Thực tiễn

Phát triển kinh tế xanh gắn với kinh tế số là động lực cốt lõi tạo ra sức mạnh tổng hợp trong kỷ nguyên mới

02/03/2026 16:14

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.4656
Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phát triển kinh tế xanh gắn với kinh tế số nổi lên như một chiến lược tất yếu, Bài viết phân tích vai trò, thực trạng của phát triển kinh tế xanh gắn với phát triển kinh tế số, chuyển đổi số, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nhấn mạnh vai trò trung tâm của Nhà nước trong việc điều phối, thể chế hóa và thúc đẩy quá trình này.

ThS NGUYỄN VĂN TUÂN
Trường Đại học Công nghệ giao thông vận tải

Bán hàng nông sản trực tuyến tại vườn ở tỉnh Đồng Nai_Nguồn: nld.com.vn

1. Mở đầu

Phát triển kinh tế xanh gắn với phát triển kinh tế số là xu thế toàn cầu và nhu cầu cấp thiết của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và cam kết mạnh mẽ về phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hai động lực về kinh tế xanh và kinh tế số không còn là lựa chọn song hành mà cần được tích hợp hữu cơ để tạo ra mô hình tăng trưởng bền vững, hiệu quả và bao trùm.

Kinh tế xanh hướng tới sử dụng tài nguyên tiết kiệm, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, trong khi kinh tế số và chuyển đổi số thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất và tối ưu hóa quản trị. Khi kết hợp, hai trụ cột này bổ trợ lẫn nhau: công nghệ số cung cấp dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và nền tảng kỹ thuật số để giám sát, dự báo và điều hành các hoạt động kinh tế theo hướng xanh; ngược lại, mục tiêu xanh định hướng cho quá trình số hóa đi đúng quỹ đạo phát triển bền vững, tránh nguy cơ “số hóa tiêu tốn năng lượng” hoặc gia tăng khoảng cách số.

Với chủ trương xuyên suốt, đặc biệt là Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 17-11-2022 về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đến Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, Việt Nam đang nỗ lực xây dựng thể chế, chính sách và hạ tầng đồng bộ để thúc đẩy sự gắn kết, thể hiện rõ định hướng chiến lược: phát huy vai trò của Nhà nước, đồng thời huy động sự tham gia của khu vực tư nhân, cộng đồng và đối tác quốc tế.

Phát triển kinh tế xanh gắn với phát triển kinh tế số vừa khái quát được bản chất của xu hướng phát triển mới, vừa phù hợp với bối cảnh thực tiễn và định hướng chính sách, tạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho các giải pháp cụ thể, khả thi trong thời gian tới.

2. Nội dung

2.1. Tính tất yếu của sự gắn phát triển kết kinh tế xanh với kinh tế số trong kỷ nguyên phát triển mới

Trong kỷ nguyên phát triển mới, khi toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm biến đổi sâu sắc mô hình tăng trưởng truyền thống, việc gắn kết phát triển kinh tế xanh với kinh tế số trở thành một tất yếu khách quan. Đây không chỉ là yêu cầu trước những thách thức về biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường, mà còn là điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo đảm tăng trưởng bền vững và bao trùm của quốc gia.

Kinh tế xanh, theo quan niệm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển (OECD), là mô hình kinh tế hướng tới giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và cải thiện chất lượng sống của con người. Bản chất của kinh tế xanh là sự kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và công bằng xã hội. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào các biện pháp truyền thống, quá trình chuyển đổi sang kinh tế xanh thường diễn ra chậm, chi phí cao và khó kiểm soát hiệu quả.

Trong khi đó, kinh tế số và chuyển đổi số đang nổi lên như động lực then chốt của tăng trưởng hiện đại. Việc ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa không chỉ nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất mà còn tạo ra các mô hình kinh doanh mới, phương thức quản trị mới và chuỗi giá trị mới. Kinh tế số cho phép giám sát, tối ưu hóa và dự báo chính xác hơn trong sử dụng tài nguyên, năng lượng và quản lý môi trường.

Chính vì vậy, sự gắn kết giữa kinh tế xanh và kinh tế số là tất yếu, bởi chuyển đổi số cung cấp công cụ và nền tảng để hiện thực hóa các mục tiêu của chuyển đổi xanh một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn. Công nghệ số giúp các ngành kinh tế chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào tài nguyên sang mô hình sản xuất thông minh, ít phát thải, tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường. Đồng thời, kinh tế xanh tạo ra không gian phát triển mới, định hướng cho kinh tế số phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.

Tại Việt Nam, định hướng phát triển kinh tế số gắn với kinh tế xanh đã được xác định rõ trong các nghị quyết của Đảng và Nhà nước. Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là hai nội dung trọng yếu để đưa đất nước đạt mục tiêu phát triển bền vững, trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045. Nghị quyết số 29/NQ-TW năm 2022 cũng xác định chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là nhân tố then chốt trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2021 - 2030. Văn kiện Đại hội XIV xác định: “Hoàn thiện đồng bộ thể chế bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu. Xây dựng, hoàn thiện thể chế bảo vệ môi trường sinh thái với phương châm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế. Chủ động xây dựng thể chế để thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn”(1).

Việc ưu tiên chuyển đổi số trong các ngành then chốt như sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải, logistics, nông nghiệp và du lịch nhằm thúc đẩy chuyển đổi xanh đã được cụ thể hóa trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2024. Đây là bước đi chiến lược giúp Việt Nam khai thác tối đa tiềm năng của kinh tế số, đồng thời giảm thiểu tác động môi trường, hướng tới một nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững và có khả năng chống chịu cao trước các biến động toàn cầu.

Cơ hội phát triển kinh tế số tại Việt Nam rất lớn, khi tỷ trọng kinh tế số cao trong các ngành kinh tế. Kinh tế số không chỉ giúp tăng trưởng GDP gấp 3-4 lần mà còn sinh ra nguồn tài nguyên mới là dữ liệu, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên hiện hữu. Tuy nhiên, thách thức cũng không nhỏ khi hạ tầng số tiêu thụ nhiều năng lượng và phát sinh rác thải điện tử. Do đó, việc phát triển công nghệ số tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng tái tạo là yêu cầu bắt buộc để giảm thiểu tác động tiêu cực, đồng thời thúc đẩy xu hướng xanh hóa trong toàn bộ quá trình chuyển đổi số.

2.2. Thực trạng kinh tế xanh gắn với phát triển kinh tế số

Thứ nhất, những thành tựu về kinh tế xanh gắn với phát triển kinh tế số ở Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, Việt Nam xác định thúc đẩy đồng thời kinh tế xanh và kinh tế số không chỉ là xu thế mà còn là yêu cầu sống còn, mang tính chiến lược. Dưới sự lãnh đạo nhất quán của Đảng và điều hành của Nhà nước, hai trụ cột này đã được thể chế hóa trong các chiến lược phát triển trọng tâm của đất nước nhằm hướng tới tăng trưởng mạnh mẽ, bền vững và hội nhập quốc tế.

Trên bình diện quốc gia, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050 (theo Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01-10-2021) nhấn mạnh việc sử dụng chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ như một động lực cốt lõi để thúc đẩy sản xuất sạch hơn, quản lý tài nguyên hiệu quả và giảm phát thải khí nhà kính thông qua các giải pháp số hóa trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là năng lượng, nông nghiệp và công nghiệp.

Một trong những thành tựu nổi bật là sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, được coi là động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Theo ước tính, kinh tế số Việt Nam năm 2024 đóng góp khoảng 18,3% GDP, với tốc độ tăng trưởng trên 20% mỗi năm, cao gấp gần 3 lần tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế và là mức tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực Đông Nam Á(2). Thương mại điện tử là phân khúc nổi bật, chiếm tới khoảng 2/3 giá trị toàn bộ nền kinh tế số vào năm 2024 với quy mô thị trường vượt mốc 25 tỷ USD, tăng trưởng mạnh so với năm trước(3).

Sự bùng nổ của kinh tế số đã tạo ra giá trị kinh tế trực tiếp và gián tiếp, tối ưu hóa chuỗi cung ứng, giảm chi phí giao dịch, mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao năng suất lao động. Những nền tảng số như AI, dữ liệu lớn (big data), điện toán đám mây… đang từng bước được các doanh nghiệp Việt Nam tích hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh và cải thiện khả năng cạnh tranh.

Song song với kinh tế số, các nỗ lực phát triển kinh tế xanh cũng đã đạt được nhiều bước tiến rõ nét thể hiện qua cam kết quốc tế và hành động trong nước. Tại Hội nghị COP26, Việt Nam chính thức cam kết phấn đấu đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Đây là mục tiêu tham vọng phản ánh quyết tâm chuyển dịch sang nền kinh tế “xanh hóa”(4).

Thực tế trong nước, nhiều chính sách và chương trình phát triển kinh tế xanh đã và đang được triển khai. Ví dụ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nay là Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên đã ban hành các kế hoạch giảm phát thải khí nhà kính ngành nông nghiệp và kế hoạch triển khai các sáng kiến liên quan tới quản lý đất đai, chương trình giảm phát thải từ rừng và tín chỉ carbon. Các mô hình nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu tiếp tục được nhân rộng, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và tính bền vững.

Trong lĩnh vực năng lượng - một trụ cột của kinh tế xanh, Việt Nam ghi nhận những bước tiến mạnh mẽ trong phát triển năng lượng tái tạo. Dữ liệu quốc tế cho thấy công suất nguồn điện mặt trời và gió đã tăng trưởng vượt bậc, góp phần quan trọng trong việc giảm sự lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Theo phân tích từ Ngân hàng Thế giới, công suất điện mặt trời đã tăng từ khoảng 4,5 GW năm 2019 lên hơn 17 GW vào năm 2023, là thành quả của chính sách khuyến khích đầu tư vào năng lượng tái tạo và sự tham gia đông đảo của các nhà đầu tư tư nhân(5).

Bên cạnh đó, xu hướng bảo vệ rừng và sử dụng đất bền vững cũng ghi nhận những kết quả ấn tượng: Việt Nam là một trong số ít quốc gia tăng độ che phủ rừng liên tục, từ khoảng 39% năm 1990 lên khoảng 42% vào năm 2023, góp phần hấp thụ CO₂ và bảo tồn đa dạng sinh học. Những nỗ lực này đã được ghi nhận thông qua các sáng kiến tín chỉ carbon rừng, và Việt Nam đã nhận được khoản hỗ trợ tài chính từ các quỹ toàn cầu nhờ đóng góp vào giảm phát thải.

Một điểm sáng trong phát triển kinh tế xanh là sự xuất hiện và phát triển của các mô hình sản xuất xanh gắn với kinh tế số như giải pháp giám sát phát thải bằng cảm biến IoT, hệ thống quản lý năng lượng thông minh, robot nông nghiệp, nền tảng dữ liệu môi trường và năng lượng tái tạo. Sự giao thoa giữa công nghệ số và kinh tế xanh không chỉ giúp giảm lượng khí thải mà còn mở ra cơ hội tiếp cận các chuỗi giá trị xanh toàn cầu, nơi yêu cầu minh bạch về dữ liệu môi trường và tiêu chuẩn ESG (“Environmental, Social and Governance”) đang trở thành điều kiện bắt buộc để tham gia thị trường quốc tế.

Như vậy, nhìn chung, những thành tựu ban đầu trong gắn kết kinh tế số và kinh tế xanh tại Việt Nam là bước đột phá trong phát triển mô hình tăng trưởng mới, bền vững, đặt nền tảng cho năng suất cao hơn, giảm phát thải môi trường và hội nhập sâu rộng với kinh tế toàn cầu.

Thứ hai, những hạn chế và bất cập trong phát triển kinh tế xanh gắn với kinh tế số

Mặc dù những kết quả ban đầu về phát triển kinh tế số và kinh tế xanh rất tích cực, thực tiễn triển khai cho thấy vẫn tồn tại nhiều bất cập và hạn chế lớn cản trở quá trình gắn kết hai trụ cột này một cách hiệu quả và bền vững.

Một là, mặc dù kinh tế số phát triển nhanh nhưng còn thiếu sự điều phối chính sách xuyên ngành để lồng ghép mục tiêu xanh. Hiện nay, các chính sách về số hóa, chuyển đổi số, công nghệ và tăng trưởng xanh thường được xây dựng theo lộ trình riêng biệt với ít liên kết hệ thống. Điều này dẫn tới việc tăng trưởng số chưa đi đôi với bền vững: nhiều doanh nghiệp số vẫn tập trung chủ yếu vào tăng trưởng doanh thu và mở rộng thị trường mà chưa quan tâm đúng mức tới yếu tố môi trường do thiếu khung khuyến khích ESG và các ưu đãi tài chính hướng tới mô hình “số hóa xanh”.

Hai là, tiến trình hiện thực hóa các cam kết kinh tế xanh gặp khó khăn do hạ tầng số và dữ liệu môi trường chưa đồng bộ. Dữ liệu môi trường, đánh giá phát thải và quản lý tài nguyên của nhiều địa phương hiện vẫn tách rời, phân mảnh, chưa được số hóa thống nhất theo hệ thống quốc gia. Điều này gây khó khăn cho việc đánh giá hiệu quả các dự án xanh, khiến tài chính xanh khó tiếp cận do ngân hàng và nhà đầu tư thiếu công cụ xác minh tính “xanh” và tính bền vững của dự án.

Ba là, ứng dụng công nghệ số vào kinh tế xanh còn mang tính đơn lẻ và manh mún. Mặc dù có nhiều sáng kiến tiên tiến như sử dụng IoT để giám sát lưới điện thông minh, drone để theo dõi rừng, các giải pháp này chủ yếu được triển khai ở quy mô nhỏ, thiếu mạng lưới dữ liệu dùng chung, tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất và chương trình nhân rộng hiệu quả ở cấp trung ương. Đồng thời, năng lực triển khai ở chính quyền cấp xã và doanh nghiệp nhỏ còn hạn chế, cả về kiến thức công nghệ số lẫn hiểu biết về kinh tế xanh - khiến nhiều giải pháp dù tiên tiến nhưng khó bám rễ thực tế.

Bốn là, nguồn lực tài chính cho chuyển đổi xanh - số còn thiếu hụt lớn. Theo dự tính, Việt Nam cần hàng chục tỷ USD mỗi năm đến năm 2030 để đạt được các mục tiêu tăng trưởng xanh; tuy nhiên, nguồn vốn trong nước hiện chỉ đáp ứng khoảng 30-40% nhu cầu. Thiếu hụt tài chính khiến nhiều dự án chuyển đổi số - xanh bị chậm tiến độ hoặc không thể triển khai đúng quy mô cần thiết.

Năm là, công nghệ lạc hậu và thiếu nhân lực chất lượng cao đang cản trở tiến trình này. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn vận hành dây chuyền cũ, tiêu hao năng lượng, chưa chuyển dịch sang công nghệ sạch và tự động hóa thông minh. Đồng thời, nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và kinh tế số còn thiếu, khiến chỉ có tỷ lệ nhỏ lao động đủ năng lực chuyên môn sâu để thúc đẩy các mô hình xanh - số quy mô lớn.

Sáu là, hạ tầng số và kỹ thuật chưa đồng bộ giữa các vùng miền, đặc biệt ở khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa, làm hạn chế khả năng tiếp cận các giải pháp số xanh, gây ra khoảng cách “số” trong quá trình thực hiện chuyển đổi số - xanh.

Bảy là, thể chế và năng lực quản trị nhà nước vẫn là rào cản lớn. Mặc dù hệ thống pháp luật về kinh tế xanh và số đã được ban hành, nhưng nhiều văn bản còn thiếu tính đồng bộ, chồng chéo và chưa cập nhật kịp tốc độ đổi mới công nghệ. Sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương chưa thật sự liên kết, dẫn tới tình trạng thực thi chính sách không đồng bộ, “mạnh ai nấy làm”.

Tám là, nhận thức của một bộ phận cán bộ quản lý về kinh tế xanh và kinh tế số còn hạn chế, dẫn đến thiếu chủ động trong hoạch định và thực thi chính sách phù hợp, ảnh hưởng đến hiệu quả vận hành trong thực tế.

Chín là, hợp tác quốc tế - một yếu tố quan trọng cho chuyển đổi xanh toàn cầu - vẫn chưa được khai thác hiệu quả. Mặc dù Việt Nam tham gia nhiều cam kết quốc tế, nhưng năng lực đàm phán, tiếp cận tiêu chuẩn quỹ khí hậu toàn cầu còn hạn chế, khiến việc huy động nguồn lực, công nghệ và tri thức từ đối tác quốc tế chưa đạt hiệu quả mong muốn.

Tóm lại, thực trạng phát triển kinh tế số và kinh tế xanh ở Việt Nam hiện nay cho thấy những bước tiến quan trọng về quy mô, chất lượng và mức độ ứng dụng công nghệ, nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế xuất phát từ thể chế, năng lực quản trị, hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực tài chính và nhận thức chính sách. Việc khắc phục những tồn tại này là tiền đề quyết định để Việt Nam hiện thực hóa mô hình tăng trưởng xanh - số bền vững trong dài hạn.

2.3. Giải pháp phát triển kinh tế xanh gắn với phát triển kinh tế số, chuyển đổi số

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và biến đổi khí hậu, Việt Nam đứng trước yêu cầu cấp thiết phải đổi mới mô hình tăng trưởng. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã định hướng rõ ràng: xây dựng “mô hình tăng trưởng mới” dựa trên kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, với khoa học, công nghệ và chuyển đổi số làm động lực chính. Tinh thần “chuyển đổi kép”, vừa số hóa, vừa xanh hóa, như cách tiếp cận chiến lược của Liên minh châu Âu, cần được hiện thực hóa thành hành động cụ thể, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ thể, kiến tạo và dẫn dắt. Dưới đây là sáu giải pháp then chốt, nhấn mạnh vai trò trung tâm của Nhà nước trong việc điều phối, thể chế hóa và thúc đẩy quá trình này.

Thứ nhất, Nhà nước cần chủ động hoàn thiện thể chế và chính sách tích hợp cho “chuyển đổi kép”

Đây là nền tảng pháp lý không thể thiếu để định hướng toàn xã hội. Nhà nước phải ban hành Chiến lược quốc gia về chuyển đổi xanh, số đến năm 2030, tầm nhìn 2045, trong đó lồng ghép các chỉ tiêu cụ thể về giảm phát thải, nâng cao tỷ trọng kinh tế số và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn. Đồng thời, cần rà soát, sửa đổi hệ thống luật pháp hiện hành để loại bỏ chồng chéo, bổ sung cơ chế ưu đãi cho doanh nghiệp áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường. Việc thành lập Quỹ chuyển đổi xanh, số do Nhà nước khởi xướng sẽ tạo đòn bẩy tài chính, hỗ trợ khu vực tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận công nghệ sạch và nền tảng số một cách bình đẳng.

Thứ hai, Nhà nước phải đóng vai trò chủ đạo trong đầu tư và quy hoạch hạ tầng số - xanh

Hạ tầng kỹ thuật là xương sống của cả kinh tế số và kinh tế xanh. Do đó, Nhà nước cần ưu tiên đầu tư vào các trung tâm dữ liệu sử dụng năng lượng tái tạo, mạng lưới viễn thông thế hệ mới (5G/6G) phủ rộng, và hệ thống cảm biến IoT giám sát môi trường theo thời gian thực. Quan trọng hơn, Nhà nước phải bảo đảm hạ tầng này được thiết kế theo nguyên tắc kinh tế tuần hoàn, từ khâu xây dựng đến vận hành và xử lý chất thải, nhằm tránh tạo ra “gánh nặng sinh thái” mới từ chính quá trình số hóa.

Thứ ba, Nhà nước cần định hướng và hỗ trợ chuyển đổi số trong các ngành kinh tế then chốt theo hướng xanh hóa

Thay vì để thị trường tự phát triển, Nhà nước phải xác định rõ các lĩnh vực ưu tiên (công nghiệp chế tạo, dệt may, logistics, nông nghiệp, du lịch) và ban hành lộ trình chuyển đổi có hỗ trợ kỹ thuật, tài chính và đào tạo. Thông qua các chương trình thí điểm, mô hình không gian thực, ảo, hay nền tảng số dùng chung, Nhà nước giúp doanh nghiệp thử nghiệm giải pháp xanh trước khi triển khai đại trà, từ đó giảm rủi ro và tiết kiệm tài nguyên.

Thứ tư, Nhà nước giữ vai trò then chốt trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho chuyển đổi kép

Nhà nước cần chủ trì xây dựng chương trình quốc gia đào tạo lao động có kỹ năng số và ý thức xanh, thúc đẩy hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp. Đồng thời, cần tạo hành lang pháp lý khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ xanh, thông qua cơ chế sandbox và ưu đãi chính sách, nhằm hình thành đội ngũ tiên phong trong chuyển đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng.

Thứ năm, Nhà nước phải là đầu mối chiến lược trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế

Để tiếp cận công nghệ tiên tiến và nguồn lực toàn cầu, Nhà nước cần chủ động đàm phán, ký kết các thỏa thuận hợp tác song phương và đa phương, đồng thời xây dựng hệ sinh thái đổi mới trong nước, như mở rộng các khu công nghệ cao tích hợp yếu tố xanh - số. Đặc biệt, Nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp lớn trong nước trở thành “đầu tàu” lan tỏa mô hình sản xuất sạch và số hóa cho mạng lưới SME, từ đó tạo chuỗi giá trị bền vững mang tính hệ thống.

Thứ sáu, Nhà nước cần thiết lập hệ thống giám sát, đánh giá và truyền thông hiệu quả

Một nền tảng dữ liệu quốc gia về phát thải và hiệu quả sử dụng tài nguyên, do Nhà nước quản lý, sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định chính sách. Đồng thời, Nhà nước phải chủ trì các chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng, biến “chuyển đổi kép” thành phong trào toàn dân, trong đó mỗi người dân, doanh nghiệp đều là chủ thể tích cực.

Để hiện thực hóa tầm nhìn “nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045” và cam kết Net Zero 2050, Nhà nước không thể chỉ ban hành chính sách, mà phải là kiến trúc sư trưởng, nhà điều phối và động lực cốt lõi trong quá trình gắn kết kinh tế xanh và kinh tế số. Chỉ khi phát huy đầy đủ vai trò chủ thể này, Việt Nam mới có thể vượt qua thách thức, nắm bắt cơ hội của kỷ nguyên số và biến đổi khí hậu, hướng tới một mô hình phát triển vừa hiện đại, vừa bền vững, vừa mang bản sắc dân tộc.

3. Kết luận

Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng và biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, việc gắn kết phát triển kinh tế xanh với kinh tế số và chuyển đổi số không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là lựa chọn chiến lược mang tính sống còn đối với Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, hai trụ cột này đã từng bước được thể chế hóa, hiện thực hóa qua các cam kết quốc tế như Net Zero 2050 và các định hướng trong Nghị quyết 29/NQ-TW, Chiến lược tăng trưởng xanh, Văn kiện Đại hội XIV. Tuy nhiên, để “chuyển đổi kép”, để vừa số hóa, vừa xanh hóa thực sự trở thành động lực đột phá cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà nước phải tiếp tục khẳng định vai trò chủ thể, kiến tạo và dẫn dắt.

Điều này đòi hỏi một hệ thống giải pháp đồng bộ: từ hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng số xanh, định hướng chuyển đổi ngành trọng điểm, đến đào tạo nhân lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế. Chỉ khi phát huy mạnh mẽ vai trò trung tâm của Nhà nước trong điều phối liên ngành, phân bổ nguồn lực và giám sát hiệu quả, Việt Nam mới có thể khai thác tối đa tiềm năng tương hỗ giữa kinh tế số và kinh tế xanh, vượt qua thách thức về khoảng cách số, thiếu hụt nguồn lực và thể chế, từ đó hiện thực hóa tầm nhìn trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045, một đất nước thịnh vượng, bền vững và hài hòa giữa con người, kinh tế và thiên nhiên.

_________________

Ngày nhận: 06-02-2026; Ngày bình duyệt: 25-02-2026; Ngày duyệt đăng: 27-02-2026.

(1) ĐCSVN: Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, tr.30.

(2) Trong Dat: Vietnam’s digital economy expands at record pace, now 18.3% of GDP, https://vietnamnet.vn, 7-02-2025.

(3) Vũ Khuê: Tỷ trọng thương mại điện tử chiếm 2/3 giá trị của nền kinh tế số Việt Nam, https://vneconomy.vn, ngày 7-01-2025.

(4) Quá trình chuyển đổi đạt phát thải ròng bằng 0: Cơ hội cho Việt Nam, https://assets.bbhub.io, ngày 23-12-2024.

(5) The worldbank: VIET NAM 2045 GROWING GREENER Pathways to a resilient and sustainable future, https://documents1.worldbank.org.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Phát triển kinh tế xanh gắn với kinh tế số là động lực cốt lõi tạo ra sức mạnh tổng hợp trong kỷ nguyên mới
    POWERED BY