Tóm tắt: Bài viết tập trung luận giải tính tất yếu phát triển phương thức sản xuất số ở Việt Nam như sự biến đổi mang tính cấu trúc của lực lượng sản xuất và cách thức tổ chức sản xuất trong bối cảnh số hóa phương thức tổ chức sản xuất số. Những biến đổi này diễn ra chủ yếu ở cấp độ công nghệ, dữ liệu, nền tảng và lao động số, trong khi quan hệ sở hữu, phân phối vận hành trong khuôn khổ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên nền tảng đó, bài viết làm rõ phương thức tổ chức sản xuất số như một tất yếu của kỷ nguyên số và là điều kiện quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.
ThS NGUYỄN THÀNH CÔNG
Nghiên cứu sinh Học viện Khoa học xã hội,
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

1. Mở đầu
Cuộc cách mạng số đang tạo ra những biến đổi mang tính cấu trúc sâu sắc đối với quá trình sản xuất xã hội. Công nghệ số, dữ liệu và các nền tảng số không chỉ đổi mới công cụ lao động hay nâng cao năng suất, mà còn làm thay đổi đồng thời các yếu tố nền tảng của quá trình sản xuất, bao gồm tư liệu sản xuất, tổ chức lao động, quan hệ sở hữu và cơ chế phân phối giá trị. Những biến đổi này cho thấy số hóa không dừng lại ở việc cải tiến kỹ thuật hay cách thức quản lý, mà đang tác động trực tiếp đến cách thức tổ chức sản xuất của xã hội.
Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số cần được nhìn nhận như một quá trình có khả năng tạo ra sự chuyển hóa về chất của nền sản xuất xã hội, đặt ra yêu cầu phải nhận diện đúng “tính phương thức” của những biến đổi đang diễn ra. “Tính phương thức” ở đây được hiểu là sự biến đổi ở cấp độ cấu trúc của toàn bộ quá trình sản xuất xã hội, trong đó lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thay đổi và tái cấu trúc một cách đồng thời. Cụ thể, tư liệu sản xuất ngày càng dịch chuyển sang dữ liệu, hạ tầng số, nền tảng và thuật toán; lao động chuyển mạnh sang lao động số, lao động nền tảng và lao động dựa trên tri thức; trong khi đó, quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất cũng vận hành theo những logic mới của không gian số.
Ở Việt Nam, chuyển đổi số và phát triển kinh tế số đã được xác lập như một định hướng chiến lược gắn với mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu hiện nay vẫn tiếp cận kinh tế số chủ yếu như một lĩnh vực tăng trưởng hoặc một tập hợp các ngành và dịch vụ dựa trên công nghệ số, trong khi chưa làm rõ đầy đủ sự biến đổi cách thức tổ chức của quá trình sản xuất xã hội dưới tác động của số hóa. Khoảng trống này khiến việc luận giải tính tất yếu của phát triển phương thức sản xuất số ở Việt Nam có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Trên cơ sở đó, bài viết tập trung làm rõ phát triển phương thức sản xuất số ở Việt Nam hiện nay là một tất yếu khách quan. Bằng cách tiếp cận kinh tế chính trị học của C.Mác, bài viết luận giải tính tất yếu này trên hai phương diện: (i) yêu cầu phát triển của phương thức sản xuất trong kỷ nguyên số; và (ii) yêu cầu hình thành nền tảng kinh tế - xã hội mới nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm lợi ích quốc gia trong không gian số. Qua đó, bài viết góp phần bổ sung cơ sở lý luận cho việc nhận diện đúng tính chất và yêu cầu của quá trình số hóa ở Việt Nam hiện nay.
2. Nội dung
2.1. Một số vấn đề chung về phương thức sản xuất số
Trong kỷ nguyên số, sự xuất hiện và thâm nhập sâu rộng của hạ tầng số, dữ liệu và công nghệ số vào hoạt động sản xuất cũng như đời sống xã hội đang tái cấu trúc lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất truyền thống, qua đó hình thành phương thức tổ chức sản xuất mới - phương thức sản xuất số. Theo Benkler, phương thức này mang tính chất “phi tập trung một cách triệt để, hợp tác và không mang tính sở hữu độc quyền; được xây dựng trên cơ sở chia sẻ các nguồn lực và sản phẩm đầu ra giữa những cá nhân phân tán rộng rãi, liên kết lỏng lẻo, những người hợp tác với nhau mà không dựa vào các tín hiệu của thị trường hay mệnh lệnh quản lý”(1). Do đó, việc nghiên cứu những biến đổi do công nghệ số mang lại cần được đặt trong khuôn khổ phân tích phương thức tổ chức sản xuất, thay vì chỉ tiếp cận ở cấp độ công cụ hay ngành kinh tế.
Có thể thấy, trong nền sản xuất số, lực lượng sản xuất, hay cụ thể hơn là yếu tố tư liệu sản xuất có sự chuyển dịch cốt lõi, với công cụ và đối tượng lao động chuyển từ máy móc cơ khí truyền thống sang hạ tầng mạng, dữ liệu, công nghệ số. Trong khi đó, lực lượng lao động trong sản xuất số cũng sở hữu trình độ tiến bộ hơn với những kiến thức và kỹ năng chuyên biệt, cùng khả năng khai thác, sử dụng tài nguyên số sâu rộng.
Về lực lượng sản xuất số
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và sức lao động phục vụ cho sản xuất, hay chính là lực lượng lao động. Trong kỷ nguyên số, lực lượng sản xuất số được hiểu là tổng thể các yếu tố vật chất và phi vật chất tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất dựa trên nền tảng công nghệ số và dữ liệu, bao gồm người lao động với tri thức và kỹ năng số, tư liệu sản xuất số (công nghệ số, dữ liệu, thuật toán, nền tảng số, hạ tầng số) và trình độ tổ chức, khai thác các yếu tố đó trong quá trình sản xuất xã hội.
Về khía cạnh tư liệu sản xuất, nghiên cứu của Nick Srnicek trong Chủ nghĩa tư bản nền tảng (Platform Capitalism) chỉ ra rằng, dữ liệu chính là tư liệu sản xuất mới nảy sinh trong quá trình phát triển công nghệ của thế kỷ XX(2). Đồng quan điểm với Srnicek, Yiming và cộng sự nhận định, dữ liệu đã trở thành một loại tư liệu sản xuất mới có tác động sâu sắc đến toàn bộ hệ thống kinh tế trong kỷ nguyên số, là tài sản thiết yếu của hoạt động sản xuất kinh doanh và là phương tiện quan trọng để dựa vào đó doanh nghiệp phân tích và khai thác nhằm đưa ra quyết định kinh doanh và kế hoạch sản xuất(3). Theo Metternich, không chỉ công nghệ số đang được sử dụng để hoàn thiện các quy trình sản xuất, máy móc, thiết bị và hệ thống, mà cả dữ liệu lớn (Big data) cũng đang được gia tăng sử dụng trên nền tảng các công nghệ số như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI) hay học máy (ML), mở ra các lĩnh vực ứng dụng mới cho các ngành sản xuất công nghiệp(4).
Các quan điểm trên cho thấy, dữ liệu và các công nghệ số đã trở thành công cụ cốt lõi để tối ưu hóa và tái cấu trúc các quy trình sản xuất vật chất, thậm chí hình thành các mô hình sản xuất và sản phẩm mới, trở thành tư liệu sản xuất quan trọng kiến tạo nên nền kinh tế số.
Bên cạnh đó, không gian số cũng tạo ra những biến đổi sâu sắc cho nguồn lực lao động khi: lực lượng lao động chuyển từ lao động công nghiệp sang lao động mang tính thông tin; tri thức và trí tuệ tập thể trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của xã hội; và nguồn động lực tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế số dịch chuyển từ tư bản công nghiệp sang tư bản trí tuệ(5).
Như vậy, trong kỷ nguyên số, lực lượng sản xuất không chỉ mở rộng về mặt công cụ lao động, mà còn chuyển dịch về chất. Dữ liệu và công nghệ số không còn là yếu tố hỗ trợ, mà trở thành tư liệu sản xuất đặc biệt, giữ vai trò ngày càng quyết định đối với năng suất, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Đồng thời, người lao động không chỉ được đánh giá bằng sức lao động giản đơn, mà chủ yếu bằng trình độ tri thức, kỹ năng số và năng lực sáng tạo. Sự kết hợp giữa con người - dữ liệu - công nghệ - hạ tầng số tạo nên cấu trúc mới của lực lượng sản xuất, đặt ra yêu cầu tương ứng đối với việc điều chỉnh quan hệ sản xuất và thể chế kinh tế - xã hội.
Về quan hệ sản xuất số
Trên cơ sở lý luận của Mác về phương thức sản xuất và thông qua nghiên cứu thực nghiệm trường hợp của các tập đoàn công nghệ lớn ở phương Tây như Facebook và Google, Azhar (2017) cho rằng dù có những khác biệt về hình thức (lao động “phi vật chất”, sản phẩm vô hình), bản chất của sản xuất số vẫn là sản xuất tư bản chủ nghĩa, tuân theo lôgíc tích lũy giá trị thặng dư thông qua bóc lột lao động, và “không gian số là không gian mới để tư bản bóc lột sức lao động”(6). Nghiên cứu của Azhar cho thấy, phương thức sản xuất số đã được kiến tạo dựa trên quan hệ sản xuất mới xoay quanh quyền sở hữu và kiểm soát dữ liệu và nền tảng số - tư liệu sản xuất chính trong kỷ nguyên số.
Nghiên cứu của Yiming và cộng sự (2025) đã chỉ ra rằng, kinh tế số đã “tạo ra cơ chế mới cho sự phát triển và biến đổi của quan hệ sản xuất khác với mô hình truyền thống”(7). Cụ thể, trong kỷ nguyên số “có sự gia tăng mức độ cấu trúc và phối hợp của nhiều thành phần sản xuất […] với phạm vi rộng hơn đáng kể”(8), cho thấy quan hệ sản xuất số tích hợp nhiều nhân tố mới và phối hợp rộng hơn trong sản xuất so với quan hệ sản xuất truyền thống. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng nhận định, quan hệ lao động trong quan hệ sản xuất số có thể phát sinh vượt qua khỏi giới hạn không gian vật lý nhờ dữ liệu và tính chất xuyên biên giới của nền tảng không gian mạng, cho thấy cách thức tổ chức và tương tác lao động cũng có biến đổi nhất định, trở nên linh hoạt và đa dạng hơn, đồng thời mở rộng phạm vi tương tác sản xuất và thị trường(9).
Có thể thấy, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã làm xuất hiện những yếu tố mới trong lực lượng sản xuất, trong đó dữ liệu, công nghệ số và các nền tảng số ngày càng có vai trò trung tâm, không chỉ nâng cao năng suất lao động mà còn thay đổi cách thức tổ chức sản xuất, phân công lao động và kết nối các chủ thể kinh tế. Sản xuất dựa trên nền tảng, sản xuất theo hệ sinh thái số và lao động nền tảng là những biểu hiện tiêu biểu của sự biến đổi đó, cho thấy quá trình số hóa đang vượt ra khỏi phạm vi ứng dụng kỹ thuật để trở thành động lực tái cấu trúc phương thức sản xuất.
Trong quá trình đó, Nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Với tư cách là chủ thể quyền lực chính trị, Nhà nước không chỉ tác động gián tiếp thông qua môi trường pháp lý, mà còn tham gia trực tiếp vào việc định hình điều kiện vận hành của phương thức tổ chức sản xuất mới. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nơi Nhà nước vừa thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa định hướng và điều tiết quan hệ sản xuất nhằm bảo đảm mục tiêu phát triển bao trùm và bền vững.
Trong bối cảnh thực hiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất không chỉ kế thừa các hình thức quan hệ sản xuất truyền thống, mà còn biến đổi sâu sắc về nội dung và cơ chế vận hành. Quan hệ lao động chuyển dịch từ mô hình lao động ổn định, tập trung sang các hình thức lao động nền tảng, lao động linh hoạt và lao động số. Những biến đổi này làm cho quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất số vừa mang tính kế thừa, vừa mang tính mới, đặt ra yêu cầu phải được điều chỉnh và hoàn thiện thông qua thể chế và chính sách công, đặc biệt là vai trò kiến tạo và điều tiết của Nhà nước.
2.2. Phát triển phương thức tổ chức sản xuất số gắn với vai trò của Nhà nước
Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “trong mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thì lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định sự phát triển của quan hệ sản xuất, quan hệ sản xuất phải không ngừng được điều chỉnh để phù hợp với trình độ ngày càng cao của lực lượng sản xuất”(11). Quan điểm này phản ánh một cách cô đọng và nhất quán cách tiếp cận kinh tế chính trị học Mác - Lênin trong việc lý giải những biến đổi mang tính cấu trúc của nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Điểm cốt lõi trong lập luận này là việc đặt sự phát triển của kinh tế số và công cụ sản xuất số vào mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, coi đây là trục phân tích trung tâm để nhận diện những mâu thuẫn mới của phương thức tổ chức sản xuất số hiện nay.
Cách tiếp cận này được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó xác định: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”(12).
Qua đó có thể thấy, trong nhận thức lý luận và chỉ đạo thực tiễn của Đảng, không nhìn nhận chuyển đổi số như một lĩnh vực hay chương trình phát triển đơn lẻ, mà được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và phương thức quản trị quốc gia, từ đó khẳng định vai trò chủ thể kiến tạo và điều tiết của Nhà nước trong quá trình hình thành và phát triển phương thức sản xuất số ở Việt Nam.
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế không chỉ là quá trình mở rộng thị trường, mà còn là xụ thế tất yếu, tạo sức ép trực tiếp thúc đẩy nền kinh tế phải nâng cao năng lực cạnh tranh dựa trên trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại, đặc biệt là công nghệ số, dữ liệu và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất mới thì cách thức tổ chức sản xuất vốn được thiết kế cho phương thức sản xuất công nghiệp truyền thống không thích ứng được với sản xuất dựa trên nền tảng số, dữ liệu và tri thức. Sự mâu thuẫn tất yếu này không chỉ là tiền đề và động lực hình thành phương thức tổ chức sản xuất mới mà ngược lại cũng đặt ra yêu cầu thay đổi căn bản cách thức tổ chức sản xuất và quản lý xã hội. Phương thức sản xuất số cần có sự điều chỉnh của các thiết chế xã hội, trước hết là vai trò kiến tạo và điều tiết của Nhà nước.
Khoảng cách giữa yêu cầu của chuyển đổi số và chất lượng nguồn nhân lực hiện nay cho thấy một điểm nghẽn: lực lượng sản xuất tuy đang hình thành nhanh về mặt công nghệ, nhưng chưa phát triển tương xứng về yếu tố con người, làm giảm hiệu quả và tính bền vững của quá trình chuyển đổi. Trong bối cảnh đó, “chính sự thay đổi mạnh mẽ của các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất mới đòi hỏi những biến đổi tương ứng không thể chậm trễ đối với lao động; xét đến cùng, trong lực lượng sản xuất của xã hội thì nguồn lực con người là quan trọng nhất”(13). Cách tiếp cận này nhấn mạnh rằng trong chuyển đổi số, lao động không chỉ là yếu tố bị tác động, mà trở thành bộ phận cấu thành trực tiếp của lực lượng sản xuất mới. Vì vậy, việc phát triển nguồn nhân lực tương xứng với yêu cầu của lực lượng sản xuất số là điều kiện mang tính cấu trúc đối với sự vận hành và phát triển bền vững.
Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu phải “thực hiện cách mạng chuyển đổi số với những cải cách mạnh mẽ, toàn diện để điều chỉnh quan hệ sản xuất, tạo động lực mới cho phát triển, tranh thủ tối đa thời cơ do Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại, đưa đất nước đi tắt đón đầu phát triển vượt bậc”(14).
2.3. Phát triển phương thức tổ chức sản xuất số đối với việc hiện thực hóa kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Chuyển đổi số là trụ cột của kỷ nguyên vươn mình. Trong lịch sử nhân loại, các kỷ nguyên lớn luôn gắn với sự thay đổi phương thức sản xuất, như: kỷ nguyên công nghiệp gắn với phương thức sản xuất công nghiệp; và trong bối cảnh hiện nay, kỷ nguyên kỹ thuật số gắn với phương thức sản xuất số. Vì vậy, kỷ nguyên vươn mình của Việt Nam không thể chỉ được hiểu như một giai đoạn tăng tốc về tăng trưởng, mà phải được nhận diện là một giai đoạn chuyển hóa về chất của phương thức sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất số và quan hệ sản xuất số giữ vai trò trung tâm.
Kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, được đặc trưng bởi sự chuyển động mạnh mẽ, dứt khoát, dựa trên nội lực, tự chủ và sáng tạo, đồng thời biết tranh thủ tối đa sức mạnh của thời đại. Xét từ góc độ kinh tế chính trị học, những đặc trưng đó không thể được hiện thực hóa nếu nền kinh tế vẫn chủ yếu dựa trên lao động giản đơn, khai thác tài nguyên và tích lũy vốn theo chiều rộng. Chỉ khi lực lượng sản xuất được nâng cấp trên nền tảng chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo thì nền kinh tế mới có khả năng vượt qua bẫy thu nhập trung bình, nâng cao năng suất xã hội và hình thành năng lực cạnh tranh quốc gia bền vững. Theo nghĩa đó, kinh tế số chính là hình thức vật chất - kinh tế của khát vọng vươn mình, là nền tảng hiện thực để chuyển hóa ý chí chính trị thành năng lực phát triển thực tế.
Kinh tế số gắn trực tiếp với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”. Trong kỷ nguyên mới, đích đến là xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Từ góc độ phương thức sản xuất, những mục tiêu đó chỉ có thể đạt được khi phương thức sản xuất số được hình thành và phát triển theo định hướng phù hợp đó là mở rộng không gian làm giàu hợp pháp cho người dân thông qua kinh tế nền tảng, kinh tế sáng tạo và lao động số. Đồng thời, tạo điều kiện để Nhà nước thiết kế lại các cơ chế phân phối, điều tiết và bảo vệ lợi ích công cộng trong không gian số, hạn chế bất bình đẳng và nguy cơ lệ thuộc nền tảng. Vì vậy, phát triển kinh tế số không chỉ phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế, mà còn là điều kiện kinh tế - xã hội quan trọng để hiện thực hóa bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh mới.
Vai trò của Nhà nước trong định hình phương thức sản xuất số gắn với kiến tạo kỷ nguyên phát triển mới. Việc nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng, tức lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng, bao gồm thể chế, quản trị và phương thức thực thi quyền lực cho thấy kỷ nguyên mới không thể hình thành một cách tự phát từ thị trường hay công nghệ, mà đòi hỏi vai trò kiến tạo có ý thức của Nhà nước trong điều chỉnh quan hệ sản xuất cho phù hợp với lực lượng sản xuất số, tái cấu trúc phương thức quản trị xã hội và bảo đảm chủ quyền số, an ninh dữ liệu và lợi ích quốc gia.
Kỷ nguyên mới đòi hỏi nền sản xuất hiện đại không chỉ mạnh về năng suất mà còn vững về khả năng tự chủ chiến lược. Trong phương thức sản xuất số, dữ liệu, nền tảng và thuật toán vừa là tư liệu sản xuất quan trọng, vừa là không gian định hình lợi ích quốc gia, vì vậy bảo đảm chủ quyền số trở thành điều kiện để Nhà nước thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, bền vững và đúng định hướng. Theo nghĩa đó, phát triển phương thức sản xuất số phải đồng thời là quá trình tăng cường năng lực tự chủ số của quốc gia, nhằm bảo vệ lợi ích công cộng và hạn chế các rủi ro lệ thuộc trong không gian số.
Như vậy, phương thức sản xuất số không chỉ là kết quả tất yếu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, mà còn là nền tảng kinh tế - xã hội mang tính quyết định đối với việc hiện thực hóa kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Thông qua việc hình thành và phát triển phương thức sản xuất số dưới sự lãnh đạo của Đảng và vai trò kiến tạo của Nhà nước, khát vọng phát triển được chuyển hóa thành năng lực sản xuất hiện đại, tạo cơ sở vững chắc để đất nước phát triển nhanh, bền vững và đúng định hướng trong giai đoạn mới.
3. Kết luận
Đại hội XIV của Đảng đã xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên bốn trụ cột: “Kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực trung tâm của phát triển”(15). Mô hình này phản ánh một bước chuyển mang tính cách mạng trong tư duy phát triển, khi tăng trưởng không còn được đặt chủ yếu trên nền tảng khai thác tài nguyên, lao động giản đơn và tích lũy vốn theo chiều rộng, mà ngày càng dựa trên tri thức, dữ liệu, công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo.
Trong bối cảnh đó, phát triển phương thức sản xuất số ở Việt Nam là một tất yếu của kỷ nguyên số, được quy định bởi sự biến đổi nhanh chóng của lực lượng sản xuất dựa trên dữ liệu, công nghệ và tri thức. Tính tất yếu này không chỉ xuất phát từ quy luật vận động nội tại của phương thức sản xuất, mà còn gắn trực tiếp với yêu cầu hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm chủ quyền quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Vấn đề cốt lõi đặt ra không phải là có hay không chuyển đổi số, mà là khả năng tổ chức sự thích ứng một cách chủ động của quan hệ sản xuất và thể chế phát triển cho phù hợp với trình độ mới của lực lượng sản xuất số. Khi quan hệ sản xuất và thể chế không theo kịp, chúng sẽ trở thành lực cản đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại; ngược lại, nếu được điều chỉnh kịp thời và đúng hướng, chúng sẽ trở thành động lực giải phóng và phát huy tối đa tiềm năng của nền sản xuất số.
Như vậy, phát triển phương thức sản xuất số không chỉ là yêu cầu kinh tế - xã hội, mà là vấn đề mang tính chiến lược về thể chế, trong đó Nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng với tư cách là chủ thể kiến tạo, điều tiết và định hướng quá trình điều chỉnh quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất số. Thông qua việc định hình và phát triển phương thức sản xuất số dưới sự lãnh đạo của Đảng và vai trò kiến tạo của Nhà nước, Việt Nam có điều kiện chuyển hóa khát vọng phát triển thành năng lực sản xuất hiện đại, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và đúng định hướng xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới.
_________________
Ngày nhận: 02-02-2026; Ngày bình duyệt: 12-02-2026; Ngày duyệt đăng:7-3-2026.
Email tác giả: congnguyenthanhyb@gmail.com
(1) Benkler, Yochai (2006): The Wealth of Networks: How Social Production Transforms Markets and Freedom, https://benkler.org, p.60.
(2) Srnicek, Nick, and Laurent de Sutter (2017): Platform Capitalism, https://mudancatecnologicaedinamicacapitalista.wordpress.com, p.48.
(3) Ni, Yiming, Yuheng Ren, and Yufan Li (2025): “Insights into the Trends of the Digital Economy: Changes and Developments in the Three Elements of Production”, Proceedings of the 4th International Conference on Business and Policy Studies, p.104.
(4) Metternich, J. and Kreß, A (2023) “Digital-based production: introduction and fields of application”, Prod. Eng. Res. Devel, p.179-183.
(5) Gasanov, E. A., T. G. Krasota, S. E. Gasanova, V. O. Lukoyanova, and A. I. Kagala (2023): “Imperatives of the Innovative Technological Mode of Production of the Digital Economy”, Vestnik Habarovsk State University of Economics and Law, https://sciup.org, p.13-15.
(6) Azhar, Shahram (2017): “The Fourth Industrial Revolution and Labour: A Marxian Theory of Digital Production”, Review of Socio-Economic Perspectives, p.121.
(7), (8), (9) Ni, Yiming, Yuheng Ren, and Yufan Li (2025) “Redefining the Meaning of Production Relations in the Context of the Digital Economy”, Advances in Economics, Management and Political Sciences, p.107, 109, 109.
(10), (11) Tô Lâm: Chuyển đổi số - động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, https://tapchicongsan.org.vn, ngày 02-9-2024.
(12) Bộ Chính trị: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 về Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
(13) Nguyễn Trọng Chuẩn: Lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, https://tapchicongsan.org.vn, ngày 11-11-2025.
(14) Tô Lâm: Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, https://tapchicongsan.org.vn, ngày 01-11-2024.
(15) ĐCSVN: Khai mạc đại hội XIV - Tổng Bí thư Tô Lâm báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam, https://baochinhphu.vn, ngày 20-01-2026.