắc nhiệm vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thứ nhất, Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; nâng cao năng lực nội tại, tính tự chủ và khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài.
Quan điểm nhất quán của Đảng tại Đại hội XIV là xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả: “nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế và hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, sức mạnh tổng hợp và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế” (ĐCSVN, 2026a, tr.89). Độc lập, tự chủ không phải là khép kín, mà là nâng cao nội lực, đa dạng hóa thị trường, đối tác, chuỗi cung ứng; làm chủ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển mạnh khu vực kinh tế trong nước, đặc biệt là kinh tế tư nhân; tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Khi năng lực nội sinh được củng cố, nền kinh tế sẽ có “sức đề kháng” cao hơn trước các cú sốc từ bên ngoài, hạn chế nguy cơ khủng hoảng lan rộng thành bất ổn xã hội. Đây là quan điểm có ý nghĩa chiến lược trong phòng ngừa và ứng phó với các nguy cơ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhất là trong bối cảnh kinh tế thế giới tiềm ẩn suy thoái, lạm phát cao, biến động tài chính - tiền tệ và đứt gãy chuỗi cung ứng.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược và các điểm nóng khu vực gia tăng, Đại hội nhấn mạnh yêu cầu “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc” (ĐCSVN, 2026a, tr.84). Điều đó cho thấy, ứng phó với chiến tranh xung đột không chỉ là nhiệm vụ của lực lượng vũ trang, mà là tổng thể các giải pháp chính trị, ngoại giao, kinh tế, quốc phòng và an ninh. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế chính là “tuyến phòng thủ từ xa” để ngăn ngừa nguy cơ xung đột, tạo dựng môi trường thuận lợi cho phát triển.
Trong bối cảnh mới, Đảng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh. Thực tiễn đã chỉ rõ, kinh tế vững mạnh là cơ sở vật chất cho quốc phòng; ngược lại, quốc phòng, an ninh vững chắc là điều kiện bảo đảm cho kinh tế phát triển ổn định, lâu dài. Từ góc độ toàn diện, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định mối quan hệ chiến lược: “Phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng tinh thần; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên” (ĐCSVN, 2026a, tr.81-82).
Như vậy, theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, phòng ngừa, ứng phó khủng hoảng kinh tế, chiến tranh xung đột là sự kết hợp đồng bộ, chủ động và chiến lược giữa các nhiệm vụ, là điều kiện để đất nước vững bước trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh và hạnh phúc.
2.2. Thực tiễn ứng phó khủng hoảng, giữ vững ổn định, tạo nền tảng phát triển Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025
Thứ nhất, ứng phó đại dịch Covid-19 và phục hồi tăng trưởng kinh tế
Giai đoạn 2020 - 2025 mở đầu bằng cú sốc chưa từng có, đó là sự bùng phát của đại dịch Covid-19 trên toàn cầu. Năm 2020, tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 2,91%, ở mức thấp nhất trong nhiều năm, nhưng vẫn nằm trong nhóm cao nhất thế giới trong bối cảnh suy thoái toàn cầu. Với chiến lược thích ứng linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh và triển khai Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, năm 2022 tăng trưởng đạt 8,02%, mức cao nhất trong hơn một thập niên. Tính chung cho cả giai đoạn 2021 - 2025, tăng trưởng đạt 6,2%. GDP bình quân đầu người tiếp tục tăng nhanh, năm 2020 đạt 3.586 USD; năm 2022 đạt 4.109 USD; năm 2023 đạt 4.323 USD; năm 2024 đạt 4.700 USD và năm 2025 đạt 5.026 USD (ĐCSVN, 2026b, tr.115). Tổng quy mô GDP năm 2025 ước đạt 510 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới và thứ 4 trong khu vực ASEAN; GDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 5.026 USD (ĐCSVN, 2026b, tr.114). Những con số này cho thấy năng lực chống chịu và phục hồi đáng kể của nền kinh tế Việt Nam trong điều kiện khủng hoảng toàn cầu.
Thực tiễn đó khẳng định tính đúng đắn của đường lối kết hợp chặt chẽ giữa ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội. Trong điều kiện đại dịch, Nhà nước đã triển khai các gói hỗ trợ tài khóa và tiền tệ với quy mô hàng trăm nghìn tỷ đồng, đồng thời kiểm soát lạm phát ở mức thấp, góp phần duy trì ổn định xã hội.
Thứ hai, ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh biến động phức tạp
Từ năm 2022, tác động của xung đột Nga - Ukraine làm gia tăng giá năng lượng và lương thực toàn cầu, tạo áp lực lớn đối với lạm phát và chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh đó, Việt Nam vẫn duy trì được mức lạm phát bình quân khoảng 3 - 3,5%/năm giai đoạn 2022 - 2025; cán cân thương mại liên tục thặng dư, cụ thể năm 2025 ghi dấu một bước phát triển vượt bậc của hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam khi tổng kim ngạch đạt 930,05 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 475,04 tỷ USD (Cục Thống kê, 2026); dự trữ ngoại hối được củng cố. Điều này phản ánh hiệu quả của chiến lược đa dạng hóa thị trường và tận dụng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như CPTPP, EVFTA, RCEP.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng có xu hướng chậm lại qua các năm (khoảng 5 - 6%) do suy giảm nhu cầu toàn cầu, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu điện tử, dệt may, da giày. Thực tiễn đó cho thấy tính dễ tổn thương của nền kinh tế có độ mở cao trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp bách về tái cơ cấu mô hình tăng trưởng, nâng cao giá trị gia tăng nội địa và phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Thứ ba, an sinh xã hội được bảo đảm và niềm tin xã hội được củng cố và tăng cường
Trong những năm 2020 - 2022, đại dịch Covid-19 đã khiến hàng triệu lao động bị mất việc làm hoặc giảm thu nhập do giãn cách xã hội và đứt gãy chuỗi cung ứng. Nhà nước đã triển khai các gói hỗ trợ trực tiếp cho người lao động và doanh nghiệp; tăng cường chính sách bảo hiểm thất nghiệp; hỗ trợ đào tạo lại lao động.
Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tiếp tục duy trì trong nhóm các nước có mức phát triển con người cao (đạt 0,766 điểm); tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 95,2% dân số (ĐCSVN, 2026b, tr.51-52). Những chỉ số này cho thấy, trong điều kiện kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn, Việt Nam vẫn giữ được định hướng phát triển bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau. Đây là yếu tố quan trọng bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, tạo nền tảng tinh thần cho phát triển lâu dài.
Thứ tư, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển với củng cố quốc phòng, an ninh và đối ngoại
Giai đoạn 2020 - 2025 dù đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định vị thế là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia tích cực vào các cơ chế đa phương khu vực và toàn cầu. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược gia tăng ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; không liên minh quân sự; không chọn bên; không để bị lôi kéo vào các xung đột địa chính trị. Đồng thời, tiềm lực quốc phòng, an ninh được củng cố; thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân được tăng cường. Quan điểm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” được cụ thể hóa bằng các chiến lược, quy hoạch và chương trình hành động cụ thể.
Có thể thấy, ứng phó thành công với khủng hoảng kinh tế và các thách thức an ninh trong bối cảnh toàn cầu bất định không chỉ dựa vào các giải pháp ngắn hạn mà phải đặt trong chiến lược tổng thể, kết hợp chặt chẽ giữa giữ vững hòa bình, ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy phát triển bền vững. Qua thực tiễn ứng phó, Việt Nam đã tích lũy được nhiều bài học có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Những bài học này không chỉ có ý nghĩa đối với giai đoạn trước mắt, mà còn có giá trị định hướng lâu dài trong bảo đảm nhiệm vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
2.3. Chủ động ứng phó có hiệu quả với khủng hoảng kinh tế, chiến tranh xung đột để phát triển nhanh và bền vững đất nước
Bức tranh toàn cảnh thế giới cho thấy một bàn cờ địa chính trị đang biến động khó lường: xung đột Nga - Ukraine chưa có hồi kết; tại vùng biển Caribe khi Cuba đang có những bước đi tìm kiếm giải pháp tháo gỡ sự bao vây cấm vận của Mỹ; chảo lửa Trung Đông với những toan tính về dầu mỏ và quyền lực đang thử thách giới hạn của nhiều quốc gia - dân tộc...
Thế giới đang vận hành theo một quy tắc vô cùng khắc nhiệt, chứng kiến sự chuyển đổi sâu sắc của cấu trúc kinh tế - chính trị toàn cầu. Toàn cầu hóa, chuyển đổi số, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ kéo dài, khủng hoảng tài chính, dịch bệnh, biến đổi khí hậu và các mối đe dọa an ninh phi truyền thống đã làm gia tăng tính bất định của môi trường quốc tế. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ giữa hòa bình, ổn định và phát triển không chỉ mang ý nghĩa lý luận, mà còn có giá trị định hướng thực tiễn đặc biệt quan trọng đối với mọi quốc gia, nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam.
Đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về tốc độ, chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng. Tuy nhiên, môi trường quốc tế và khu vực tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; xung đột cục bộ, chiến tranh phi truyền thống và các thách thức an ninh phi truyền thống đan xen. Trong bối cảnh đó, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; chủ động ứng phó hiệu quả với các cú sốc kinh tế và nguy cơ xung đột; bảo đảm vững chắc nền tảng cho mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ: “Một đất nước muốn tăng trưởng nhanh, thu hút đầu tư lớn, mở rộng thị trường, và hội nhập sâu rộng thì trước hết phải là một quốc gia có tự chủ chiến lược, có năng lực kiểm soát rủi ro, có thể chế vững, có trật tự xã hội ổn định, có sự hội nhập quốc tế sâu rộng, có sức đề kháng cao trước các cú sốc an ninh truyền thống và phi truyền thống” (Tổng Bí thư Tô Lâm, 2026b). Từ tinh thần đó, cần tập trung làm tốt một số vấn đề cấp bách mang tính chiến lược hiện nay.
Thứ nhất, củng cố vững chắc nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh thế giới biến động liên tục, khó dự báo
Đại hội XIV của Đảng khẳng định ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết để giữ vững niềm tin thị trường và bảo đảm an sinh xã hội. Sau giai đoạn phục hồi hậu đại dịch, nền kinh tế thế giới bước vào chu kỳ tăng trưởng chậm, lạm phát dai dẳng tại nhiều trung tâm kinh tế lớn, chính sách tiền tệ thắt chặt kéo dài, nợ công toàn cầu tăng cao. Các yếu tố này làm gia tăng nguy cơ suy thoái và khủng hoảng tài chính diện rộng.
Đối với Việt Nam, một nền kinh tế có độ mở lớn, những biến động bên ngoài có thể tác động nhanh chóng vào trong nước thông qua thương mại, đầu tư, tỷ giá và tâm lý thị trường. Vì vậy, vấn đề cấp bách hiện nay là nâng cao chất lượng điều hành chính sách tài khóa và tiền tệ theo hướng linh hoạt nhưng thận trọng; kiểm soát lạm phát đi đôi với hỗ trợ tăng trưởng; bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính.
Đại hội XIV của Đảng đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở nâng cao năng lực nội sinh, đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ lõi. Điều này không có nghĩa là tách rời khỏi hệ thống kinh tế thế giới, mà là giảm thiểu tính dễ tổn thương trước các cú sốc bên ngoài. Tự chủ chiến lược về năng lượng, lương thực, công nghệ và tài chính trở thành nội dung then chốt của an ninh kinh tế quốc gia.
Thứ hai, chủ động phòng ngừa, xử lý từ sớm nguy cơ xung đột và thách thức an ninh phi truyền thống
Đại hội XIV của Đảng tiếp tục phát triển quan điểm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, coi đây là tư duy chiến lược xuyên suốt trong tình hình mới. Nếu trước đây nguy cơ chiến tranh chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ xung đột vũ trang truyền thống, thì hiện nay nội hàm an ninh đã mở rộng đáng kể. Chiến tranh mạng, chiến tranh thông tin, trừng phạt kinh tế, thao túng thị trường tài chính, khủng bố xuyên quốc gia, dịch bệnh và biến đổi khí hậu đều có thể trở thành nguồn gốc gây bất ổn an ninh quốc gia nghiêm trọng.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn biến phức tạp, Việt Nam phải xử lý hài hòa quan hệ với các đối tác, giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, không tham gia liên minh quân sự, không chọn bên. Đại hội nhấn mạnh yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại; nâng cao năng lực dự báo chiến lược; không để đất nước rơi vào thế bị động, bất ngờ.
Do vậy, vấn đề cấp bách hiện nay là phải nâng cao chất lượng nghiên cứu, phân tích chiến lược; hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành trong xử lý các tình huống khẩn cấp; phát triển tiềm lực quốc phòng, an ninh gắn với tiềm lực khoa học, công nghệ. Đặc biệt, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và bảo đảm an ninh dữ liệu trở thành yêu cầu mới có ý nghĩa sống còn đối với sự ổn định và phát triển.
Thứ ba, tăng cường sức đề kháng xã hội trước các cú sốc kinh tế và thông tin
Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh vai trò của “sức mạnh mềm” và “sức đề kháng xã hội” trong bảo đảm ổn định chính trị - xã hội. Thực tiễn cho thấy, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, yếu tố tâm lý xã hội và niềm tin của người dân có thể quyết định tốc độ và hiệu quả phục hồi các cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội.
Trong điều kiện bùng nổ thông tin và mạng xã hội, các chiến dịch thao túng dư luận, tin giả, thông tin sai lệch có thể gây hoang mang, làm xói mòn niềm tin vào thể chế, từ đó tạo ra bất ổn. Vì vậy, vấn đề cấp bách không chỉ là kiểm soát kinh tế vĩ mô mà còn là củng cố nền tảng tư tưởng, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, xây dựng đồng thuận xã hội.
Đại hội XIV yêu cầu tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Đây là điều kiện quan trọng để củng cố niềm tin của nhân dân - yếu tố nền tảng bảo đảm ổn định chính trị trong mọi tình huống khủng hoảng.
Thứ tư, xác lập mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững và bao trùm
Một trong những thách thức lớn hiện nay là nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gay gắt. Đại hội XIV của Đảng xác định xác lập mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi năng lượng là nhiệm vụ trọng tâm.
Khủng hoảng kinh tế và xung đột quốc tế thường làm lộ rõ những điểm yếu trong cấu trúc của nền kinh tế. Nếu phụ thuộc quá mức vào một số thị trường hoặc lĩnh vực gia công, nền kinh tế dễ bị tổn thương khi cầu thế giới suy giảm hoặc chuỗi cung ứng bị gián đoạn. Do đó, tái cấu trúc theo hướng nâng cao giá trị gia tăng nội địa, phát triển công nghiệp hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu là yêu cầu cấp thiết.
Bên cạnh đó, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội phải được đặt ngang tầm với tăng trưởng kinh tế. Phát triển không bao trùm có thể làm gia tăng bất bình đẳng, tạo ra mâu thuẫn xã hội tiềm ẩn. Đại hội XIV tiếp tục khẳng định mục tiêu phát triển con người toàn diện, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội và phúc lợi công cộng, qua đó củng cố nền tảng ổn định lâu dài.
Thứ năm, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực quản trị quốc gia trong điều kiện mới
Trước những biến động khó lường của môi trường quốc tế, thể chế linh hoạt và quản trị hiệu quả trở thành yếu tố quyết định. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; cải cách hành chính; nâng cao năng lực điều hành, phối hợp chính sách; xây dựng bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Trong bối cảnh khủng hoảng có thể xảy ra đột ngột và lan rộng nhanh chóng, cơ chế phản ứng chính sách phải đủ nhanh và đủ mạnh. Điều này đòi hỏi sự minh bạch thông tin, trách nhiệm giải trình và sự phối hợp chặt chẽ giữa trung ương và địa phương, giữa các ngành, lĩnh vực. Đại hội XIV của Đảng đặt trọng tâm vào phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là đội ngũ cán bộ chiến lược có tầm nhìn, bản lĩnh và năng lực xử lý tình huống phức tạp.
Tựu trung lại, những vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay không chỉ mang tính ngắn hạn mà có ý nghĩa chiến lược. Trong bối cảnh thế giới bước vào kỷ nguyên cạnh tranh chiến lược gay gắt và bất định gia tăng, yêu cầu chủ động ứng phó với khủng hoảng kinh tế và phòng ngừa chiến tranh xung đột phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng.
3. Kết luận
Chủ động ứng phó với tác động từ khủng hoảng kinh tế và chiến tranh xung đột là yêu cầu khách quan, cấp bách trong bối cảnh thế giới biến động nhanh chóng, phức tạp và khó lường. Đối với Việt Nam, đây không chỉ là nhiệm vụ đối ngoại hay quốc phòng, an ninh, mà là vấn đề chiến lược gắn trực tiếp với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. “Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới là phải gắn kết ngày càng chặt chẽ hơn giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại với phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp chặt chẽ giữa bảo vệ và phát triển, giữa ổn định và đổi mới” (Tổng Bí thư Tô Lâm, 2026b).
Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; nâng cao tự chủ chiến lược; củng cố quốc phòng, an ninh; phát triển bền vững và bao trùm; tăng cường sức đề kháng xã hội; hoàn thiện thể chế và quản trị quốc gia, đó là những trụ cột cơ bản để bảo đảm Việt Nam vững bước trên con đường phát triển nhanh và bền vững đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045./.
_________________
Ngày nhận bài: 19/4/2026; Ngày bình duyệt: 10/5/2026; Ngày quyết định đăng: 12/5/2026.
Email tác giả: thuchiep.vn@gmail.com
Tài liệu tham khảo
ĐCSVN (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Cục Thống kê (2026). Kết quả hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2025: Bứt phá kỷ lục và chuyển dịch mạnh mẽ sang công nghệ cao. https://www.nso.gov.vn.
Tổng Bí thư Tô Lâm (2026a). Hội nghị Trung ương 2 đặt nền móng cho cả nhiệm kỳ. https://vnexpress.net.
Tổng Bí thư Tô Lâm (2026b). Giữ vững bốn kiên định, thúc đẩy tăng trưởng hai con số. https://vnexpress.net.