Nghiên cứu lý luận

Ý chí tự lực, tự cường trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và sự vận dụng trong kỷ nguyên phát triển mới

27/02/2026 11:37

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5338
Tóm tắt: Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình năm 1945 là lời khẳng định mạnh mẽ với toàn thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nội dung ngắn gọn nhưng bản Tuyên ngôn hàm chứa giá trị to lớn về độc lập dân tộc, tinh thần tự lực, tự cường và ý chí bất khuất của nhân dân Việt Nam. Tuyên ngôn khẳng định quyết tâm thoát khỏi mọi ách thống trị, đề cao sức mạnh nội lực để bảo vệ và giữ vững nền độc lập dân tộc. Tinh thần ấy tiếp tục soi đường cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và kiên định con đường xã hội chủ nghĩa; quyết tâm hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

ThS PHẠM TRẦN QUỲNH MAI
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
TS PHÙNG THỊ AN NA
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

tndl.png
Ý chí tự lực, tự cường được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong Tuyên ngôn Độc lập chính là kim chỉ nam cho tinh thần của dân tộc, là di sản quý báu vừa có giá trị lý luận, vừa mang tính thực tiễn cao trong việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc_Tranh: Báo Nhân dân

1. Mở đầu

Theo Từ điển tiếng Việt, ý chí được định nghĩa là khả năng tự xác định mục đích cho hành động, tự định hướng hoạt động và kiên trì vượt khó để đạt mục tiêu(1). Ý chí tự lực thể hiện năng lực chủ động hành động bằng sức của mình, không dựa dẫm vào người khác; trong khi ý chí tự cường nhấn mạnh quá trình quyết tâm tự rèn luyện, tự bồi đắp sức mạnh. Khái quát lại, ý chí tự lực, tự cường là biểu hiện của ý thức độc lập và bản lĩnh tự chủ của mỗi cá nhân, cộng đồng và dân tộc; là cơ chế tạo ra sức mạnh nội sinh nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển mà không lệ thuộc vào tác động ngoại sinh. Đây là phẩm chất cốt lõi của mỗi dân tộc, phản ánh lòng tự trọng, khát vọng vươn lên và quyết tâm xây dựng đất nước.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mặc dù không có định nghĩa theo khuôn mẫu về khái niệm nhưng ý chí tự lực, tự cường được thể hiện xuyên suốt trong các bài viết, bài nói truyện, hình thành hệ thống quan điểm nhất quán về sức mạnh tinh thần và khát vọng độc lập dân tộc gắn liền với xã hội chủ nghĩa; coi nhân dân là chủ thể của mọi thắng lợi cách mạng. Nội hàm ấy bao gồm: tư tưởng độc lập trong tư duy, hành động và lựa chọn đường phát triển; ý chí kiên quyết bảo vệ độc lập dân tộc, trong đó nội lực giữ vai trò quyết định, ngoại lực là yếu tố quan trọng.

Tuyên ngôn Độc lập thể hiện sâu sắc cao độ tinh thần tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam. Tác phẩm không chỉ là lời tuyên bố trịnh trọng trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà còn khẳng định ý chí giành độc lập, giữ gìn nền độc lập ấy qua quá trình đấu tranh cách mạng đầy gian khổ.

2. Nội dung

2.1. Nội dung cơ bản về ý chí tự lực, tự cường trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945

Ý chí tự lực, tự cường trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 được thể hiện cô đọng nhưng đầy tính khoa học, chặt chẽ, phản ánh tư duy lý luận uyên bác của một nhà lý luận và hoạt động thực tiễn. Nội dung của ý chí tự lực, tự cường trong Tuyên ngôn được khái quát thành ba vấn đề cơ bản:

Thứ nhất, Tuyên ngôn Độc lập xác lập cơ sở thực tiễn và pháp lý cho ý chí tự lực, tự cường

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là mốc son chói lọi, đánh dấu bước nhảy vọt về chất trong tiến trình cách mạng Việt Nam, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc. Trong Tuyên ngôn Độc lập, ý chí tự lực, tự cường của toàn dân tộc được khái quát và kết tinh từ chặng đường đấu tranh gian khổ đánh đuổi thực dân, phát xít, đồng thời xóa bỏ chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm.

Quá trình ấy diễn ra ngay từ năm 1858, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược tại Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam. Đến năm 1884, sau khi triều Nguyễn ký Hòa ước Patơnốt (Giáp Thân), thực dân Pháp đã hoàn tất cuộc xâm lược quân sự, áp đặt chế độ cai trị hà khắc trên lãnh thổ Việt Nam. Tháng 9-1940, phát xít Nhật tiến vào Đông Dương, cùng Pháp chia quyền thống trị rồi đảo chính Pháp vào ngày 09-3-1945. Trong những năm tháng này, ý chí tự lực, tự cường của nhân dân Việt Nam được thể hiện qua hàng loạt phong trào đấu tranh và khởi nghĩa vũ trang liên tiếp ở khắp nơi. Trước năm 1930, khi chưa có Đảng lãnh đạo, nhiều phong trào yêu nước diễn ra sôi nổi nhưng đều thất bại, tiêu biểu như phong trào Cần Vương, Đông Kinh Nghĩa Thục, Đông Du, khởi nghĩa nông dân Yên Thế.

Mùa Xuân năm 1930, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở ra bước ngoặt lịch sử, đưa cuộc đấu tranh dân tộc sang thời kỳ mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ: phong trào 1930 - 1931 với đỉnh cao Xô Viết - Nghệ Tĩnh; phong trào đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939); phong trào giải phóng dân tộc (1939 - 1945) với đỉnh cao là thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”(2).

Như vậy, ý chí tự lực, tự cường được hun đúc trong truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc suốt mấy ngàn năm lịch sử được thể hiện rõ nét trong thời kỳ chống thực dân, phát xít. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, ý chí tự lực, tự cường đã được chuyển hóa thành thực tiễn đấu tranh cách mạng của các tầng lớp nhân dân trong kháng chiến chống Pháp, Nhật.

Bên cạnh đó, ý chí tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam được khẳng định bởi cơ sở pháp lý và thực tiễn rõ ràng. Những khẳng định về quyền bình đẳng, tự do và mưu cầu hạnh phúc trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của Cách mạng Pháp được Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn đã trở thành nền tảng lý luận quan trọng, qua đó khẳng định quyền độc lập và đấu tranh vì chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(3). “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”(4). Người khẳng định: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”(5).

Quyền bình đẳng giữa con người và giữa các dân tộc (suy rộng ra) là đặc quyền tự nhiên, là sản phẩm của tạo hóa. Do đó, dân tộc nào cũng có quyền đấu tranh giành bình đẳng, quyền được sống sung sướng và quyền được tự do. Đối với dân tộc Việt Nam, một dân tộc với ý chí tự lực, tự cường đã kiên trì đấu tranh vì quyền độc lập dân tộc cũng là lẽ tự nhiên, là tất yếu khách quan, vì “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(6).

Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn những quan điểm chính trị kinh điển, kết tinh tư tưởng tiến bộ của nhân loại từ hai bản của Hoa Kỳ và của Pháp, đã tạo nên nền tảng pháp lý vững chắc, mang tính thuyết phục cao để khẳng định quyền tự quyết thiêng liêng của dân tộc Việt Nam. Đây không chỉ là lập luận mang tính quốc tế mà còn là sự khẳng định mạnh mẽ kết quả của ý chí tự lực, tự cường mà dân tộc ta đã bền bỉ hun đúc qua nhiều thế kỷ đấu tranh bảo vệ chủ quyền. Ý chí ấy được đặt trên cơ sở pháp lý và thực tiễn không thể phủ nhận: mọi dân tộc, không phân biệt màu da, giàu nghèo hay trình độ phát triển, đều có quyền độc lập, bao gồm độc lập về lãnh thổ, về tư duy và lựa chọn con đường phát triển. Việt Nam, với truyền thống lịch sử và khát vọng vươn lên cũng thuộc về quy luật tất yếu đó. Đây cũng chính là nội hàm nền tảng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường của dân tộc.

Thứ hai, tư tưởng về độc lập dân tộc và đấu tranh xóa bỏ ách thống trị Pháp, Nhật ở Việt Nam

Trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ bản chất của chế độ thực dân. Một mặt, thực dân Pháp lợi dụng ngọn cờ tư tưởng, khẩu hiệu tiến bộ, văn minh để hợp lý hóa và hợp thức hóa việc xâm lược Việt Nam. Mặt khác, thực dân Pháp áp đặt chế độ cai trị hà khắc trên các lĩnh vực từ chính trị đến kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng... “Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”(7). Hồ Chí Minh cho rằng, núp dưới ngọn cờ tự do, bình đẳng, bác ái, thực dân Pháp “tuyệt đối không cho dân ta một chút tự do dân chủ nào”(8); “bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều”(9) về kinh tế; “thi hành chính sách ngu dân,... dùng thuốc phiện, rượu, cồn, để làm nòi giống ta suy nhược”(10); trong 5 năm (từ năm 1939 - 1945), thực dân Pháp không những không bảo hộ được Việt Nam mà “đã “bán” nước ta hai lần cho Nhật”(11).

Ý chí tự lực, tự cường trong Tuyên ngôn Độc lập được thể hiện đậm nét qua lời khẳng định đanh thép của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền và ý chí độc lập, bất khả xâm phạm của nhân dân Việt Nam. Đó không phải là tuyên bố nhất thời, mà là kết tinh của cả một quá trình bền bỉ, kiên định hiện thực hóa con đường cứu nước và giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản mà Người đã lựa chọn.

Từ nhận thức đến hành động, từ khát vọng đến hiện thực, tư tưởng ấy đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong sự nghiệp cách mạng, hun đúc nên sức mạnh đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Trong Tuyên ngôn của Hội Liên hiệp thuộc địa - tổ chức của những người dân bản xứ ở tất cả các thuộc địa, Hồ Chí Minh viết: “Anh em phải làm thế nào để được giải phóng? Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”(12).

Người cho rằng, công cuộc giải phóng đất nước sẽ là tiền đề, điều kiện thành công nếu như các thế hệ nhân dân sớm hồi sinh và phát huy ý chí dân tộc. Trong tác phẩm Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”(13).

Thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thành quả của ý chí kiên cường, bất khuất, tự lực, tự cường trong đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trên cơ sở pháp lý và thực tiễn, Hồ Chí Minh đã đề cập đến ý chí độc lập dân tộc, khát vọng thoát ly khỏi sự lệ thuộc và xóa bỏ mọi đặc quyền của thực dân, phát xít ở Việt Nam. Tuyên ngôn Độc lập có đoạn viết: “…tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”(14).

Ý chí tự lực, tự cường được thể hiện trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 chính là quyền tự quyết cao nhất của dân tộc Việt Nam, đó là quyền làm chủ vận mệnh và lựa chọn con đường phát triển của đất nước. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập về tư duy, hành động và định hướng phát triển là nền tảng của tự lực, tự cường và tự lực, tự cường không thể là sự lệ thuộc, bất bình đẳng mà phải là quan hệ hợp tác bình đẳng, cùng có lợi giữa các quốc gia. Tuyên ngôn Độc lập vì thế trở thành lời khẳng định chắc chắn, đanh thép của một dân tộc đủ bản lĩnh đứng lên, kiên quyết giành và giữ vững độc lập của mình.

Thứ ba, tư tưởng về phát huy ý chí, nguồn lực của dân tộc trong giữ vững độc lập dân tộc

Tư tưởng về phát huy ý chí, nguồn lực của dân tộc trong giữ vững độc lập dân tộc của Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập thể hiện ở những nội dung cơ bản: (1) Toàn thể dân tộc Việt Nam nhất quán, kiên quyết, một lòng đấu tranh lật đổ mọi âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp nhằm tái chiếm Việt Nam. “Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng quyết liệt chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp”(15). Đây là cơ sở tinh thần, thống nhất nhận thức và hành động của cả dân tộc nhằm làm thất bại âm mưu xâm lược, thôn tính của chủ nghĩa thực dân; (2) Quyết tâm huy động mọi nguồn lực của dân tộc, từ tinh thần đến vật chất, từ của cải đến tính mạng con người để bảo vệ, giữ vững quyền tự do, độc lập của dân tộc.

2.2. Vận dụng ý chí tự lực, tự cường trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 trong tình hình hiện nay

Nội dung cơ bản của ý chí tự lực, tự cường trong bản Tuyên ngôn mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, đồng thời hàm chứa những ý nghĩa thời đại, có sức sống và tính thời sự đối với Việt Nam hiện nay. Việc vận dụng sáng tạo trong bối cảnh quốc tế đang có nhiều biến động, thời cơ và thách thức đan xen là yêu cầu cấp thiết để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Một là, ý chí tự lực, tự cường trong Tuyên ngôn Độc lập là tiền đề lý luận của việc khơi dậy khát vọng phát triển Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, phát huy nội lực dân tộc nhằm nâng cao vị thế của quốc gia, dân tộc

Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là một trong điểm mới và là điểm nhấn của Đại hội XIII của Đảng. Nội dung này được trình bày như một thành tố cấu thành chủ đề Đại hội. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trở thành một động lực, nguồn lực trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới. Đại hội XIII nhấn mạnh: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(16). Một dân tộc muốn phát triển cần phải có khát vọng, ý chí phát triển. Với mục tiêu “Đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao”(17), Việt Nam cần khơi dậy khát vọng, ý chí phát triển đất nước trong tất cả các giai tầng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần phát huy nội lực dân tộc. Đó là việc khơi dậy, phát huy lực lượng, nguồn lực vật chất, tinh thần, con người trong tất cả các tầng lớp nhân dân.

Vận dụng ý chí tự lực, tự cường trong Tuyên ngôn Độc lập trong khơi dậy khát vọng phát triển Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, cần:

(1) Phát huy nội lực, ý chí, khát vọng của các giai tầng trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Xác định các nguồn lực tinh thần, yếu tố cấu thành ý chí tự lực, tự cường, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước. “Tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc”(18). Đồng thời, hoàn thiện thể chế phát triển, đường lối, cơ chế, chính sách nhằm khơi dậy tinh thần cống hiến của các tầng lớp nhân dân. “Phát huy có hiệu quả giá trị văn hóa và tinh thần cống hiến của con người Việt Nam(19) … Trong đó, chú trọng nguồn lực con người, “phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước”(20).

(2) Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế, nhằm nâng cao sức mạnh, vị thế của quốc gia, việc tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế là nội dung quan trọng, cần thiết, có quan hệ hữu cơ với ý chí tự lực, tự cường. Trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã khéo léo, tinh tế trong viện dẫn các Tuyên ngôn của Hoa Kỳ, Pháp nhằm tạo cơ sở pháp lý, thực tiễn vững chắc cho ý chí tự lực, tự cường. Đây cũng là cơ sở để tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới cho nền độc lập dân tộc của Việt Nam. Quá trình phát triển đất nước hiện nay, cần tổ chức hiệu quả công tác đối ngoại, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ các nước trên thế giới, góp phần nâng cao vị thế, uy tín Việt Nam. Từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đến nay, Đảng xác định: “…kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế”(21); “tranh thủ và phát huy tối đa cơ hội từ các khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện… phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể”(22).

Hai là, kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phát huy tính tự lực, tự cường, sức mạnh của dân tộc trên tất cả các lĩnh vực

Một nội hàm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường thể hiện ở Tuyên ngôn Độc lập là tư tưởng về độc lập, tự chủ. Độc lập, tự chủ vừa là một bài học kinh nghiệm quý báu vừa là một triết lý hành động của Hồ Chí Minh, có giá trị, ý nghĩa sâu sắc đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay. Đó là độc lập, tự chủ trong tư duy, hành động; độc lập, tự chủ trong việc lựa chọn con đường phát triển của quốc gia dân tộc. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển, phản ánh tính quy luật trong sự vận động của cách mạng Việt Nam. Ý chí tự lực, tự cường không thể tách rời nội dung hiện thực này. Độc lập dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội là quy luật của lịch sử, phù hợp với mong muốn và khát vọng của nhân loại về một xã hội vì con người. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ bài học kinh nghiệm đầu tiên của Đảng về lãnh đạo cách mạng Việt Nam là: “Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc”(23).

Kiên định, hiện thực hóa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội phải đồng thời với việc phát huy nội lực dân tộc. Hồ Chí Minh đã nói: “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”(24). Do đó, không thể hiện thực hóa ý chí tự lực, tự cường dân tộc nếu không phát huy nội lực của dân tộc. Không có sức mạnh từ bên trong thì không thể nói đến độc lập, tự chủ, tự quyết. Phát huy tính tự lực, tự cường, sức mạnh toàn dân tộc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội là kết quả, đồng thời là cách thức của ý chí tự lực, tự cường; trở thành nhu cầu tất yếu, cần thiết trong phát triển Việt Nam hùng cường theo quan điểm của Hồ Chí Minh. Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại”(25).

Ba là, kiên quyết bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển

Tuyên ngôn Độc lập là lời khẳng định trang trọng của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước quốc tế về ý chí kiên quyết giữ vững độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Việc bảo vệ nền độc lập không chỉ là nhiệm vụ thiêng liêng mà còn điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa tinh thần tự lực, tự cường của dân tộc. Trong bối cảnh thế giới đang có những biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường, từ chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chiến tranh thương mại, xung đột sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh cục bộ, tranh chấp lãnh thổ cho đến sự điều chỉnh chiến lược của các cường quốc và nhiều vấn đề an ninh toàn cầu, môi trường kinh tế, chính trị thế giới chịu nhiều tác động sâu sắc. Tình hình đó đã đặt ra yêu cầu phải kiên định giữ vững độc lập dân tộc và tăng cường quốc phòng - an ninh để bảo vệ Tổ quốc và bảo đảm an ninh quốc gia trong mọi hoàn cảnh.

Đại hội XIII của Đảng nhận định bối cảnh thế giới và trong nước vừa có những thuận lợi - khó khăn, thời cơ - thách thức đan xen đặt ra những yêu cầu mới phức tạp đối với nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trong điều kiện đó, yêu cầu đặt ra là Đảng cần tiếp tục đổi mới tư duy và quyết tâm hành động nhằm nâng cao năng lực dự báo và thích ứng với những biến động của thời cuộc. Từ đó, Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng yêu cầu “tự chủ về chiến lược”, “tăng cường tiềm lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia”(26) trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc để đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Trong tiến trình xây dựng, phát triển và đổi mới đất nước, ý chí tự lực, tự cường không chỉ thể hiện ở quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc mà còn bao hàm cả sự kiên định giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển. Độc lập dân tộc là nền tảng cho sự ổn định, ổn định là tiền đề để đổi mới, đổi mới là phương thức thúc đẩy sự phát triển. Quá trình đổi mới và phát triển lại góp phần vun đắp nguồn lực và củng cố sức mạnh nội sinh của dân tộc. Chính nội lực đó trở thành điểm tựa quan trọng để giữ vững độc lập dân tộc trong bối cảnh thế giới có những chuyển biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường hơn bao giờ hết. Điều này đã được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định qua các kỳ đại hội từ Đại hội XI (năm 2011), Đại hội XII (năm 2016), Đại hội XIII (năm 2021) với khẩu hiệu: “ổn định, đổi mới và phát triển”, đây là một trong các mối quan hệ lớn, phản ánh tính quy luật, biện chứng, cốt lõi của sự nghiệp đổi mới. Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng tiếp tục quán triệt thực hiện mối quan hệ này và đồng thời xác định mục tiêu tiếp tục “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống của nhân dân; tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc”(27).

Bốn là, quyết tâm nỗ lực thực hiện đạt được mục tiêu

Tuyên ngôn Độc lập vừa khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam vừa thể hiện quyết tâm “sắt đá” bảo vệ thành quả cách mạng do toàn Đảng, toàn dân, toàn quân gây dựng. Lời tuyên bố mang tính lịch trong bản Tuyên ngôn như một lời thề thiêng liêng, vang dội khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của nhân dân, đồng thời khẳng định sức mạnh và ý chí tự lực, tự cường của Việt Nam trong việc gìn giữ nền độc lập dân tộc.

Ngày nay, với sự nỗ lực phấn đấu không ngừng, ý chí tự lực, tự cường cùng quyết tâm vượt qua khó khăn, thử thách và khát vọng vươn lên, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn dù vẫn còn những khó khăn cần khắc phục và vượt qua. Do đó, với quyết tâm vì một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần nỗ lực hơn nữa, phát huy ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển hướng tới đạt được mục tiêu tổng quát mà Đại hội XIII đề ra: “…phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa(28).

3. Kết luận

Trong kỷ nguyên phát triển mới, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục đặt trọng tâm vào việc phát huy ý chí tự lực, tự cường cùng sức mạnh tổng hợp và toàn diện của dân tộc, hướng tới mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc. Ý chí tự lực, tự cường được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong Tuyên ngôn Độc lập chính là kim chỉ nam cho tinh thần của dân tộc, là di sản quý báu vừa có giá trị lý luận, vừa mang tính thực tiễn cao trong việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Từ đó, bài học lớn được quán triệt sâu sắc: kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, phát huy tối đa sức mạnh nội sinh của dân tộc trên mọi lĩnh vực; kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển, đưa Việt Nam vững bước trên con đường tiến tới thịnh vượng, hội nhập và hiện đại hóa toàn diện.

_________________

Ngày nhận bài: 25-8-2025; Ngày bình duyệt: 13-12-2025; Ngày duyệt đăng: 10-02-2026.

Email của tác giả: phungana81@gmail.com

(1) Viện Ngôn ngữ học: Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2003.

(2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (14), (15), (24) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.3, 1, 1, 1, 1, 1, 1, 2, 2, 2, 3, 3, 3.

(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Sđd, tr.138.

(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, Sđd, tr.511.

(16), (17), (18), (28) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.34, 36, 47, 14.

(19) (20), (22), (26), (27) ĐCSVN: Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng (tài liệu sử dụng tại Đại hội Đảng bộ các cấp), Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2025, tr.28, 49-50, 38, 20-35, 21.

(21), (23), (25) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.66, 65, 66.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Ý chí tự lực, tự cường trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và sự vận dụng trong kỷ nguyên phát triển mới
    POWERED BY