DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.6745
Tóm tắt: Một trong những nội dung quan trọng của Đại hội XIV của Đảng là đột phá thể chế kinh tế, trong đó có đột phá thể chế mở rộng quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân. Với tinh thần thể chế đi trước một bước, đẩy mạnh việc đưa đường lối, chính sách của Đảng vào thực tiễn hành động để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, sớm trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế vừa là yêu cầu cấp bách, vừa là thách thức lớn mà nền kinh tế Việt Nam phải vượt qua để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế 10% trở lên trong năm 2026 và các năm tiếp theo. Đẩy mạnh đột phá thể chế, mở rộng quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân cần được triển khai đồng bộ, triệt để, từ thay đổi tư duy, nhận thức đến đề ra các cơ chế, chính sách, phương thức quản lý trong thực tiễn sản xuất kinh doanh của kinh tế tư nhân phù hợp với bối cảnh mới hiện nay.
ThS LÊ QUỐC
Viện Lãnh đạo học và Chính sách công
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Đại hội XIV của Đảng đã đề ra mục tiêu tăng trưởng nền kinh tế 10% trở lên ngay từ năm 2026, đặt ra yêu cầu cấp bách hiện nay là phải biến những chủ trương, đường lối của Đại hội XIV thành những giải pháp và hành động thực tiễn với một tinh thần dứt khoát, rõ ràng và quyết liệt, “nói đi đôi với làm”.
Qua 40 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, trong đó có sự phát triển của kinh tế tư nhân. Từ xuất phát điểm thấp, kinh tế tư nhân từng bước phát triển mạnh mẽ về quy mô, với khoảng trên 5 triệu hộ kinh doanh và hơn 1,1 triệu doanh nghiệp tư nhân (Tổng cục Thống kê, 2026a). Kinh tế tư nhân đóng góp hơn 51% GDP, 30% tổng thu ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho hơn 82-85% lực lượng lao động trong toàn nền kinh tế (Bộ Chính trị, 2025). Tuy nhiên, so sánh với quy mô nền kinh tế có GDP đạt 514 tỷ USD (Tổng cục Thống kê, 2026b), dân số trên 100 triệu người vào năm 2025, thì mức độ phát triển của kinh tế tư nhân chưa tương xứng. Để đạt mục tiêu, phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam có 2 triệu doanh nghiệp tư nhân và đóng góp khoảng 55% GDP (Bộ Chính trị, 2025) và có các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đòi hỏi phải có những đột phá về thể chế, trong đó có thể chế về mở rộng quyền tự do kinh doanh hơn nữa cho kinh tế tư nhân phát triển.
2. Nội dung
2.1. Quá trình hoàn thiện thể chế về quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân trong thời kỳ đổi mới
Qua 40 năm đổi mới, quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân đã có nhiều thay đổi tích cực gắn liền với sự đổi mới thể chế. Giai đoạn trước đổi mới, quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân tại Việt Nam rất hạn chế. Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đã đề ra đường lối đối mới, bắt đầu thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân trong giai đoạn đầu đổi mới chưa được luật hóa rõ ràng, mà vẫn còn dựa chủ yếu vào các nghị quyết, các văn bản dưới luật theo tinh thần hạn chế.
Giai đoạn từ năm 1986 - 1990, thể chế kinh tế mới chỉ có thay đổi nhỏ, chưa có một văn bản luật bảo hộ đầy đủ quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa định hình nên thể chế phát triển kinh tế tư nhân vẫn còn ở bước sơ khai. Việc thành lập doanh nghiệp tư nhân thời kỳ này khó khăn về thủ tục và gặp khá nhiều định kiến xã hội. Năm 1990, khi Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân được ban hành, thể chế về phát triển kinh tế tư nhân được luật hóa, đã cho phép người dân được thành lập doanh nghiệp tư nhân (Quốc hội, 1990a; Quốc hội, 1990b), nhưng quyền tự do kinh doanh vẫn còn nhiều hạn chế, cụ thể là chỉ hoạt động giới hạn trong những lĩnh vực mà Nhà nước cho phép; chịu sự quản lý rất chặt chẽ; mang nặng cơ chế “xin - cho”. Đây là những nút thắt cản trở sự phát triển kinh tế tư nhân trong thực tiễn.
Thể chế về phát triển kinh tế tư nhân được xây dựng và định hình rõ hơn khi Hiến pháp năm 1992 được ban hành, trong đó có Điều 57 quy định: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”. Thể chế về quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân đã được chính thức hiến định trong Hiến pháp và khẳng định bảo hộ quyền sở hữu tư nhân. Đây là một nội dung đặc biệt quan trọng của thể chế phát triển kinh tế tư nhân với sự khẳng định và công nhận trong văn bản luật cao nhất. Với thể chế đó, việc các cá nhân được tự do lựa chọn hình thức sản xuất, kinh doanh và được thành lập doanh nghiệp đã được quy định cụ thể trong Điều 21, Hiến pháp năm 1992. Một nội dung quan trọng là Hiến pháp đã khẳng định Nhà nước cam kết bảo hộ quyền sở hữu tài sản hợp pháp của kinh tế tư nhân, Nhà nước không quốc hữu hóa tài sản tư nhân, trừ trường hợp đặc biệt vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc lợi ích quốc gia nhưng được bồi thường theo giá thị trường.
Mặc dù có những đột phá bước đầu trong thể chế phát triển kinh tế tư nhân, song vẫn còn những hạn chế. Doanh nghiệp chỉ được phép làm những gì pháp luật cho phép, tức là tự do trong giới hạn đã được định ra từ trước bởi nhà nước. Thể chế kinh tế giai đoạn này chưa thực sự là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; môi trường kinh doanh thiếu bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt là đối với kinh tế tư nhân. Theo số liệu thống kê, đến cuối năm 1992 trong nền kinh tế Việt Nam chỉ có 5.189 doanh nghiệp tư nhân (Tổng cục Thống kê, 1993).
Đến Hiến pháp năm 2013, tinh thần đổi mới thể chế phát triển kinh tế tư nhân được thể hiện rõ, trong đó đã mở rộng một bước quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân. Qua hơn 27 năm đổi mới, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được hoàn thiện, thể chế phát triển kinh tế tư nhân nhờ đó cũng được đổi mới và hoàn thiện. Các chủ thể kinh tế tư nhân được kinh doanh những gì pháp luật không cấm, tức là có quyền lựa chọn theo ý muốn và khả năng của kinh tế tư nhân. Hiến pháp năm 2013 cho phép mọi người đều có quyền sản xuất kinh doanh, tức là tất cả người dân trong nước (công dân và người không quốc tịch) và người nước ngoài đều có thể sản xuất kinh doanh. Đây là một bước đột phá so với Hiến pháp năm 1992. Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định rõ ràng việc bảo hộ quyền sở hữu tư nhân và quyền tài sản của mọi cá nhân một cách mạnh mẽ, không chỉ dừng ở cam kết “không quốc hữu hóa” như ở Hiến pháp năm 1992. Điểm mới của thể chế phát triển kinh tế tư nhân ở trong Hiến pháp năm 2013 khá rõ ràng, thể hiện ở việc khẳng định các thành phần kinh tế đều là động lực quan trọng, bình đẳng trước pháp luật. Thể chế về quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân được khẳng định “Chỉ bị hạn chế vì lý do quốc phòng, an ninh, đạo đức xã hội hoặc sức khỏe cộng đồng”, không còn mập mờ, thiếu rõ ràng như trước đây.
Mặc dù Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ ràng thể chế về quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân, nhưng trong thực tế thể chế này vẫn chậm đi vào cuộc sống. Một số luật chuyên ngành đưa ra nhiều quy định về cấp giấy phép, chứng nhận không nằm trong luật doanh nghiệp (thường gọi là “giấy phép con”); các mô hình kinh tế mới như kinh tế chia sẻ, tiền kỹ thuật số trong giai đoạn đầu thường bị hạn chế với lý do “chưa có quy định pháp luật”… cho thấy quy định vẫn chưa hoàn toàn tương thích với tinh thần “người dân được làm những gì pháp luật không cấm”. Nguyên nhân là do chậm cải cách thể chế hành chính. Thể chế về quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân còn bị hạn chế ở việc chưa bảo đảm sự bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực (như đất đai, vốn và tài nguyên) của kinh tế tư nhân. Doanh nghiệp tư nhân chưa được tiếp cận các dự án lớn, quan trọng của quốc gia. Ngoài ra, kinh tế tư nhân còn phải chịu nhiều rủi ro và chi phí lớn. Hơn nữa, luật pháp chưa được thực thi nghiêm minh nên quyền sở hữu tài sản và bảo hộ hợp đồng đôi lúc, đôi nơi còn có tiêu cực nảy sinh và rủi ro hình sự hóa. Một rào cản gây khó khăn lớn cho kinh tế tư nhân phát triển chính là nhận thức về kinh tế tư nhân còn khá khác biệt, tư duy bảo thủ, giáo điều vẫn tồn tại.
Trước tình hình trên, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân được ban hành và quán triệt sâu rộng đã trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã đem lại tinh thần mới trong thể chế phát triển kinh tế tư nhân với việc khẳng định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế (BCHTW, 2017). Thể chế về quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân được mở rộng đến tất cả các ngành nghề pháp luật không cấm, không giới hạn về quy mô và vốn, xóa bỏ mọi rào cản, khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu, trong đó có việc góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước. Thể chế về quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân đã được khẳng định ở việc bảo đảm không hình sự hóa các quan hệ kinh tế và dân sự, cam kết bảo hộ quyền sở hữu tài sản và quyền lợi chính đáng của kinh tế tư nhân. Đặc biệt, Nghị quyết số 10 - NQ/TW đã quy định bảo đảm quyền bình đẳng tiếp cận các nguồn lực xã hội cho kinh tế tư nhân về vốn, đất đai, tài nguyên và các cơ chế ưu đãi khác. Việc cải cách hành chính và cắt giảm các loại giấy phép con, loại bỏ các rào cản mang tính áp đặt đối với kinh tế tư nhân.
Triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW, Chính phủ đã ban hành: Nghị quyết 98/NQ-CP ngày 3/10/2017 Ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW với mục tiêu rà soát, đề xuất bãi bỏ ít nhất 1/3 đến 1/2 số điều kiện kinh doanh hiện hành và giảm tối đa các loại phí, chi phí đầu vào cho doanh nghiệp (Chính phủ, 2017); Nghị quyết 45/NQ-CP ngày 31/3/2023 là chương trình hành động tiếp tục thực hiện Nghị quyết 10 cho giai đoạn mới, tập trung vào việc phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, có năng lực cạnh tranh quốc tế và khuyến khích tư nhân tham gia sâu vào các ngành công nghiệp mũi nhọn, chuyển đổi số và dịch vụ logistics (Chính phủ, 2023).
Cùng với các văn bản trên, các luật được ban hành nhằm “cởi trói” cho kinh tế tư nhân như: Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017; Luật Đầu tư năm 2020 và Luật Doanh nghiệp năm 2020; Luật đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Đi cùng với các văn bản pháp luật nêu trên, chính phủ cũng đã tiến hành nhiều giải pháp cụ thể như cải cách hành chính và đẩy mạnh Chính phủ điện tử nhằm đơn giản hóa thủ tục và ngăn chặn tham nhũng, đề ra các cơ chế đặc thù để giao các dự án hạ tầng chiến lược trọng điểm và đột phá công nghệ cho các tập đoàn tư nhân đảm nhận.
Sau khi Nghị quyết số 10-NQ/TW ra đời thì một số công trình lớn đã được doanh nghiệp tư nhân thực hiện. Cụ thể là cảng hàng không quốc tế Vân Đồn. Đây là sân bay đầu tiên do tập đoàn tư nhân (Sun Group) đầu tư và vận hành. Các tập đoàn kinh tế tư nhân như Vingroup, Thaco, Geleximco, Hòa Phát, và FPT làm chủ những chuỗi sản xuất công nghiệp nặng, ô tô và năng lượng tái tạo quy mô lớn, thay thế dần vai trò độc tôn của doanh nghiệp nhà nước. Kinh tế tư nhân đã phát triển nhanh chóng cả về số lượng, lẫn quy mô và chất lượng. Đầu năm 2017, số lượng doanh nghiệp tư nhân là 561.064 doanh nghiệp, đến cuối năm 2025, số doanh nghiệp tư nhân đã đạt khoảng 1,1 triệu doanh nghiệp, tăng 96% so với năm năm 2017 (Chính phủ, 2023). Trước năm 2017, số doanh nghiệp tư nhân lớn trong nền kinh tế còn khiêm tốn, nhóm này chỉ chiếm khoảng 0,089% tổng số doanh nghiệp với một số tập đoàn kinh tế tư nhân như: Công ty Cổ phần Ô tô Trường Hải (Thaco), Vinamilk, Tập đoàn Doji, Vingroup, Hòa Phát và Masan Group (Ban Kinh tế Trung ương, 2017)… Đến năm 2025, theo báo cáo VPE500, có 500 doanh nghiệp được xếp vào nhóm dẫn dắt thị trường về doanh thu và quy mô, trong đó có 13 doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã đạt mức vốn hóa hơn 1 tỷ USD trên thị trường chứng khoán Việt Nam (Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính & Viện Konrad-Adenauer-Stiftung, 2026).
Thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW đã có nhiều đổi mới về thể chế mang tính bước ngoặt về quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân, nhưng trên thực tế, kinh tế tư nhân vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn và rào cản, cụ thể là nhiều chủ trương trong Nghị quyết không chuyển hóa kịp thời và đầy đủ vào các văn bản luật. Sự không đồng bộ trong thực thi pháp luật giữa các địa phương đã gây nhiều khó khăn cho kinh tế tư nhân. Mặc dù một số điều kiện kinh doanh đã được bãi bỏ, các cơ quan nhà nước đưa ra nhiều tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và thủ tục hành chính cản trở quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân. Đặc biệt, vẫn tồn tại sự bất bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực như đất đai, vốn và tài nguyên. Các quy định trong luật đất đai và thủ tục về đất còn phức tạp, thiếu minh bạch, cũng như thủ tục phức tạp khi vay vốn với các yêu cầu thế chấp, tiếp cận các dự án lớn.
Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân chính thức đưa thể chế về quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân lên một tầm mới “ưu tiên cao nhất” với việc khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế (Bộ Chính trị, 2025). Nghị quyết này đã xác lập kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất đưa nền kinh tế Việt Nam trở thành một nước giàu mạnh trong kỷ nguyên vươn mình và trở thành một nước phát triển vào năm 2045. Thể chế về quyền tài sản của kinh tế tư nhân thể hiện ở việc Nhà nước cam kết bảo vệ, bao gồm cả quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và quyền về các loại tài sản số, tài sản vô hình. Nhà nước cũng đã mạnh mẽ cam kết không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự, đi liền với việc xóa bỏ mọi rào cản, để kinh tế tư nhân có thể tham gia vào các dự án lớn, các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế. Đồng thời, khu vực kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển các mô hình kinh doanh mới, các mô hình công nghệ cao, công nghệ số, công nghệ bán dẫn… Thể chế về quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân còn thể hiện ở việc Nhà nước đã yêu cầu xóa bỏ mọi phân biệt đối xử về tiếp cận các nguồn lực xã hội của kinh tế tư nhân.
Tuy nhiên, mặc dù đã có nhiều giải pháp mở rộng quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân, thể chế phát triển kinh tế tư nhân vẫn còn một số hạn chế, rào cản ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân như: Khó khăn về tiếp cận các nguồn lực, cụ thể là thủ tục hành chính về đất đai vẫn phức tạp, chi phí giải phóng mặt bằng cao, quy hoạch không ổn định; khó khăn về tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản thế chấp và lãi suất cao, việc thực thi chính sách kém hiệu quả, chi phí tuân thủ cao, việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quyền tài sản trong một số trường hợp chưa đủ mạnh, làm giảm động lực đầu tư vào công nghệ và đổi mới sáng tạo; cản trở về gia nhập và rút lui khỏi thị trường, cụ thể là nhiều giấy phép con dưới hình thức tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn môi trường, phòng cháy chữa cháy đang là khó khăn lớn đối với kinh tế tư nhân… Những điều này đang đòi hỏi phải cụ thể hóa thể chế hơn nữa bằng những quy phạm pháp luật trong thời gian tới.
2.2. Giải pháp mở rộng quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng
Để phát huy hiệu quả chủ trương, đường lối trong thực tiễn cần có thể chế, cơ chế, chính sách cụ thể hóa và triển khai nhanh chóng, quyết liệt. Nghị quyết Đại hội XIV đã khẳng định: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước với … tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là quan trọng” (ĐCSVN, 2026, tr.377). Đây là một nội dung đặc biệt quan trọng bảo đảm cho nền kinh tế Việt Nam có thể phát triển nhanh với tốc độ tăng trưởng cao trên 10% và bền vững. Một trong những nội dung quan trọng của đột phá thể chế là ban hành các văn bản pháp luật đưa cơ chế, chính sách phát triển kinh tế tư nhân vào thực tiễn, bảo đảm kinh tế tư nhân phát triển mạnh, thực sự trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Trong đó, đột phá thể chế về mở rộng quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân là một trong những nội dung cốt lõi. Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “mỗi chủ trương đúng đắn khi ban hành phải được thực hiện với quyết tâm gấp mười lần và hành động gấp trăm lần trong thực tiễn; quyết tâm chính trị phải ở mức cao nhất, nỗ lực ở mức lớn nhất, hành động phải quyết liệt nhất - đó là mệnh lệnh xuất phát từ ý chí và khát vọng phát triển của dân tộc” (Tô Lâm, 2026).
Để nền kinh tế Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình đòi hỏi phái đột phá toàn diện trên mặt trận xây dựng thể chế phát triển kinh tế tư nhân, cụ thể là nhanh chóng, quyết liệt ban hành luật pháp về phát triển kinh tế tư nhân, trong đó có mở rộng quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân. Nguyên nhân cơ bản của yếu kém là quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân chậm được luật hóa, cụ thể là thể chế (pháp luật, cơ chế, chính sách) chưa thực sự thể chế hóa kịp các chủ trương đường lối của Đảng. Hiện tại, cần có các cơ chế, chính sách, các văn bản pháp luật thể hiện đầy đủ quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân, tháo bỏ sớm và nhanh mọi khó khăn để kinh tế tư nhân phát triển nhanh và bền vững .
Để đột phá thể chế về quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân cần thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, khẳng định quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân trên cơ sở tư duy đột phá và nhận thức mới về kinh tế tư nhân, coi kinh tế tư nhân thực sự là một động lực quan trọng nhất đối với sự phát triển của nền kinh tế. Việc phát triển kinh tế tư nhân là yêu cầu tất yếu và cấp thiết để nền kinh tế Việt Nam trở thành giàu mạnh và hùng cường. Chính vì lẽ đó, cơ chế, chính sách không dừng ở việc khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển, mà phải thực sự đột phá thể chế mở rộng quyền tự do kinh doanh và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho kinh tế tư nhân phát triển, khẳng định vai trò động lực trong nền kinh tế.
Hai là, sớm xây dựng và hoàn thiện thể chế bảo vệ quyền sở hữu tài sản và quyền sở hữu trí tuệ trong thực tiễn, tạo niềm tin cho các tổ chức kinh tế tư nhân đầu tư sản xuất kinh doanh trong dài hạn. Xây dựng cơ chế, chính sách, xóa bỏ triệt để mọi rào cản phân biệt đối xử giữa các chủ thể kinh tế thuộc các thành phần khác nhau, trong đó bảo đảm bình đẳng thực chất về tiếp cận các nguồn lực xã hội giữa kinh tế tư nhân với kinh tế nhà nước và khu vực FDI, bảo đảm kinh tế tư nhân được thụ hưởng một cách công bằng như mọi chủ thể kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, bảo đảm thực hiện tốt theo cơ chế thị trường và theo chuẩn mực quốc tế.
Ba là, để quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân thực sự được mở rộng trong thực tiễn đòi hỏi phải xây dựng và ban hành thể chế phát triển kinh tế tư nhân trên cơ sở phân cấp mạnh mẽ cho các địa phương quản lý và giải quyết các thủ tục hành chính một cách nhanh nhất, giảm chi phí tuân thủ cho kinh tế tư nhân, đồng thời lấy sự đơn giản, chi phí thấp làm thước đo sự hiệu quả trong hoạt động quản lý của các cấp chính quyền. Đặc biệt, cải cách thể chế bảo đảm cho các đơn vị kinh tế tư nhân được tiếp cận các nguồn lực nhanh và thuận lợi nhất. Đi liền với những điều trên cần xây dựng cơ chế giải trình của các cấp chính quyền địa phương một cách minh bạch và rõ ràng nhất.
Bốn là, chuyển phương thức quản lý từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” một cách nhanh nhất. Đây là một phương thức giúp rút ngắn thời gian để triển khai các dự án, công trình một cách hiệu quả nhất. Hơn nữa, khi thực hiện cơ chế “hậu kiểm” sẽ giảm thiểu mọi sự can thiệp hành chính vào quá trình ra quyết định kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân. Hơn nữa, triển khai sớm cơ chế “hậu kiểm” sẽ góp phần loại bỏ một phần tệ tham nhũng, từng bước làm cho bộ máy công quyền trong sạch hơn và củng cố niềm tin của doanh nghiệp và nhân dân vào hệ thống chính trị.
Năm là, sớm xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế tư nhân thành các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, “sếu đầu đàn” có vai trò dẫn dắt nền kinh tế phát triển trên cơ sở mở rộng quyền tự do kinh doanh cho kinh tế tư nhân. Đẩy mạnh xây dựng các cơ chế, chính sách đột phá tạo thuận lợi nhất cho hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân có tầm khu vực và quốc tế, có thể tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tạo môi trường tự do kinh doanh thuận lợi nhất để các doanh nghiệp tư nhân liên kết với các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp FDI hình thành nên các liên kết ngành và tạo ra các chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế.
Sáu là, đẩy mạnh phát triển nền kinh tế số và kinh tế xanh trên cơ sở cho phép các doanh nghiệp kinh tế tư nhân được tiếp cận các cơ sở dữ liệu để phát triển các giải pháp số, công nghệ cao, công nghệ bán dẫn. Đẩy mạnh hình thành các mô hình kinh doanh mới (kinh tế số, tài chính số, kinh tế tuần hoàn) thông qua các cơ chế, chính sách thông thoáng, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và chấp nhận rủi ro, không bị trói buộc ở việc không quản được thì cấm. Hỗ trợ và khuyến khích kinh tế tư nhân chuyển đổi mô hình quản trị dựa trên dữ liệu và công nghệ xanh, phù hợp với đòi hỏi cao của thị trường thế giới. Luật hóa việc tạo điều kiện thuận lợi cho các tập đoàn kinh tế tư nhân phát triển trên các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ số, phát triển các loại hình liên kết các hoạt động sản xuất kinh doanh với các tập đoàn kinh tế trong nước và nước ngoài. Phát triển các doanh nghiệp kinh tế tư nhân hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ cao và lưỡng dụng
Bảy là, đẩy nhanh việc xây dựng hệ thống tư pháp hiện đại và hiệu quả với cơ chế, chính sách bảo đảm công bằng, nhanh chóng, phù hợp thông lệ quốc tế, bảo đảm cho kinh tế tư nhân có quyền tự do kinh doanh thực chất. Đi liền với đó là hình thành hệ thống tư pháp, pháp luật chuẩn mực, hiện đại, văn minh, bảo đảm mọi quyền tự do kinh doanh đều được bảo vệ một cách công bằng, thực chất không chỉ cho các chủ thể kinh tế của kinh tế tư nhân, mà còn cho các chủ thể kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác, không phân biệt đối xử.
3. Kết luận
Một trong những điểm mới trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng là đột phá thể chế, trong đó có thể chế phát triển kinh tế tư nhân. Để Nghị quyết đi vào cuộc sống, đòi hỏi phải nhanh chóng triển khai một cách quyết liệt các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế, trong đó có phát triển kinh tế tư nhân. Mở rộng quyền tự do kinh doanh của kinh tế tư nhân là một khâu đột phá thể chế hiện nay. Mở rộng quyền tự do kinh doanh cho kinh tế tư nhân một cách thực chất trong thực tiễn, khơi dậy và giải phóng mọi nguồn lực trong xã hội cho phát triển, nền kinh tế Việt Nam có thể đạt tốc độ tăng trưởng 10% trở lên trong năm 2026 và các năm tiếp theo. Do vậy, mở rộng quyền tư do kinh doanh cho kinh tế tư nhân là khâu đột phá đầu tiên cho việc đột phá thể chế hiện nay cần được triển khai và thực hiện.
_________________
Ngày nhận bài: 14/4/2026; Ngày bình duyệt: 6/5/2026; Ngày quyết định đăng: 3/7/2026
Email tác giả: lequoc1991@gmail.com
Tài liệu tham khảo
Ban Kinh tế Trung ương (2017). Tờ trình số 12-TTr/BKTTW về đánh giá 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Chính phủ (2017). Nghị quyết số 98/NQ-CP ngày 03/10/2017 của Chính phủ: Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2017 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chính phủ (2023). Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 31/03/2023 của Chính phủ: Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
BCHTW (2017). Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 2). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1990a). Luật Công ty số 47-LCT/HĐNN8 ngày 21/12/1990.
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1990b). Luật Doanh nghiệp tư nhân số 48-LCT/HĐNN8 ngày 21/12/1990.
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
Tô Lâm (2026). Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!. Báo Nhân Dân. https://nhandan.vn/tien-len-toan-thang-at-ve-ta-post945194.html
Tổng cục Thống kê (1993). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 1992.
Tổng cục Thống kê (2026a). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2025.
Tổng cục Thống kê (2026b). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội Quý IV và năm 2025.
Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính & Viện Konrad-Adenauer-Stiftung (2026). Báo cáo đánh giá 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam (VPE500).