DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2597
Tóm tắt: Bước vào kỷ nguyên phát triển mới với mô hình chính quyền địa phương hai cấp gắn với tăng cường phân cấp, phân quyền, với phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, đặt ra những yêu cầu cao đối với đội ngũ cán bộ cấp tỉnh về năng lực lý luận và thực tiễn, nhằm bảo đảm sự thống nhất này trong việc ra quyết định. Bài viết làm rõ những vấn đề lý luận về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc ra quyết định và yêu cầu nâng cao năng lực này của đội ngũ cán bộ cấp tỉnh trong kỷ nguyên phát triển mới.
ThS ĐÀO VĂN QUANG
Trường Chính trị Quảng Ngãi

1. Mở đầu
Trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống giữa lý luận và thực tiễn, bài viết phân tích, chỉ ra ba nội dung cốt lõi của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc ra quyết định nói chung, của cán bộ cấp tỉnh nói riêng. Đó là, các quyết định phải là sự cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương; phải đáp ứng nhu cầu thực tiễn của địa phương, xuất phát từ thực tiễn địa phương, không giáo điều; căn cứ từ thực tiễn địa phương là bảo đảm tính khả thi của quyết định. Các nội dung này thống nhất và liên hệ với nhau.
Bảo đảm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn không chỉ phản ánh bản chất của tư duy lãnh đạo, quản lý mang tính khoa học, mà còn quyết định trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả của các quyết sách đối với sự phát triển của địa phương. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, khẳng định tri thức lý luận chỉ trở thành sức mạnh vật chất khi được vận dụng đúng vào hoạt động thực tiễn. Lý luận giữ vai trò định hướng, cung cấp nền tảng khoa học cho nhận thức và hành động, trong khi thực tiễn là tiêu chí kiểm nghiệm tính đúng đắn, chân thực, hiệu lực và khả năng phát triển của lý luận.
Trong việc ra quyết định của cán bộ cấp tỉnh, nguyên tắc này đòi hỏi phải bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước với điều kiện, yêu cầu thực tiễn phát triển của địa phương. Mỗi quyết định không chỉ phản ánh tinh thần, định hướng chính trị mà còn phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên căn cứ các điều kiện thực tiễn khách quan của địa phương.
Chính sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn là tiền đề để các quyết định của cấp tỉnh đạt được tính khoa học, tính phù hợp và tính khả thi, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương trong kỷ nguyên phát triển mới. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc ra quyết định không chỉ là yêu cầu mang tính nguyên lý mà còn là tiêu chí phản ánh tư duy, chất lượng lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ cấp tỉnh.
2. Nội dung
Thực hiện chính quyền địa phương hai cấp trong bối cảnh thực hiện mục tiêu “Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(1), đặt ra yêu cầu bảo đảm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ cấp tỉnh. Đây là yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với năng lực lãnh đạo của cấp tỉnh.
2.1. Các quyết định của cấp tỉnh phải là sự cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn địa phương
Quyết định của cấp tỉnh là kết quả quá trình người lãnh đạo dựa trên các căn cứ chính trị, pháp lý và thực tiễn đưa ra các phương án và các lựa chọn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý để phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, con người, xây dựng Đảng, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh, đối ngoại ở địa phương. Do vậy, các quyết định phải cụ thể hóa được các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước thành những quyết định phù hợp với điều kiện thực tiễn cụ thể của địa phương.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “có nắm vững đường lối cách mạng mới thấy rõ phương hướng tiến lên của cách mạng, mới hiểu rõ mình phải làm gì và đi theo phương hướng nào để thực hiện mục đích của Đảng trong giai đoạn cách mạng hiện nay”(2). Yêu cầu trước hết là phải thống nhất sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong thực tiễn. Đồng thời, các quyết định lãnh đạo, quản lý chỉ thực sự phát huy tác dụng khi cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước thành các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp khả thi ở địa phương.
Trong bối cảnh sau khi thực hiện cuộc cách mạng sắp xếp, sáp nhập cấp tỉnh, dừng hoạt động cấp huyện, mỗi tỉnh có quy mô diện tích lớn với đặc điểm đa dạng về điều kiện tự nhiên, nguồn lực phát triển, văn hóa - xã hội, điều kiện thực tiễn, do đó các quyết định lãnh đạo của tỉnh phải vừa bám sát chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước vừa đáp ứng nhu cầu thực tế và phù hợp với thực tiễn địa phương. Việc cụ thể hóa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước không thể tiến hành một cách rập khuôn, máy móc mà đòi hỏi sự vận dụng linh hoạt và sáng tạo.
Trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, cán bộ cấp tỉnh cần có năng lực phân tích, dự báo, nhận thức đúng những vấn đề đặt ra từ thực tiễn địa phương và đất nước, từ đó xác định các mục tiêu và giải pháp trong các quyết định lãnh đạo, quản lý phù hợp. Chẳng hạn, trong triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, dù mục tiêu chung đã được xác định, nhưng cách thức tổ chức thực hiện giữa các tỉnh khác nhau yêu cầu mô hình, cách thức thực thi phù hợp với đặc điểm dân cư, kết cấu hạ tầng và tiềm năng, thế mạnh của từng địa bàn trong tỉnh.
Quá trình cụ thể hóa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, đồng thời huy động được sự đồng thuận và tham gia của nhân dân. Các quyết định lãnh đạo của cấp tỉnh phải hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, quá trình triển khai luôn phát sinh những vấn đề mới từ thực tiễn, đòi hỏi cán bộ cấp tỉnh phải kịp thời tổng kết, rút kinh nghiệm và đề xuất các phương án điều chỉnh các quyết định, các chủ trương, chính sách phù hợp hơn với tình hình thực tế địa phương.
Như vậy, sự cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với thực tiễn địa phương không chỉ thể hiện trình độ tư duy lý luận của cán bộ cấp tỉnh mà còn phản ánh năng lực nắm bắt thực tiễn, khả năng tổ chức thực hiện và trách nhiệm trong điều hành lãnh đạo, quản lý của đội ngũ này. Đây là yêu cầu quan trọng bảo đảm cho các quyết định của cấp tỉnh vừa đúng định hướng chiến lược phát triển quốc gia, vừa phù hợp và hiệu quả trong thực tiễn địa phương.
Các quyết định của cấp tỉnh không chỉ là sự quán triệt, triển khai một chiều đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn phải bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn. Điều này đòi hỏi việc ra quyết định phải dựa vào việc phân tích khách quan, toàn diện tình hình thực tiễn của địa phương, phù hợp với yêu cầu phát triển và nguyện vọng của nhân dân. Nếu các quyết định xa rời thực tiễn địa phương, rập khuôn, máy móc, giáo điều, sẽ thiếu tính khả thi, dẫn đến lãng phí nguồn lực, giảm hiệu lực lãnh đạo, hiệu quả quản lý và làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo, quản lý và cấp ủy, chính quyền.
Việc ban hành quyết định phải xuất phát từ thực tiễn địa phương, trước hết xuất phát từ đặc điểm điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, cơ cấu dân cư, văn hóa và khả năng nguồn lực của mỗi tỉnh. Bối cảnh và vấn đề đặt ra ở từng địa phương luôn biến đổi, không đồng nhất và nhiều khi biến đổi nhanh, phức tạp, bất thường. Do đó, việc ra quyết định phát triển kinh tế - xã hội và các mặt khác ở địa phương luôn phải tính tới các yếu tố đặc thù, điều kiện thực tiễn địa phương, nếu không sẽ khó mang lại hiệu quả. Chẳng hạn, những quyết định phát triển công nghiệp phù hợp với các tỉnh có hạ tầng và nguồn nhân lực chất lượng cao có thể không khả thi đối với một tỉnh miền núi còn gặp nhiều khó khăn về giao thông, thị trường và nguồn lực đầu tư. Điều này cho thấy, ra quyết định lãnh đạo, quản lý chỉ dựa trên lý luận, chủ trương, đường lối, chính sách chung mà không xuất phát từ thực tiễn, không đáp ứng nhu cầu của địa phương, sa vào giáo điều, dễ dẫn đến hạn chế hiệu quả.
Nhấn mạnh yêu cầu nắm vững thực tiễn là cơ sở để vận dụng sáng tạo lý luận và xây dựng, hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách, Đảng ta yêu cầu: “Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn,... không ngừng phát triển lý luận, đề ra đường lối và chủ trương đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, khắc phục một số mặt lạc hậu, yếu kém của công tác nghiên cứu lý luận”(3).
Đối với đội ngũ cán bộ cấp tỉnh, am hiểu thực tế đồng nghĩa với khả năng nhận diện đúng vấn đề, xác định trúng những nhu cầu cấp thiết của địa phương và của các tầng lớp nhân dân, từ đó đề ra được những quyết định sát hợp và khả thi.
Việc lắng nghe ý kiến người dân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, khảo sát thực tế, tham vấn chuyên gia, tham chiếu thông tin khoa học và dữ liệu quản lý nhà nước… là những cách thức quan trọng để cán bộ nắm bắt thực tiễn, có cơ sở khoa học trong việc ra quyết định bảo đảm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Bên cạnh đó, yêu cầu tránh giáo điều trong ra quyết định không chỉ thể hiện ở việc không rập khuôn về nội dung, mà còn ở việc tránh áp dụng cứng nhắc chủ trương, chính sách, pháp luật trong thực tiễn. Lý luận, đường lối, chính sách chỉ phát huy hiệu quả khi được vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn.
Vì vậy, cán bộ cấp tỉnh cần có tư duy mở, biết kế thừa kinh nghiệm, chú trọng tổng kết thực tiễn, đồng thời mạnh dạn đề xuất các quyết định phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương. Sự linh hoạt trong vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là yếu tố quan trọng để việc ra quyết định vừa đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn cụ thể của địa phương.
Việc ra quyết định khoa học và phù hợp thực tiễn đòi hỏi năng lực dự báo, tầm nhìn của đội ngũ cán bộ cấp tỉnh. Một quyết định đúng không chỉ giải quyết vấn đề trước mắt mà còn phải dự liệu, lường định trước được những tác động lâu dài về kinh tế, xã hội, môi trường và văn hóa. Khả năng đánh giá tình hình và dự báo xu hướng vận động giúp cán bộ cấp tỉnh lựa chọn các quyết định phù hợp nhất, bảo đảm ổn định lâu dài và phát triển bền vững của địa phương.
Ngoài ra, tính khả thi của quyết định còn phụ thuộc vào mức độ huy động được sự đồng thuận và tham gia của cộng đồng. Khi người dân được tham gia vào quá trình xây dựng, triển khai và giám sát việc thực thi chính sách, họ sẽ có trách nhiệm hơn với chính sách, đồng thời góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh, hoàn thiện các quyết định cho sát thực tiễn hơn. Đây cũng là một yêu cầu quan trọng trong việc ra quyết định bảo đảm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Trong điều kiện thực tiễn luôn vận động, các quyết định dù được chuẩn bị công phu đến đâu vẫn có thể bộc lộ những hạn chế, khiếm khuyết khi triển khai. Vì vậy, mỗi quyết định sau khi ban hành, đội ngũ cán bộ cấp tỉnh phải thường xuyên theo dõi, đôn đốc, cập nhật, để điều chỉnh việc thực thi quyết định trên cơ sở thông tin mới và phản hồi từ thực tiễn. Khả năng điều chỉnh linh hoạt thể hiện bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, quản lý, đồng thời bảo đảm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc ban hành và thực thi quyết định.
Như vậy, quyết định của cấp tỉnh chỉ thực sự đúng đắn và hiệu quả khi xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của địa phương và được vận dụng linh hoạt trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn đổi thay. Tránh giáo điều, rập khuôn và xa rời thực tế là yêu cầu xuyên suốt đối với đội ngũ cán bộ cấp tỉnh, bảo đảm cho các quyết định của cấp tỉnh thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Tính khả thi trong các quyết định nói chung, quyết định của cấp tỉnh nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vai trò lãnh đạo, quản lý điều hành, đồng thời phản ánh trực tiếp năng lực lãnh đạo, trình độ tư duy và hiệu quả quản lý, điều hành của đội ngũ cán bộ.
Một quyết định chỉ thực sự phát huy tác dụng khi vừa bảo đảm tuân thủ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vừa phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương - nơi các chính sách ấy được triển khai. Thực tiễn sinh động ở địa phương cấp tỉnh sau khi sắp xếp, với những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội và con người, là “chất liệu” quan trọng để đội ngũ cán bộ cấp tỉnh xác định hướng đi, cách làm và giải pháp phù hợp. Những quyết định dựa trên thực tiễn không chỉ dễ triển khai, dễ kiểm chứng mà còn tạo được sự đồng thuận trong xã hội, giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả quản lý.
Mỗi địa phương sau khi sắp xếp có điểm xuất phát và điều kiện phát triển cụ thể, do đó, quyết định lãnh đạo, quản lý của cấp tỉnh không thể được xây dựng theo kiểu rập khuôn, sao chép máy móc các mô hình từ những địa phương khác hoặc cách làm của mô hình chính quyền địa phương ba cấp trước đây.
Khi xuất phát từ thực tiễn, quyết định sẽ phản ánh đúng nhu cầu địa phương, phù hợp với năng lực của địa phương, và do đó có khả năng tạo ra thay đổi tích cực. Ngược lại, nếu quyết định ban hành không phù hợp với thực tiễn địa phương, dễ trở nên xa rời cuộc sống, thiếu tính khả thi, thậm chí gây lãng phí nguồn lực hoặc tạo ra những hệ quả tiêu cực, như đình trệ dự án, cản trở phát triển hoặc làm phát sinh mâu thuẫn trong xã hội.
Bám sát thực tiễn, vì vậy, không chỉ là yêu cầu về kỹ năng lãnh đạo, quản lý mà còn là biểu hiện sâu sắc sự quán triệt nguyên lý thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong xây dựng, ban hành quyết định của cán bộ nói chung, cán bộ cấp tỉnh nói riêng.
Tính khả thi của quyết định phụ thuộc trước hết vào việc đánh giá đúng tình hình thực tiễn. Cán bộ cấp tỉnh phải nắm chắc những đặc điểm, đặc thù của địa phương như tốc độ phát triển kinh tế, cơ cấu ngành nghề, trình độ dân trí, điều kiện hạ tầng, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, cũng như các vấn đề phức tạp liên quan đến dân cư, an sinh xã hội, môi trường và an ninh trật tự. Thấu hiểu thực tiễn giúp cán bộ cấp tỉnh có thể cụ thể hóa được các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thành các quyết định sát, đúng, vừa bảo đảm tính khoa học vừa phù hợp với yêu cầu thực tiễn phát triển của địa phương. Thực tiễn vì vậy, không chỉ là cơ sở để hình thành quyết định mà còn là tiêu chí để kiểm nghiệm quyết định đó có hợp lý hay không, có mang lại hiệu quả hay không, có tính khả thi hay không.
Nguồn lực của địa phương là yếu tố chi phối trực tiếp đến tính khả thi của quyết định. Đối với nguồn lực tài chính, một quyết định dù có mục tiêu tốt đẹp nhưng nếu ngân sách không thể đáp ứng, cơ chế huy động vốn còn hạn chế hoặc phương án phân bổ nguồn lực không phù hợp, thì rất khó triển khai trong thực tế. Việc căn cứ vào thực tiễn giúp lãnh đạo tỉnh tính toán cụ thể về khả năng ngân sách, lựa chọn thứ tự ưu tiên đầu tư, bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả. Thay vì ban hành những quyết định mang tính “tham vọng” nhưng thiếu cơ sở nguồn lực thực hiện, cán bộ cấp tỉnh phải tập trung vào những mục tiêu phù hợp khả năng thực tế, căn cứ vào thực tiễn địa phương.
Nguồn nhân lực cũng là yếu tố quan trọng quyết định khả năng thực thi của quyết định. Một quyết định đúng đắn về nội dung nhưng đội ngũ thực thi thiếu năng lực hoặc thiếu trách nhiệm thì kết quả sẽ rất hạn chế. Thấu hiểu thực tiễn nguồn nhân lực giúp cán bộ cấp tỉnh đưa ra quyết định phù hợp với trình độ, khả năng tiếp nhận và năng lực triển khai của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và lao động. Đồng thời, việc dựa vào thực tiễn cũng giúp xác định đúng các nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng và bố trí nhân lực, tạo điều kiện để quyết định được thực hiện hiệu quả và không tạo áp lực quá lớn lên hệ thống thực thi.
Trong nhiều trường hợp, thực trạng kết cấu hạ tầng và điều kiện kỹ thuật quyết định trực tiếp sự thành - bại của chính sách. Một quyết định phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư công hay chuyển đổi cơ cấu kinh tế chỉ thực sự khả thi khi hạ tầng giao thông, năng lượng, thông tin, đô thị hoặc nông thôn của địa phương đáp ứng được yêu cầu triển khai. Việc nắm chắc điều kiện thực tiễn giúp lãnh đạo tỉnh đưa ra các quyết định phù hợp với thực trạng hạ tầng, tránh những phương án thiếu tính toán, gây đội vốn, kéo dài thời gian thực hiện hoặc làm giảm hiệu quả đầu tư.
Các yếu tố môi trường tự nhiên cũng cần được xem xét kỹ lưỡng khi ra quyết định. Như biến đổi khí hậu, nguy cơ thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường sinh thái có thể tác động trực tiếp đến tính khả thi của dự án hoặc chính sách. Bởi vậy, căn cứ vào thực tiễn địa phương giúp cán bộ cấp tỉnh ra các quyết định hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, hướng tới phát triển bền vững và hạn chế rủi ro dài hạn.
Việc lựa chọn phương thức, giải pháp thực thi quyết định cũng phải dựa trên căn cứ thực tiễn địa phương. Một giải pháp khả thi là khi có sự cân bằng giữa cơ sở khoa học và điều kiện thực tế. Trong nhiều trường hợp, lãnh đạo cấp tỉnh không thể áp dụng máy móc các mô hình quản lý từ trung ương hoặc các địa phương khác, mà cần có tư duy linh hoạt, sáng tạo trong xác định cách thức thực thi và điều chỉnh kịp thời theo điều kiện thực tiễn địa phương. Chẳng hạn, trong bối cảnh ngân sách hạn chế, việc dàn trải đầu tư sẽ dẫn đến kém hiệu quả; thay vào đó, ưu tiên các dự án có tính động lực và khả năng lan tỏa sẽ mang lại giá trị cao hơn. Trong cải cách hành chính, quyết định cũng phải phù hợp với trình độ tiếp cận công nghệ của người dân, tránh áp dụng các hệ thống kỹ thuật quá phức tạp khi hạ tầng hoặc dân trí chưa đáp ứng.
Tính khả thi của quyết định còn được thể hiện thông qua mức độ đồng thuận xã hội. Một quyết định không được người dân và các tổ chức liên quan ủng hộ thì rất khó triển khai. Thực tiễn cho thấy, sự tham gia của cộng đồng, đặc biệt qua hoạt động tham vấn, phản biện xã hội, góp phần nâng cao tính thực tiễn, tính hợp lý và tính thuyết phục của quyết định. Khi người dân được lắng nghe và tham gia vào quá trình xây dựng chính sách, họ sẽ đồng hành nhiều hơn trong quá trình thực hiện. Điều này giúp giảm căng thẳng xã hội, tăng tính minh bạch và củng cố niềm tin của nhân dân đối với chính quyền. Nếu quyết định bảo đảm các yếu tố này thì tính khả thi sẽ cao.
Một quyết định có tính khả thi không chỉ là có thể triển khai ngay khi ban hành, mà còn là quyết định có khả năng thích ứng với sự biến đổi của thực tiễn. Thực tiễn luôn vận động, biến đổi, do đó, việc đánh giá tác động trước, trong và sau khi triển khai là vô cùng quan trọng. Khi phát hiện các vấn đề phát sinh, lãnh đạo cấp tỉnh cần kịp thời điều chỉnh quyết định hoặc bổ sung giải pháp để bảo đảm hiệu quả cuối cùng. Sự linh hoạt, chủ động và sáng tạo trong điều hành là biểu hiện của năng lực quản lý hiện đại, giúp quyết định duy trì tính khả thi trong điều kiện nhiều biến động.
3. Kết luận
Trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của cấp tỉnh, việc ra quyết định có ý nghĩa quan trọng, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội và các lĩnh vực khác của địa phương. Các quyết định của cấp tỉnh chỉ thực sự khả thi khi được xây dựng dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa lý luận khoa học, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thực tiễn địa phương. Việc bám sát thực tiễn không chỉ giúp quyết định phù hợp hơn với yêu cầu và điều kiện thực tế mà còn tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, bảo đảm hiệu quả triển khai và góp phần thúc đẩy phát triển bền vững. Từ yêu cầu của bối cảnh mới, đội ngũ cán bộ cấp tỉnh cần xem thực tiễn như nền tảng của tư duy lãnh đạo, là tiêu chuẩn kiểm nghiệm chân lý và là cơ sở quan trọng nhất để đưa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời và khả thi, đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc ra quyết định nói chung, của cấp tỉnh sau sắp xếp, sáp nhập nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và đặt ra yêu cầu tăng cường năng lực lý luận và thực tiễn của đội ngũ cán bộ cấp tỉnh. Đây là nhân tố quyết định các quyết định của cấp tỉnh có tính khả thi. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động ra quyết định của cấp tỉnh được thể hiện qua ba nội dung cốt lõi: (1) xuất phát từ thực tiễn địa phương; (2) đáp ứng đúng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân; (3) được vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo trên cơ sở lý luận khoa học. Sự gắn kết chặt chẽ này giúp các quyết định vừa có cơ sở lý luận vững chắc, vừa phù hợp với điều kiện phát triển cụ thể, bảo đảm tính khả thi, hiệu quả và bền vững. Điều đó đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực lý luận và thực tiễn của đội ngũ cán bộ cấp tỉnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại mỗi địa phương, vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
_________________
Ngày nhận bài: 12-12-2025; Ngày bình duyệt: 12-01-2026; Ngày quyết định đăng: 19-01-2026.
Email tác giả: daovanquangtct@gmail.com
(1) ĐCSVN: Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, tr.21.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 115.