DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.7500
Tóm tắt: Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị” (ĐCSVN, 2026b, tr.95). Bởi vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, được tiến hành thường xuyên, thận trọng, hiệu quả. Bài viết làm rõ quan điểm, thực trạng và đề xuất một số giải pháp xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng.
TS ĐỚI VĂN TẶNG
Viện Xây dựng Đảng,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc mở đầu “kỷ nguyên phát triển mới” của dân tộc Việt Nam, “đó là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu” (Tô Lâm, 2024). Để hiện thực hóa khát vọng của dân tộc, công tác cán bộ tiếp tục được khẳng định là “then chốt của then chốt”, là yếu tố quyết định sự thành bại của mọi chủ trương, đường lối phát triển. Đại hội XIV đặt ra yêu cầu “xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp thật sự có đức, có tài, không ngừng tự đổi mới, ngang tầm nhiệm vụ” (ĐCSVN, 2026b, tr.385). Quán triệt, triển khai, thực hiện tốt yêu cầu này góp phần tạo ra sức mạnh nội sinh, khơi thông các điểm nghẽn, đưa đất nước bứt phá trong kỷ nguyên phát triển mới.
2. Nội dung
2.1. Quan điểm Đại hội XIV về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp thật sự “có đức, có tài”
Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp luôn giữ vị trí trung tâm trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục kế thừa, phát triển và cụ thể hóa quan điểm nhất quán đó, đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp thật sự có đức, có tài, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đây không chỉ là yêu cầu mang tính nguyên tắc, mà còn là định hướng chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực tiễn.
Quan điểm Đại hội XIV về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp thật sự “có đức, có tài” là sự kế thừa sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ. Người chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.309), “có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.400). Đồng thời, là sự nhất quán, phát triển quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có “đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” trong thời kỳ đổi mới đất nước. Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ toàn diện, trong đó “đức” và “tài” phải thống nhất, hài hòa, lấy “đức” làm nền tảng, “tài” làm điều kiện bảo đảm để hoàn thành nhiệm vụ.
Theo tinh thần Đại hội XIV, “đức” của người cán bộ là gốc, là nền tảng tiên quyết và là tiêu chuẩn hàng đầu để xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ. Phẩm chất đạo đức được thể hiện qua bản lĩnh chính trị vững vàng, sự kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; “đề cao ý thức trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân” (ĐCSVN, 2026a, tr.394). Yêu cầu cốt lõi về đạo đức là cán bộ phải thực hiện nghiêm túc tinh thần nêu gương. “Cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nêu gương” (ĐCSVN, 2026a, tr.132). Cán bộ phải thực hiện phương châm “nói đi đôi với làm”, làm việc tận tuỵ và “làm đến cùng vì dân”. Đại hội nhấn mạnh quan điểm “danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất”, coi liêm chính là phẩm chất nền tảng của đạo đức công vụ. Cán bộ các cấp phải luôn “coi trọng danh dự, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”, “chấm dứt tình trạng né tránh, đùn đẩy, không dám làm, thiếu trách nhiệm trong công việc” (ĐCSVN, 2026a, tr.394). Mỗi cán bộ phải biết thường xuyên “tự soi, tự sửa”, giữ mình trước mọi cám dỗ và phải biết “thấy xấu hổ khi dân còn khó khăn, nghèo đói”. “Đức” gắn liền với việc tuân thủ các chuẩn mực đạo đức cách mạng. Cán bộ phải “thực hiện nghiêm chuẩn mực đạo đức cách mạng, đạo đức công vụ, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” (ĐCSVN, 2026a, tr.132). Đồng thời, phải “kiên quyết đấu tranh phòng, chống các biểu hiện bè phái, “lợi ích nhóm” và chia rẽ làm mất đoàn kết nội bộ” (ĐCSVN, 2026a, tr.138).
Cùng với có “đức”, cán bộ trong kỷ nguyên mới phải thật sự có “tài”, phải tiêu biểu về trí tuệ, bản lĩnh, có tầm nhìn chiến lược để dẫn dắt đất nước phát triển nhanh và bền vững. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh, cán bộ phải “thực sự tiêu biểu, có tư duy, năng lực quản trị tiên tiến, phù hợp với mô hình tổ chức mới và yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước” (ĐCSVN, 2026a, tr.147). Đồng thời, phải luôn “năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung” (ĐCSVN, 2026b, tr.388). “Tài” phải thể hiện qua việc cán bộ “biết làm, làm được việc”, có khả năng cụ thể hóa nghị quyết của Đảng thành những kết quả thực tế rõ rệt. “Tài” của cán bộ phải được thể hiện bằng sản phẩm cụ thể, hiệu quả thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân. Bên cạnh đó, “tài” còn thể hiện ở việc cán bộ phấn đấu trở thành chuyên gia, nhà khoa học giỏi, cán bộ quản lý trình độ cao ở các lĩnh vực chiến lược như: chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, kinh tế số... Quan điểm về “tài” của đội ngũ cán bộ tại Đại hội XIV là sự kết hợp giữa trí tuệ sáng tạo và năng lực thực thi quyết liệt, lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo cao nhất cho uy tín và danh dự của người cán bộ.
“Đức” và “tài” của cán bộ được đặt trong chỉnh thể thống nhất, biện chứng, phản ánh yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng nhiệm vụ trong kỷ nguyên phát triển mới. Trong đó, “đức” giữ vai trò nền tảng, là gốc của người cán bộ. Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu cán bộ phải thường xuyên “tự soi, tự sửa”, rèn luyện phẩm chất, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, gắn bó với nhân dân . Đạo đức không chỉ là chuẩn mực cá nhân mà còn là điều kiện bảo đảm cho việc sử dụng quyền lực đúng đắn, ngăn ngừa suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Không có “đức”, “tài” dễ bị chệch hướng, thậm chí trở thành công cụ phục vụ lợi ích cá nhân. Tuy nhiên, “tài” là yếu tố trực tiếp quyết định hiệu quả thực thi nhiệm vụ. Đại hội XIV đề ra các mục tiêu phát triển đột phá, yêu cầu cán bộ phải có năng lực đổi mới tư duy, năng lực quản trị hiện đại, khả năng thích ứng với chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng. Nếu chỉ có “đức” mà thiếu “tài” thì không thể tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng. Mối quan hệ giữa “đức” và “tài” của cán bộ là quan hệ thống nhất, trong đó “đức” là gốc, “tài” là điều kiện phát triển; “đức” định hướng cho “tài”, còn “tài” hiện thực hóa giá trị của “đức”. Cần kết hợp chặt chẽ hai yếu tố này trong công tác cán bộ, bảo đảm mỗi cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên”, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.
2.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ: Thành tựu và những “điểm nghẽn” cần khắc phục
Trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị đã có những chuyển biến quan trọng cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu; đồng thời cũng bộc lộ những hạn chế cần sớm khắc phục.
Về số lượng, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và đảng viên không ngừng được củng cố theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Tổng số cán bộ, công chức, viên chức hiện khoảng 2,23 triệu người, giảm so với giai đoạn trước do thực hiện chủ trương tinh giản biên chế và sắp xếp tổ chức bộ máy (Nguyễn Thị Thanh Mai, 2025). Cùng với đó, tính đến ngày 30-11-2025, toàn Đảng có 50.852 tổ chức cơ sở đảng (gồm 14.782 đảng bộ cơ sở và 36.070 chi bộ cơ sở); 214.919 chi bộ trực thuộc; 2.861 đảng bộ bộ phận; tổng số đảng viên toàn Đảng là 5.547.312 đảng viên (ĐCSVN, 2026b, tr.157-158). Việc tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, sự phân bổ số lượng cán bộ giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương chưa thật sự hợp lý; vẫn còn tình trạng nơi thừa, nơi thiếu, đặc biệt là thiếu cán bộ có chuyên môn sâu ở cơ sở, trong khi một số khâu trung gian còn cồng kềnh (Ban Tổ chức Trung ương, 2025). “Một số tổ chức, cơ quan, đơn vị ở cấp xã sau sắp xếp, hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền mới trong thời gian đầu còn gặp khó khăn, lúng túng” (ĐCSVN, 2026a, tr.67-68).
Về chất lượng, đội ngũ cán bộ đã có bước tiến đáng kể, thể hiện ở trình độ học vấn, lý luận chính trị và năng lực thích ứng với yêu cầu mới. Khoảng 55% đảng viên có trình độ đại học, trên 60% có trình độ lý luận chính trị từ sơ cấp trở lên (Lại Xuân Môn, 2025); nhiều cán bộ trẻ có trình độ cao, tiếp cận nhanh với khoa học, công nghệ và môi trường quốc tế. Phần lớn cán bộ giữ vững bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, thể hiện tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụ nhân dân. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch và luân chuyển cán bộ ngày càng bài bản, từng bước gắn với tiêu chuẩn chức danh và yêu cầu vị trí việc làm; việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý, đánh giá cán bộ bước đầu được triển khai, góp phần nâng cao tính minh bạch và khách quan (Nguyễn Thị Thanh Mai, 2025). Mặc dù vậy, chất lượng đội ngũ cán bộ chưa đồng đều; một bộ phận còn hạn chế về năng lực quản trị hiện đại, kỹ năng số và tư duy đổi mới. Đáng chú ý, “một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao thiếu tu dưỡng, rèn luyện, không gương mẫu... suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm những điều đảng viên không được làm, vi phạm pháp luật” (ĐCSVN, 2026a, tr.68).
Về cơ cấu, đội ngũ cán bộ đã có sự điều chỉnh theo hướng hợp lý hơn, bảo đảm tính kế thừa và phát triển. Cơ cấu độ tuổi có sự chuyển tiếp giữa các thế hệ; tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ và cán bộ người dân tộc thiểu số từng bước được nâng lên. Chủ trương phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh, với khoảng 56% nhiệm vụ quản lý nhà nước đã được phân cấp cho địa phương, tạo điều kiện phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cấp, các ngành (Ban Tổ chức Trung ương, 2025). Tuy nhiên, cơ cấu đội ngũ cán bộ vẫn còn những bất cập nhất định, nhất là sự thiếu hụt chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực mới như công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, quản trị công hiện đại; sự chênh lệch về chất lượng cán bộ giữa các vùng, miền chưa được khắc phục triệt để. Bên cạnh đó, tỷ lệ cán bộ nữ và cán bộ trẻ tham gia lãnh đạo cấp cao còn thấp so với yêu cầu; tình trạng cục bộ địa phương, khép kín trong bố trí cán bộ vẫn còn tồn tại ở một số nơi.
Quan điểm xuyên suốt của Đại hội là khẳng định vai trò nền tảng của “đức” và “tài” và nhấn mạnh yêu cầu gắn kết chặt chẽ hai yếu tố này thông qua các cơ chế kiểm chứng bằng thực tiễn, lấy hiệu quả công việc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo chủ yếu.
Đại hội XIV của Đảng đã chỉ ra nguyên nhân của tình trạng trên là: năng lực dự báo, tư duy chiến lược và khả năng quản trị của một bộ phận cấp uỷ, tổ chức đảng còn hạn chế; tình trạng “tư duy nhiệm kỳ”, chi phối bởi lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm chưa được khắc phục triệt để. Hệ thống cơ chế, chính sách về công tác cán bộ vẫn còn những bất cập, chưa tạo được động lực đủ mạnh để thu hút, trọng dụng nhân tài, đồng thời chưa thiết lập được cơ chế bảo vệ hiệu quả đối với những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm. Bên cạnh đó, cơ chế kiểm soát quyền lực trong một số khâu, một số cấp còn thiếu chặt chẽ, dẫn đến nguy cơ lạm quyền, thao túng hoặc thực hiện các quyết định bổ nhiệm thiếu minh bạch, không đúng quy định.
2.3. Giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp thật sự có đức, có tài theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng
Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng là yêu cầu thường xuyên, là đòi hỏi cấp thiết trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với những thời cơ và thách thức đan xen. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc quan điểm coi công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”, cần triển khai đồng bộ các giải pháp mang tính hệ thống, trong đó tập trung vào một số định hướng trọng tâm sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế và cơ chế kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ theo hướng chặt chẽ, minh bạch và hiệu quả. Đây là giải pháp mang tính nền tảng nhằm bảo đảm quyền lực luôn được đặt trong khuôn khổ pháp luật, đạo đức và sự giám sát của nhân dân. Quán triệt tinh thần Đại hội XIV, cần tập trung thiết kế đồng bộ các cơ chế để bảo đảm quyền lực luôn được vận hành trong khuôn khổ của pháp luật, chuẩn mực đạo đức, văn hóa và sự giám sát của nhân dân. Nguyên tắc xuyên suốt là mọi quyền lực đều phải được ràng buộc bằng trách nhiệm, quyền lực đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền lực càng cao thì yêu cầu trách nhiệm càng lớn; mọi hành vi lạm dụng quyền lực để trục lợi đều phải bị phát hiện và xử lý nghiêm minh. Đồng thời, việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương được triển khai gắn liền với các cơ chế kiểm soát quyền lực thực chất, hiệu quả, tránh tình trạng buông lỏng hoặc lạm quyền. Cùng với đó, yêu cầu công khai, minh bạch tiếp tục được hoàn thiện thông qua các quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, bảo đảm trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ.
Thứ hai, đổi mới căn bản phương thức đánh giá cán bộ theo hướng lấy kết quả, sản phẩm cụ thể làm thước đo chủ yếu. Thực chất của giải pháp này là chuyển từ đánh giá định tính, nặng về cảm tính sang đánh giá định lượng, dựa trên hiệu quả thực thi nhiệm vụ gắn với chức trách, vị trí việc làm và sản phẩm đầu ra cụ thể. Theo đó, mỗi cán bộ phải được lượng hóa bằng các tiêu chí rõ ràng như tiến độ, chất lượng công việc, mức độ hoàn thành mục tiêu, tác động thực tiễn và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Giải pháp này góp phần khắc phục tình trạng nể nang, hình thức trong đánh giá cán bộ; đồng thời tạo cơ sở khách quan cho công tác quy hoạch, bổ nhiệm, khen thưởng và kỷ luật. Việc ứng dụng công nghệ số, xây dựng hệ thống dữ liệu và “hồ sơ năng lực” điện tử là điều kiện quan trọng bảo đảm tính minh bạch, liên thông và kiểm chứng được kết quả đánh giá. Tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả, cần hoàn thiện hệ thống tiêu chí đánh giá theo từng lĩnh vực, tăng cường kiểm tra, giám sát và gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả đánh giá cán bộ, qua đó thúc đẩy đội ngũ cán bộ nâng cao năng lực, trách nhiệm và hiệu quả công vụ.
Thứ ba, xây dựng và vận hành hiệu quả cơ chế “có vào, có ra”, “có lên, có xuống” nhằm sàng lọc, tinh lọc đội ngũ cán bộ một cách thực chất. Giải pháp này nhằm thiết lập quy trình vận động linh hoạt, trong đó việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều chuyển, từ chức được thực hiện trên cơ sở kết quả thực thi nhiệm vụ, phẩm chất chính trị và uy tín thực tiễn của cán bộ, thay cho tư duy “ổn định suốt đời” hay “lên mà không xuống”. Việc thực thi cơ chế này góp phần khắc phục tình trạng trì trệ, cào bằng, đồng thời tạo áp lực tích cực buộc cán bộ không ngừng rèn luyện, nâng cao năng lực và trách nhiệm công vụ. Đây cũng là công cụ quan trọng để loại bỏ kịp thời những cán bộ yếu kém, suy thoái, qua đó nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ một cách thực chất. Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu quả, cần hoàn thiện thể chế về đánh giá, từ chức, miễn nhiệm; xây dựng tiêu chí minh bạch, công khai; đồng thời tăng cường giám sát của tổ chức đảng và nhân dân, nhằm bảo đảm việc “vào - ra”, “lên - xuống” diễn ra công bằng, khách quan, tránh bị lợi dụng hoặc hình thức.
Thứ tư, chú trọng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, cán bộ khoa học - công nghệ và các chuyên gia đầu ngành. Thực hiện tốt giải pháp này nhằm chuyển mạnh từ tư duy “quản lý nhân lực” sang “phát triển và khai phóng nhân tài”, lấy hiệu quả cống hiến và giá trị sáng tạo làm thước đo chủ yếu trong sử dụng cán bộ. Theo đó, cần thiết lập cơ chế phát hiện sớm nhân tài thông qua hệ thống đánh giá đa chiều, cạnh tranh minh bạch; đồng thời đổi mới căn bản công tác đào tạo, bồi dưỡng theo hướng gắn lý luận với thực tiễn, tăng cường năng lực tư duy chiến lược, quản trị hiện đại và năng lực đổi mới sáng tạo. Đối với đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ và chuyên gia đầu ngành, cần có cơ chế đặc thù về đãi ngộ, môi trường làm việc và quyền tự chủ nghiên cứu, nhằm khuyến khích sáng tạo và thu hút chất xám. Việc trọng dụng nhân tài không chỉ dừng ở bố trí, sử dụng đúng người, đúng việc, mà còn phải tạo điều kiện để họ phát huy tối đa năng lực, đóng góp vào hoạch định chính sách phát triển đất nước.
Thứ năm, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng môi trường khuyến khích đổi mới sáng tạo với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong công tác cán bộ. Giải pháp này nhằm tạo lập không gian thể chế đủ mở để cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đồng thời thiết lập cơ chế ràng buộc đủ chặt để ngăn ngừa lạm quyền, sai phạm. Một mặt, cần hoàn thiện chính sách bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung; xây dựng cơ chế thử nghiệm, thí điểm có kiểm soát, cho phép chấp nhận rủi ro trong giới hạn nhất định; đồng thời khuyến khích đánh giá dựa trên kết quả và giá trị đổi mới. Mặt khác, phải tăng cường kỷ luật, kỷ cương thông qua hệ thống quy định rõ ràng về trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Sự kết hợp này tạo nên “hành lang kép”: vừa giải phóng tiềm năng sáng tạo của đội ngũ cán bộ, vừa bảo đảm tính liêm chính, minh bạch và hiệu lực của bộ máy. Qua đó, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ năng động, sáng tạo, kỷ cương, trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
3. Kết luận
Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp thực sự có đức, có tài theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, quyết định trực tiếp đến chất lượng lãnh đạo, quản lý và hiệu quả vận hành của toàn bộ hệ thống chính trị trong giai đoạn phát triển mới. Quan điểm xuyên suốt của Đại hội là khẳng định vai trò nền tảng của “đức” và “tài” và nhấn mạnh yêu cầu gắn kết chặt chẽ hai yếu tố này thông qua các cơ chế kiểm chứng bằng thực tiễn, lấy hiệu quả công việc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo chủ yếu. Quán triệt tinh thần đó, cần tập trung hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực, đổi mới phương thức đánh giá cán bộ, thực hiện cơ chế sàng lọc nghiêm minh, đồng thời chú trọng phát hiện, bồi dưỡng và bảo vệ cán bộ. Triển khai đồng bộ các giải pháp này, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hiện thực hóa khát vọng vươn mình của dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới.
_________________
Ngày nhận bài: 26-3-2026; Ngày bình duyệt: 5-4-2026; Ngày duyệt đăng: 20-4-2026.
Email tác giả: doivantang@gmail.com
Danh mục tài liệu tham khảo
Ban Tổ chức Trung ương (2025). Báo cáo tình hình, kết quả hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp tháng 10-2025, số 523-BC/BTCTW.
ĐCSVN (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 5). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 14). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Lại Xuân Môn (14-3-2025). Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong bối cảnh mới. Tạp chí Cộng sản điện tử. https://tapchicongsan.org.vn.
Nguyễn Thị Thanh Mai (29-10-2025). Xây dựng đội ngũ cán bộ bảo đảm phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới.
Tô Lâm (01-11-2024). Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tạp chí Cộng sản điện tử. https://tapchicongsan.org.vn.