DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.3913
Tóm tắt: Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên được đề cập sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tại các kỳ Đại hội Đảng và đặc biệt là trong Văn kiện Đại hội XIV. Trên cơ sở những vấn đề đặt ra với việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong thực tiễn, bài viết đề xuất các nhóm giải pháp thực hiện nghiêm túc trách nhiệm nêu gương, để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân.
TS NGUYỄN THÀNH TRUNG
Học viện Chính trị khu vực IV

1. Mở đầu
Thực hiện nêu gương là trách nhiệm chính trị và đạo đức của người cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu, trong tự giác tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, chấp hành nghiêm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước và trong thực thi nhiệm vụ được giao, qua đó tạo ảnh hưởng tích cực, dẫn dắt hành vi của tổ chức và xã hội. Trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên luôn được Đảng xác định là yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Trong điều kiện đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển với những yêu cầu cao hơn về đổi mới, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định và phát triển sâu sắc quan điểm về trách nhiệm nêu gương, đặt ra những yêu cầu mới đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu.
2. Nội dung
2.1. Sự phát triển quan điểm của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên và bước phát triển tư duy trong Văn kiện Đại hội XIV
Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên là một nội dung xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh và trong quan điểm của Đảng về xây dựng Đảng. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nêu gương là một phương thức lãnh đạo có sức thuyết phục và cảm hóa đặc biệt, dựa trên hành động thực tiễn. Người khẳng định: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.284), qua đó nhấn mạnh sức cảm hóa của hành động gương mẫu đối với việc giáo dục, tổ chức và động viên quần chúng: “Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.16). Đồng thời, Người chỉ rõ mối quan hệ hữu cơ giữa đạo đức và tính chính danh của người lãnh đạo khi nhấn mạnh: “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.292). Do vậy, yêu cầu “Đảng viên đi trước, làng nước đi sau” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.205) hàm chứa một nguyên tắc tổ chức và thực thi quyền lực chính trị trong Đảng, trước nhân dân: người giữ vị trí càng cao càng phải tự có ý thức thực hiện những chuẩn mực nghiêm ngặt hơn để giữ gìn uy tín của Đảng và củng cố niềm tin của nhân dân.
Trên nền tảng tư tưởng đó, Đảng Cộng sản Việt Nam cụ thể hóa trách nhiệm nêu gương. Đại hội X của Đảng tiếp cận nêu gương trước hết như một chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Đại hội X xác định: “Đặc biệt quan tâm giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên để mỗi cán bộ, đảng viên thực sự là tấm gương sáng về phẩm chất, đạo đức, lối sống, hết lòng vì nhân dân, vì sự nghiệp cách mạng” (ĐCSVN, 2018, tr.399), đồng thời yêu cầu cán bộ, đảng viên “thật sự tiên phong, gương mẫu, đi đầu trong mọi công việc; xử lý hài hòa các lợi ích; đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết” (ĐCSVN, 2018, tr.339). Đại hội X cũng thẳng thắn chỉ ra: “Một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp chưa nêu gương, chưa làm tròn trách nhiệm trong đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu” (ĐCSVN, 2018, tr.326). Những nhận định này cho thấy nêu gương chủ yếu được tiếp cận như một chuẩn mực đạo đức gắn với tư cách đảng viên, song đã bắt đầu được xem là tiêu chí đánh giá trách nhiệm lãnh đạo, nhất là trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Từ Đại hội XI, quan điểm về trách nhiệm nêu gương có bước phát triển rõ rệt khi gắn chặt hơn với vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu và trở thành quy tắc ứng xử giữa các vị trí trong tổ chức. Đại hội XI khẳng định: “Mọi cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân từ trung ương đến cơ sở và từng đảng viên, trước hết là người đứng đầu phải gương mẫu thực hiện và trực tiếp tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí” (ĐCSVN, 2011, tr.253). Đồng thời, Đại hội nhấn mạnh yêu cầu “Mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực sự là một tấm gương về phẩm chất đạo đức, lối sống. Cán bộ cấp trên phải gương mẫu trước cán bộ cấp dưới, đảng viên và nhân dân” (ĐCSVN, 2011, tr.257-258). Cách tiếp cận này cho thấy nêu gương không chỉ là yêu cầu đạo đức chung, mà đã được đặt trong quan hệ tổ chức, gắn với vị trí và trách nhiệm của người đứng đầu. Tư duy đó được củng cố mạnh mẽ trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khi Trung ương chỉ rõ tình trạng “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…” (ĐCSVN, 2012, tr.22), đồng thời yêu cầu “người đứng đầu làm trước và phải thật sự gương mẫu để cho các cấp noi theo” (ĐCSVN, 2012, tr.27), “nghiêm túc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, nêu gương bằng hành động thực tế” (ĐCSVN, 2012, tr.29).
Đặc biệt, trách nhiệm nêu gương đã được cụ thể hóa bằng Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2021 của Ban Bí thư, lần đầu tiên xác lập trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, như một yêu cầu chính thức, có tính bắt buộc trong sinh hoạt Đảng và thực thi công vụ (Ban Bí thư, 2012). Việc ban hành quy định này cho thấy sự phát triển trong tư duy của Đảng: nêu gương không chỉ là yêu cầu đạo đức tự giác, mà đã trở thành chuẩn mực hành vi chịu sự giám sát của tổ chức và của nhân dân, tạo tiền đề trực tiếp cho giai đoạn chỉnh đốn Đảng ở Đại hội XII.
Đến Đại hội XII, trong bối cảnh Đảng thẳng thắn đánh giá tình trạng “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi” (ĐCSVN, 2016, tr.61), nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đặt ra cấp bách. Trên cơ sở đó, Đại hội XII nhấn mạnh: “Xây dựng và thực hiện tốt các quy định để phát huy vai trò gương mẫu trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị” (ĐCSVN, 2016. Tr.203) như một giải pháp then chốt nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và giữ vững niềm tin của nhân dân.
Cùng với đó, Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khẳng định, trách nhiệm nêu gương được tiếp cận chủ yếu như công cụ chấn chỉnh đạo đức và kiểm soát quyền lực từ cấp cao nhất, mang tính phòng ngừa và chỉnh đốn trong bối cảnh có những biểu hiện suy thoái về đạo đức cách mạng của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ cấp cao, người đứng đầu.
Đại hội XIII tiếp tục khẳng định việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW phải gắn chặt với trách nhiệm nêu gương, theo phương châm “chức vụ càng cao càng phải gương mẫu” (ĐCSVN, 2021, tr.41). Đồng thời, Đại hội XIII xác định công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”, trong đó trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, được coi là điều kiện quyết định để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. So với Đại hội XII, Đại hội XIII đặt nêu gương trong chỉnh thể xây dựng Đảng về đạo đức, coi nêu gương không chỉ là giải pháp, mà là nguyên tắc tổ chức của Đảng và tiêu chuẩn chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo.
Đại hội XIV thể hiện bước phát triển mới, sâu sắc và thực chất hơn trong quan điểm của Đảng về trách nhiệm nêu gương:
Trước hết, Đại hội XIV chuyển cách tiếp cận từ việc coi nêu gương chủ yếu là chuẩn mực đạo đức, nguyên tắc tổ chức của Đảng, tiêu chuẩn chính trị của cán bộ lãnh đạo sang coi nêu gương là một cấu phần thiết yếu của năng lực lãnh đạo, cầm quyền và hiệu quả quản trị quốc gia. Đại hội đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng về đạo đức, “coi trọng việc xây dựng và phát huy tinh thần nêu gương của cán bộ, đảng viên trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và rèn luyện đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ trong công tác hằng ngày” (ĐCSVN, 2026b, tr.153). Điều này cho thấy nêu gương được đặt trực tiếp trong mối quan hệ với hiệu lực cầm quyền và chất lượng quản trị, chứ không chỉ giới hạn trong phạm vi tu dưỡng đạo đức đảng viên. Việc nhấn mạnh trách nhiệm nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu cho thấy nêu gương được coi là cơ chế tự giác ràng buộc trách nhiệm, trong đó mức độ gương mẫu phải tương xứng với vị trí và quyền hạn được giao. Theo đó, trách nhiệm nêu gương trở thành điều kiện bảo đảm chất lượng lãnh đạo, bởi mọi biểu hiện suy giảm nêu gương ở cán bộ giữ chức vụ càng cao sẽ càng tác động tiêu cực đến hiệu quả quản lý và niềm tin của nhân dân.
Thứ hai, Đại hội XIV yêu cầu cán bộ, đảng viên thực hiện nêu gương ngay trong hành động thực thi nhiệm vụ, trong đó cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phải gương mẫu về tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và chủ động hành động vì lợi ích chung, coi đây là biểu hiện cốt lõi của đạo đức công vụ và năng lực thực thi quyền lực trong bối cảnh hiện nay. Đại hội đã thẳng thắn chỉ ra tình trạng “Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên chưa được thực hiện thường xuyên, trở thành nếp sống của mỗi đảng viên. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao thiếu tu dưỡng, rèn luyện, không gương mẫu, có biểu hiện đùn đẩy, né tránh, không dám làm, không dám đổi mới sáng tạo” (ĐCSVN, 2026b, tr.166), ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và coi đây là lực cản trực tiếp đối với phát triển.
Việc nhận diện trực diện hiện tượng này cho thấy nêu gương theo tinh thần Đại hội XIV gắn chặt với dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Theo đó, yêu cầu thực hiện trách nhiệm nêu gương được chuyển trọng tâm từ “không làm sai” sang “dám làm đúng và làm đến nơi đến chốn”. Nêu gương trong bối cảnh này trước hết là nêu gương trong hành động thực hiện nhiệm vụ, thể hiện ở tinh thần chủ động, quyết đoán, không né tránh khó khăn, không đẩy trách nhiệm cho tập thể hay lên cấp trên khi gặp vướng mắc. Cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu, phải gương mẫu trong việc nhận trách nhiệm, chịu trách nhiệm và giải trình trách nhiệm đối với kết quả công việc được giao, coi đây là biểu hiện trực tiếp của đạo đức công vụ và bản lĩnh chính trị. Yêu cầu này cũng cho thấy Đại hội XIV đặt trách nhiệm nêu gương trong mối quan hệ hữu cơ với yêu cầu đổi mới sáng tạo, nỗ lực hành động vì mục tiêu chung. Trong điều kiện thể chế đang được hoàn thiện, nếu cán bộ không nêu gương trong tinh thần dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, thì quyền lực dễ bị “đóng băng” trong tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, làm suy giảm động lực phát triển.
Do đó, nêu gương theo tinh thần Đại hội XIV không chỉ là giữ gìn phẩm chất liêm chính, mà còn là gương mẫu trong tinh thần hành động, trong thái độ dấn thân vì công việc, qua đó tạo động lực lan tỏa trong toàn bộ hệ thống. Quan điểm này khẳng định rằng, trách nhiệm nêu gương chính là thước đo quan trọng của năng lực thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong giai đoạn phát triển mới; gắn trực tiếp trách nhiệm nêu gương với việc xử lý nghiêm các hành vi né tránh, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm trong thực thi công vụ, qua đó đưa nêu gương từ phạm trù vận động đạo đức sang phạm trù quản trị bằng chuẩn mực, kỷ luật và trách nhiệm giải trình.
Trách nhiệm nêu gương đã được đặt trong một cấu trúc thể chế có tính ràng buộc thực chất, gắn chặt giữa chuẩn mực đạo đức, kỷ luật tổ chức và cơ chế trách nhiệm cá nhân. Theo đó, nêu gương không chỉ dựa vào sự tự giác của cán bộ, đảng viên, mà được bảo đảm bằng các công cụ quản trị cụ thể, trong đó hành vi né tránh, đùn đẩy hay thiếu trách nhiệm không còn được xem là khuyết điểm mang tính đạo đức chung chung, mà là vi phạm kỷ luật công vụ cần phải xử lý nghiêm minh. Điều đó phản ánh bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng khi coi trách nhiệm nêu gương là một bộ phận hữu cơ bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, góp phần nâng cao hiệu lực thực thi chính sách, khắc phục tình trạng trì trệ trong bộ máy và củng cố niềm tin của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong giai đoạn phát triển mới.
Thứ ba, Đại hội XIV mở rộng không gian nêu gương từ nội bộ Đảng sang quan hệ với nhân dân và xã hội. Đảng nhấn mạnh “mối quan hệ giữa xây dựng đạo đức trong Đảng, trong hệ thống chính trị và ngoài xã hội, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trước Nhân dân” (ĐCSVN, 2026b, tr.54); nhấn mạnh việc thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật và chịu sự giám sát của nhân dân, qua đó đặt trách nhiệm nêu gương dưới sự đánh giá xã hội, gắn với minh bạch, trách nhiệm giải trình và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Quan điểm này cho thấy trách nhiệm nêu gương không còn được giới hạn trong khuôn khổ kỷ luật nội bộ hay sự đánh giá của tổ chức đảng, mà được đặt trong không gian xã hội rộng mở, nơi hành vi của cán bộ, đảng viên chịu sự soi chiếu thường xuyên của nhân dân và dư luận xã hội. Việc nhấn mạnh yêu cầu này phản ánh sự phát triển tư duy quan trọng của Đảng, coi nêu gương là cam kết đạo đức - chính trị công khai của đội ngũ cán bộ trước xã hội, chứ không chỉ là nghĩa vụ nội bộ. Theo đó, mức độ gương mẫu của cán bộ, đảng viên được kiểm chứng không chỉ qua quy trình tổ chức, mà còn qua sự minh bạch trong hành vi thực thi nhiệm vụ, qua cách thức tiếp nhận và giải quyết các yêu cầu chính đáng của nhân dân. Trách nhiệm nêu gương trở thành một thành tố của cơ chế trách nhiệm giải trình xã hội, góp phần tăng cường kiểm soát quyền lực từ bên ngoài hệ thống, đồng thời củng cố nền tảng niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Qua phân tích tổng thể, có thể thấy mạch phát triển quan điểm của Đảng về trách nhiệm nêu gương ngày càng rõ ràng và sâu sắc. Sự phát triển này phản ánh quyết tâm chính trị cao của Đảng trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên “vừa hồng vừa chuyên”, qua đó bảo đảm Đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh” trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
2.2. Những vấn đề đặt ra và giải pháp thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên
a) Những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong bối cảnh mới
Bước vào giai đoạn phát triển mới của đất nước, việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên đang đặt ra những yêu cầu cao hơn trong bối cảnh toàn hệ thống chính trị triển khai mạnh mẽ các quyết sách chiến lược của Đảng, như tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; sáp nhập đơn vị hành chính các địa phương; vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp; đồng thời triển khai các nghị quyết “trụ cột”, “đột phá” và các mục tiêu phát triển được xác định trong Văn kiện Đại hội XIV. Đảng nhấn mạnh: “Đất nước ta đã thực sự bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” (ĐCSVN, 2026a, tr148), đòi hỏi phải nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và hiệu quả quản trị quốc gia trong điều kiện mới. Trong bối cảnh đó, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên không chỉ là chuẩn mực đạo đức cá nhân mà trở thành yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với việc tổ chức thực thi các chủ trương lớn của Đảng và bảo đảm sự vận hành thông suốt của bộ máy.
Trước hết, nhận thức về trách nhiệm nêu gương ở một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn chưa theo kịp yêu cầu của xây dựng Đảng trong giai đoạn phát triển mới. Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIII cho thấy, mặc dù công tác giáo dục đạo đức cách mạng và việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được đẩy mạnh, song ở một số nơi việc quán triệt và thực hiện các quy định của Đảng còn mang tính hình thức, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về chuẩn mực đạo đức và trách nhiệm nêu gương chưa thật sự sâu sắc (ĐCSVN, 2026a). Điều này cho thấy trách nhiệm nêu gương ở một số nơi vẫn bị hiểu giản lược như yêu cầu đạo đức mang tính khuyến khích, chưa được nhận thức đầy đủ như một trách nhiệm chính trị gắn với vai trò, uy tín và năng lực cầm quyền của Đảng. Trong bối cảnh triển khai các quyết sách lớn về tổ chức bộ máy và quản trị quốc gia, nếu nhận thức về nêu gương không được nâng lên tương xứng với vị trí, chức trách của cán bộ, đảng viên thì rất khó bảo đảm sự thống nhất trong hành động và hiệu quả thực thi các nghị quyết của Đảng.
Thứ hai, tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm và tâm lý e ngại trong thực thi công vụ vẫn là một vấn đề đáng chú ý. Trong quá trình triển khai các chủ trương cải cách thể chế, phân cấp, phân quyền và tái cấu trúc bộ máy, yêu cầu về trách nhiệm cá nhân của cán bộ ngày càng cao. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy ở một số nơi vẫn tồn tại tình trạng né tránh, thiếu quyết đoán trong xử lý công việc, làm giảm hiệu lực của các chủ trương đổi mới. Khi bộ máy đang được tổ chức lại theo hướng tinh gọn và vận hành theo mô hình quản trị hiện đại, nếu cán bộ lãnh đạo không nêu gương trong tinh thần dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm thì các quyết sách cải cách dễ bị trì hoãn hoặc triển khai thiếu đồng bộ. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh Trung ương đang lãnh đạo thực hiện mạnh mẽ cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, đã hoàn thành trước thời hạn nhiều mục tiêu của Nghị quyết số 18-NQ/TW về sắp xếp tổ chức bộ máy (ĐCSVN, 2026a).
Thứ ba, việc gắn trách nhiệm nêu gương với kết quả thực thi nhiệm vụ và hiệu quả phục vụ nhân dân vẫn chưa thật sự đồng bộ và thực chất. Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV xác định rõ yêu cầu lấy “sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá” (ĐCSVN, 2026a, tr.151) đối với hoạt động của hệ thống chính trị. Tuy nhiên, trên thực tế ở một số nơi, việc đánh giá cán bộ vẫn còn nặng về quy trình và hình thức, chưa dựa nhiều vào kết quả thực chất và tác động xã hội của công việc. Trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp và tăng cường phân cấp quản lý, việc lấy hiệu quả phục vụ nhân dân làm thước đo đánh giá cán bộ càng trở nên quan trọng, bởi đây là yếu tố phản ánh trực tiếp chất lượng quản trị của bộ máy nhà nước và mức độ gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Ngoài ra, cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện trách nhiệm nêu gương vẫn chưa theo kịp yêu cầu mở rộng dân chủ và tăng cường giám sát xã hội trong điều kiện mới. Báo cáo tổng kết thi hành Điều lệ Đảng cho thấy, công tác kiểm tra, giám sát ở một số cấp uỷ, tổ chức đảng chưa được thực hiện thường xuyên, kịp thời, vẫn còn những hạn chế nhất định trong việc phát hiện và xử lý các biểu hiện vi phạm kỷ luật, kỷ cương của cán bộ, đảng viên (ĐCSVN, 2026b). Trong khi đó, cùng với sự phát triển mạnh của truyền thông số và các nền tảng xã hội, mọi hành vi thiếu gương mẫu của cán bộ, đảng viên đều có thể nhanh chóng phổ biến và tác động trực tiếp đến uy tín của Đảng. Điều này đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện các cơ chế kiểm tra, giám sát và phản biện xã hội theo hướng minh bạch, kịp thời và hiệu quả hơn, nhằm bảo đảm trách nhiệm nêu gương thực sự trở thành chuẩn mực hành vi của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Nhìn tổng thể, trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với nhiều cải cách mang tính chiến lược về tổ chức bộ máy và mô hình quản trị quốc gia, việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên không chỉ là yêu cầu về đạo đức mà còn là điều kiện quan trọng bảo đảm cho các chủ trương, nghị quyết của Đảng được triển khai hiệu quả trong thực tiễn. Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh “Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV sẽ làm việc bằng tinh thần nêu gương cao nhất, nói đi đôi với làm, làm đến cùng, làm việc vì dân; phải làm nhanh, làm đúng, làm tốt, phải bằng năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện. Hiệu quả phục vụ Nhân dân là thước đo năng lực lãnh đạo, uy tín và danh dự của từng đồng chí” (ĐCSVN, 2026b, tr.392). Khi trách nhiệm nêu gương được thực hiện nghiêm túc và trở thành chuẩn mực phổ biến trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, đó sẽ là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và củng cố niềm tin của nhân dân trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
b) Giải pháp tăng cường thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên
Một là, nâng cao nhận thức chính trị của cán bộ, đảng viên về trách nhiệm nêu gương. Các cấp ủy, tổ chức đảng quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về trách nhiệm nêu gương trong sinh hoạt chi bộ, trong chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và trong công tác đánh giá đảng viên hằng năm. Nội dung giáo dục tập trung làm rõ nêu gương là chuẩn mực đạo đức - chính trị gắn với quyền lực và chức trách của người cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các trường chính trị, các cơ sở đào tạo cán bộ đưa nội dung trách nhiệm nêu gương vào chương trình bồi dưỡng lý luận chính trị và bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý. Thông qua sinh hoạt chính trị chuyên đề, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, từng bước hình thành ý thức tự giác nêu gương trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm cho nêu gương trở thành chuẩn mực hành vi thường xuyên trong thực thi nhiệm vụ.
Hai là, hoàn thiện hệ thống quy định về trách nhiệm nêu gương gắn với chức trách, quyền hạn của cán bộ, đảng viên. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tiếp tục rà soát, bổ sung và hoàn thiện các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương theo hướng xác định rõ chuẩn mực hành vi của từng chức danh lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu. Các cấp ủy, tổ chức đảng cụ thể hóa các quy định này trong quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị; đưa trách nhiệm nêu gương trở thành nội dung bắt buộc trong đánh giá cán bộ và trong kiểm điểm hằng năm. Các cơ quan, tổ chức gắn trách nhiệm nêu gương với các quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và xây dựng đạo đức công vụ. Việc thể chế hóa rõ ràng chuẩn mực nêu gương tạo cơ sở để tăng cường kỷ luật, kỷ cương và nâng cao hiệu lực lãnh đạo của tổ chức đảng.
Ba là, thiết lập cơ chế thúc đẩy và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Các cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan nhà nước xây dựng và triển khai các cơ chế khuyến khích cán bộ chủ động, sáng tạo trong thực thi nhiệm vụ, đồng thời xử lý nghiêm các biểu hiện né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Các quy định này cần được cụ thể hóa trong quy trình xử lý công việc, trong cơ chế đánh giá cán bộ và trong hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc phân công nhiệm vụ rõ ràng, xác định trách nhiệm cá nhân trong từng quyết định quản lý và bảo đảm môi trường làm việc khuyến khích đổi mới, sáng tạo. Việc thực hiện đồng bộ các cơ chế này tạo động lực để trách nhiệm nêu gương gắn với tinh thần chủ động hành động và nâng cao hiệu quả quản trị.
Bốn là, đổi mới cơ chế đánh giá cán bộ theo hướng thực chất, gắn trách nhiệm nêu gương với kết quả công việc và mức độ hài lòng của nhân dân. Các cấp ủy xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá cán bộ dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ, hiệu quả giải quyết công việc và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Hệ thống tiêu chí này được tích hợp trong quy trình đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ. Các cơ quan quản lý nhà nước phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội triển khai các cơ chế khảo sát, thu thập phản hồi của người dân và doanh nghiệp về chất lượng phục vụ của đội ngũ cán bộ. Việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý và đánh giá cán bộ giúp tăng cường tính minh bạch và khách quan trong đánh giá. Qua đó, trách nhiệm nêu gương được phản ánh trực tiếp qua kết quả công việc và hiệu quả phục vụ xã hội.
Năm là, tăng cường kiểm tra, giám sát và phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với việc thực hiện trách nhiệm nêu gương. Ủy ban Kiểm tra các cấp, các cơ quan kiểm tra, giám sát của Đảng tăng cường kiểm tra việc thực hiện các quy định về nêu gương trong tổ chức đảng và trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội mở rộng các hình thức giám sát xã hội đối với cán bộ, đảng viên thông qua các kênh phản ánh, kiến nghị của nhân dân. Các cơ quan nhà nước thiết lập và vận hành hiệu quả các cơ chế tiếp nhận, xử lý và phản hồi thông tin phản ánh của người dân về hành vi thiếu gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Việc ứng dụng công nghệ số trong tiếp nhận và xử lý thông tin giúp nâng cao hiệu quả giám sát xã hội và tăng cường trách nhiệm giải trình của đội ngũ cán bộ.
Sáu là, xây dựng văn hóa công vụ đề cao liêm chính, trách nhiệm và tinh thần phụng sự nhân dân. Các cấp ủy đảng, cơ quan nhà nước và người đứng đầu cơ quan, đơn vị trực tiếp xây dựng môi trường làm việc minh bạch, kỷ cương, trong đó liêm chính, trách nhiệm và tinh thần phục vụ nhân dân trở thành giá trị cốt lõi của văn hóa công vụ. Nội dung trách nhiệm nêu gương được gắn với việc xây dựng hệ giá trị của đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới, nhấn mạnh bản lĩnh chính trị, tinh thần trách nhiệm và ý thức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hoạt động giáo dục đạo đức công vụ, kiểm tra việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính và việc nêu gương của người đứng đầu được thực hiện thường xuyên trong các cơ quan, đơn vị. Khi các giá trị này được củng cố và lan tỏa trong môi trường công vụ, trách nhiệm nêu gương sẽ trở thành chuẩn mực hành vi phổ biến của đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu quả quản trị quốc gia trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
3. Kết luận
Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên là nội dung xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh và trong quá trình xây dựng Đảng. Qua các kỳ Đại hội, quan điểm của Đảng về nêu gương ngày càng hoàn thiện, gắn chặt hơn với kiểm soát quyền lực, đạo đức công vụ và hiệu quả thực thi nhiệm vụ. Đại hội XIV đánh dấu bước phát triển mới khi đặt trách nhiệm nêu gương trong mối quan hệ trực tiếp với năng lực lãnh đạo, cầm quyền, kỷ luật, kỷ cương và sự giám sát của nhân dân. Trong bối cảnh đổi mới quản trị và nâng cao hiệu lực của bộ máy nhà nước, việc thực hiện nghiêm trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, trở thành yếu tố quyết định để khắc phục tình trạng né tránh trách nhiệm và nâng cao hiệu quả công vụ. Qua đó, trách nhiệm nêu gương tiếp tục khẳng định vai trò là nền tảng đạo đức - chính trị của Đảng cầm quyền và là điều kiện quan trọng để củng cố niềm tin của nhân dân trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
_________________
Ngày nhận bài: 08/3/2026; Ngày bình duyệt: 29/3/2026; Ngày duyệt đăng: 8/7/2026.
Email tác giả: trung.hcma@gmail.com
Ban Bí thư (2012). Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2012 về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.
ĐCSVN (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2012). Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2018). Văn kiện Đảng Toàn tập (tập 65). Nxb Chính trị quốc gia.
ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (tập 5). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập (tập 6). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011d). Toàn tập (tập 14). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.